Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Tình hình nhập khẩu thép phế liệu và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu của công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền
5
Trong Cơng ty cơng nghiệp tàu thủy Ngơ Quyền, người có thẩm quyền cao
nhất là Giám đốc điều hành. Vì đây là một đơn vị hạch tốn độc lập nên tùy thuộc
vào tình hình thực tế của Cơng ty mà Giám đốc đưa ra các quyết định cho phù hợp.
Giám đốc có tồn quyền chủ động quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của Cơng ty, với sự giúp việc của Phó giám đốc và bộ phận tham mưu giúp việc
trong 4 phòng hành chính nghiệp vụ. Giám đốc ra chỉ thị và truyền đạt thơng tin
trực tiếp xuống các phòng ban tham mưu, và các phòng ban tham mưu này lại
xuống các xưởng trực thuộc mình quản lý (xem sơ đồ 1).
3. Chức năng, nhiệm vụ của Cơng ty
Như đã trình bày ở trên, trong giai đoạn trước khi chuyển thành Cơng ty, với
chức năng là một Xưởng sản xuất thuộc Tổng cơng ty Vinashin, Xưởng chủ yếu tập
trung vào 2 nhiệm vụ chính do Tổng cơng ty giao cho, đó là: phá dỡ tàu cũ để lấy
thép phế liệu và sản xuất khí cơng nghiệp. Sau quyết định 94/1996- TCT của
Vinashin về “Thành lập Cơng ty cơng nghiệp tàu thủy Ngơ quyền” được Tổng
giám đốc ký và ban hành ngày 20/2/1996, Cơng ty cơng nghiệp tàu thuỷ Ngơ
Quyền đã và đang thực hiện tốt các chức năng sản xuất kinh doanh theo ngành
nghề được phép như sau:1. Đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ; 2.Sản xuất khí cơng
nghiệp để phục vụ cơng nghiệp trong tổng Cơng ty, trong ngành và tiêu thụ sản
phẩm cho nhu cầu thị trường; 3. Kinh doanh vật tư trang thiết bị cho các phương
tiện thuỷ; 4.Tổ chức thực hiện các dịch vụ hàng hải; 5.Nhập khẩu thép phế liệu
phục vụ cho ngành đóng tàu truyền thống của Tổng Cơng ty và đáp ứng nhu cầu
trong nước đối với mặt hàng này
Trong đó, Cơng ty đặc biệt chú trọng tới 2 hoạt động chính phù hợp với chức
năng và chun mơn của mình, đó là: Nhập khẩu thép phế liệu và sản xuất khí cơng
nghiệp. Doanh thu từ các hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu
của Cơng ty.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
SƠ ĐỒ 1: MƠ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CƠNG TY CNTT NGƠ QUYỀN
GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc sản xuất
Kế tốn trưởng, phòng
TK-TC, phòng KD
Phòng tổ chức hành
chính
Phòng kế hoạch
sản xuất
Bộ phận KD-
Dịch vụ – Vật
tư
Xưởng phá dỡ
tàu cũ
Xưởng ơxy
Điều hành mệnh lệnh
Thơng tin
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
II. TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU CỦA CƠNG TY
CƠNG NGHIỆP TÀU THỦY NGƠ QUYỀN
1. Quản lý Nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu thép phế liệu
Phù hợp với tình hình thực tế nước ta đang trong giai đoạn cất cánh, trước
năm 1998 cơng cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi số lượng thép lớn. Trong giai
đoạn này, thép là mặt hàng nhập khẩu quan trọng trong cơ cấu nhập khẩu của nước
ta vì đây là mặt hàng cần thiết cho nhiều ngành cơng nghiệp (đặc biệt là ngành
cơng nghiệp nặng), ngành xây dựng… Theo thống kê của Bộ cơng nghiệp: để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng thép trong nước thì cần phải nhập khẩu 70%.
Tuy nhiên, nhập khẩu khơng phải là biện pháp hiệu quả và lâu dài cho các
nền kinh tế nói chung. Vì vậy các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước đã đẩy
mạnh hoạt động sản xuất theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng và sản lượng
thép để đáp ứng nhu cầu trong nước thay cho nhập khẩu, và ngun liệu chính dùng
cho luyện thép là thép phế liệu nhập khẩu chứ khơng phải là quặng khai thác được
ở trong nước. Theo thống kê của Bộ cơng nghiệp hơn nửa lượng thép tiêu thụ trong
nứoc là từ sản xuất trong nước, một nửa còn lại là nhập khẩu, trong đó 80% thép
sản xuất trong nứơc là từ nguồn phơi nhập khẩu, trong số phơi thép sản xuất trong
nước lại phụ thuộc tới 70% ngun liệu nhập khẩu từ ngồi vào. Như vậy, Việt
Nam phụ thuộc q nhiều vào thị trường bên ngồi từ thép thành phẩm, bán thành
phẩm cho tới ngun liệu đầu vào cho sản xuất. Sang năm 1998, nhà nước ta đã
cho phép nhập khẩu thép phế liệu: Điều 3.5 của Thơng tư 01/1998- TM- XNK
(ngày 4/2/1998 Thơng tư về cơ chế điều hành xuất nhập khẩu ) có quy định “ Thép
phế liệu và thép phá dỡ tàu cũ khi nhập khẩu phải có ý kiến của Bộ cơng nghiệp”.
Việc cho phép nhập khẩu đã làm cho sản lượng thép phế liệu nhập khẩu vào nước
ta tăng mạnh ở giai đoạn sau: Theo thống kê của Cục hải quan 1998 là: trên 50000
tấn, 2000 là: 170000 tấn, đến năm 2002 là: 261389 tấn, và theo dự báo: nếu các lò
luyện kim cùng đưa vào hoạt động và ngành thép đạt cơng suất 2 triệu tấn phơi
thép/năm thì nhu cầu đối với thép phế liệu để phục vụ ngành luyện kim là rất lớn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Thưc trạng này đã biến Việt Nam từ một nước nhập khẩu phơi thép và thép thành
phẩm trở thành một thị trường nhập khẩu thép phế liệu để phục vụ cho sản xuất
phơi thép. Chính vì vậy, chỉ một trở ngại nhỏ cản trở thép phế liệu nhập khẩu vào
Việt Nam sẽ làm cho các lò luyện thép bị đình trệ vì đói ngun liệu. Để việc nhập
khẩu thép phế được tiến hành thuận lợi hơn , theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Sưa – Viện
trưởng Viện luyện kim đen: “ Nhà nước cần ban hành tiêu chuẩn về thép phế liệu
cũng như các văn bản pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản
xuất thép nhập khẩu thép phế liệu”
1
, theo ơng Phạm Chí Cường- Phó Chủ tịch
Hiệp hội Thép Việt Nam: “ Nhà nước cần nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn
chất lượng cho thép phế liệu nhập khẩu dựa trên tiêu chuẩn quốc tế thơng dụng”
2
.
Nhưng về phía Bộ tài ngun và mơi trường, ơng Nguyễn Khắc Kinh – Vụ trưởng
Vụ thẩm định và đánh giá tác động tài ngun mơi trường lại cho rằng: “Khơng thể
cứ nhập khẩu bừa thép phế liệu hoặc mua tàu cũ về phá dỡ tràn nan ở Việt Nam để
lấy thép phế. Việc thực hiện mục tiêu 1,5 triệu tấn phơi/ năm là cần thiết nhưng
khơng phải làm ra thép bằng mọi giá”
3
. Cũng theo ơng Kinh: “ năng lực xủ lý chất
thải của Việt Nam hiện còn q kém, nay lại để chất thải ngoại tràn vào thì Việt
Nam sớm trở thành bãi giác”
4
. Như vậy, nguy cơ đói ngun liệu cho ngành sản
xuất thép đang dần lộ diện bởi sự khập khễnh giữa tiêu chuẩn thép phế liệu của
Việt Nam với tiêu chuẩn Thế giới. Trong khi đó, giá thép trên thị trường thế giới có
những biến động mạnh (giá các ngun liệu cho luyện thép như: quặng, gang, thép
phế, than cốc ) giá phơi thép; giá thành phẩm thép xây dựng, thép tấm, lá liên
tục tăng.
Trước tình hình đó, các chun gia ngành thép cảnh báo sản lượng thép tồn
cầu sẽ sụt giảm hàng loạt sau những đợt ngun liệu đầu vào tăng chóng mặt.
Cung- cầu thép đang rơi vào tình trạng hỗn loạn, khơng có đủ cung để đáp ứng cầu
đang tăng q nhanh. Theo dự kiến, đến năm 2004, nhu cầu sẽ là 936triệu tấn, tăng
1, 2, 3, 4: "Ngành thép trước nguy cơ đói ngun liệu" - VIETNAM NET ngày 22 /10/2003
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
5% so với 2003 và sẽ tiếp tục tăng trong tương lai. Các chun gia ngành thép còn
cho biết ngun nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do Trung Quốc đang bước
vào xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản làm cho nhu cầu về thép tăng (2003 là 35 triệu
tấn phơi, trong đó nhu cầu trong nước là trên 25 triệu tấn). Ngồi ra, Mỹ đã xố bỏ
thuế nhập khẩu (thuế nhập khẩu= 0% ) đối với mặt hàng thép làm cho nhu cầu thép
của nước này cũng tăng mạnh. Đây là những ngun nhân chính gây lên sự biến
động lớn cho thị trường thép trên thế giới, vì Mỹ và Trung Quốc là 2 quốc gia lớn
và có tầm ảnh hưởng lớn đối với thị trường Thế giới.
Tình hình trong nước và thế giới như vậy đã gây nên sự biến động lớn về giá
thép ở Việt Nam: Đầu q I/2004 là 6,4-6,5 triệu/tấn thép, vậy mà đến cuối q I-
đầu q II/2004 đã là 8,5- 9,3 triệu/tấn. Chỉ trong một thời gian ngắn giá thép đã
tăng chóng mặt. Để bình ổn lại thị trường, Hiệp hội thépViệt Nam, Tổng Cơng ty
thép, tổ điều hành thị trường trong nước đã họp và kiến nghị với chính phủ 4 biện
pháp: 1.Thúc đẩy sản xuất phơi thép trong nước; 2.Tháo gỡ vấn đề nhập khẩu thép
phế liệu để sản xuất phơi; 3.Kiểm tra mạng luới phân phối để tránh đầu cơ; 4.Nhập
khẩu thép thành phẩm khi nguồn cung trong nứơc chưa đủ đáp ứng. Bộ cơng
nghiệp cũng có kiến nghị chính phủ sớm điều chỉnh các quy định về việc nhập khẩu
thép phế liệu theo hướng coi thép phế liệu là ngun liệu cơ bản của ngành thép.
Vì thép phế liệu là mặt hàng phế liệu, có ảnh hưởng tới mơi trường Việt
Nam, nên hoạt động nhập khẩu thép phế liệu vào nước ta sẽ do Bộ Tài ngun –
Mơi trường tồn quyền quản lý, trên cơ sở đó Bộ ra quyết định số 03/2004/QĐ-
BTN-MT ban hành ngày 02/04/2004 –“Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài ngun
mơi trường về việc ban hành quy định về bảo vệ mơi trường đối với phế liệu nhập
khẩu làm ngun liệu sản xuất”, theo Quyết định này: “Các cơ sở sản xuất thuộc
các ngành thép, giấy, thuỷ tinh và nhựa đều được nhập khẩu phế liệu về làm
ngun liệu sản xuất”. Quy định này nhằm giúp các doanh nghiệp chủ động có
nguồn ngn liệu giá rẻ hơn để phục vụ sản xuất thép làm giảm giá thành sản
phẩm. Tuy nhiên, khơng thể tiến hành nhập khẩu phế liệu bừa bãi, phế liệu nhập về
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
phải đảm bảo tiêu chuẩn sau: “khơng lẫn tạp chất nguy hại; khơng lẫn chất thải, trừ
tạp chất khơng nguy hại còn bám dính hoặc bị rời ra trong q trình vạn chuyển,
bốc xếp”. Quyết định này cũng quy định một số điều kiện đối với các doanh nghiệp
được phép nhập khẩu - chỉ những tổ chức, cá nhân có kho, bãi dành riêng cho việc
tập kết phế liệu nhập khẩu đảm bảo các điều kiện về mơi trường trong q trình lưu
giữ phế liệu nhập khẩu; có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập
khẩu mới được phép nhập khẩu phế liệu.
Như vậy, hoạt động nhập khẩu thép phế đã được các Bộ, Ngành có liên quan
quan tâm và tạo hành lang pháp lý thơng thống nhằm giúp các doanh nghiệp được
thuận lợi hơn khi tiến hành hoạt động kinh doanh này. Sẽ khơng có một trở ngại
q lớn nào về mặt pháp lý gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi tiến hành nhập
khẩu thép phế vào Việt Nam:
. Văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp và hiện hành đối với nhập khẩu thép
phế liệu của Nhà nước ta là Quyết định số 03/ 2004/QĐ- BTN- MT của Bộ tài
ngun mơi trường ban hành ngày 02/04/2004
. Thép phế liệu nằm trong danh mục những mặt hàng được phép nhập khẩu
theo quy định của Nhà nước.
. Hiện nay Nhà nước khơng có quy định hạn ngạch nhập khẩu đối với thép
phế.
. Thuế nhập khẩu thép phế liệu là 0%.
2. Kim ngạch nhập khẩu thép phế liệu của Cơng ty cơng nghiệp tàu
thủy Ngơ Quyền
2.1. Động cơ của hoạt động nhập khẩu thép phế liệu của Cơng ty cơng
nghiệp tàu thủy Ngơ Quyền
* Xuất phát từ nhu cầu thị trường
Sắt thép được coi là một trong những mặt hàng có tầm quan trọng chiến lược
trong cơng cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt ở nước ta hiện nay, trong sự nghiệp
cơng nghiệp hố- hiện đại hố, nhu cầu ngày càng cao đối với mặt hàng thép. Khi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
kinh tế – xã hội phát triển thì nhu cầu của con người đòi hỏi ngày càng cao, có thể
nói nhu cầu của con người là khơng giới hạn. Hiện nay, nước ta còn lạc hậu, kém
xa các nước trên thế giới (một phần là do bị chiến tranh tàn phá trong một thời gian
dài). Vì vậy, đất nước cần phải chuyển mình, đổi mới nền kinh tế - xã hội để bắt
kịp với xu thế phát triển của tồn thế giới. Nhưng để đạt được mục tiêu đó, vấn đề
cơ bản và cũng là nền tảng là phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để từ đó đặt
nền móng cho đất nước đi lên (như một ngơi nhà muốn vươn cao, vươn xa thì trước
hết phải tạo được móng nhà vững chắc). Trong đó sắt thép đóng vai trò quan trọng,
chiến lược trong sự nghiệp cách mạng cải cách cơ cấu kinh tế - xã hội của nhân dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhu cầu về thép ngày càng tăng, trong khi nền cơng
nghiệp khai thác quặng ở nước ta còn thấp kém chưa đủ để đáp ứng nhu cầu về
ngun liệu của ngành luyện kim. Hơn nữa, thị trường thép trên thế giới đang có sự
biến động mạnh (giá cả tăng chóng mặt) khiến cho giá nhập khẩu thép vào nước ta
cao. Trước tình hình đó, giải pháp trước mắt và cũng là lâu dài cho ngành thép ở
nước ta là : nhập khẩu thép phế liệu về để sản xuất phơi thép phục vụ cho ngành
luyện thép đáp ứng nhu cầu thép đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam.
*Đối với Cơng ty
Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu là phù hợp với đặc điểm kinh doanh của
Cơng ty- Ngành nghề truyền thống và cũng là xuất phát điểm của Cơng ty là nhập
khẩu tàu cũ về để đóng mới và sửa chữa phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
sang nước ngồi. Cùng với việc nhập khẩu tàu cũ từ nước ngồi về, thay vì vận
chuyển tàu khơng, Cơng ty vận chuyển thêm sắt thép phế nhập khẩu trên những
con tàu nhập khẩu đó, tránh sự lãng phí và tiết kiệm được chi phí nhập khẩu . Hơn
nữa, hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của Cơng ty cũng cần sử dụng lượng
sắt thép phế liệu lớn, do đó thay vì mua lại ở thị trường trong nước, Cơng ty nhập
khẩu trực tiếp thì giá sẽ thấp hơn.
Như vậy, hoạt động nhập khẩu thép phế liệu khơng chỉ giúp cho Cơng ty
tăng doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh mà còn đáp ứng kịp thời nhu cầu thị
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
trường góp phần bình ổn lại thị trường thép trong nước và cũng khơng trái với quy
định pháp luật Việt Nam.
2.2. Kim ngạch nhập khẩu thép phế liệu của Cơng ty cơng nghiệp tàu thủy
Ngơ Quyền
* Giai đoạn 1996 –1999
Như đã trình bày ở trên, tiền thân của Cơng ty cơng nghiệp tàu thủy Ngơ
Quyền là Xưởng phá dỡ tàu cũ và sản xuất khí cơng nghiệp thuộc Tổng cơng ty
Vinashin, với chức năng đó thì mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Xưởng đều
phải dựa trên chỉ tiêu, mệnh lệnh của Tơng cơng ty, chưa thực sự tự ý thức và phát
huy tối đa mọi tiềm năng có được để đạt hiệu quả cao. Sau khi có quyết định thành
lập Cơng ty cơng nghiệp tàu thủy Ngơ Quyền và trở thành một trong 29 đơn vị
hạch tốn độc lập, Cơng ty đã chủ động trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
đối với kết quả kinh doanh của mình. Cơng ty đã có nhiều đổi mới, phát huy tối đa
mọi nguồn lực có thể có để từng bước nâng cao chất lượng kinh doanh nói chung
và kinh doanh thép phế liệu nhập khẩu nói riêng.
Bảng 1. Sản lượng và kim ngạch nhập khẩu (KNNK) thép phế liệu của
Cơng ty giai đoạn 1996 – 1999
5
STT Năm Sảnlượng(tấn) KNNK(USD)
1 1996 1130 63000
2 1997 1350 77000
3 1998 2300 138000
4 1999 3050 189100
Bảng 1 cho thấy sản lượng và kim ngạch nhập khẩu của Cơng ty nhìn chung
tăng từ năm 1996 đến năm 1999. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này là khơng đều giữa
các năm: giai đoạn 1996 – 1997 tăng thấp - sản lượng tăng 20%, KNNK tăng 22%,
1997 – 1998 tăng mạnh - sản lượng tăng 70%, KNNK tăng 79%, 1998 – 1999 sản
5
Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu của Cơng ty giai đoạn 1996 - 1999
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
lượng tăng 33%, KNNK tăng 37%. Năm 1998 có sự tăng trưởng mạnh như vậy là
do Nhà nước đã cho phép nhập khẩu mặt hàng này và từ năm nay sản lượng nhập
khẩu vào Việt Nam nhìn chung tăng cao do nhu cầu ngun liệu cho ngành thép
lớn. Qua phân tích cũng cho thấy mức độ tăng sản lượng và KNNK khơng bằng
nhau- KNNK thường tăng cao hơn sản lượng trong cùng một thời kì, ngun nhân
chủ yếu là do giá thép phế liệu trên thị trường trong nước và Thế giới đang biến
động theo xu hướng ngày càng tăng.
Trong giai đoạn đầu thành lập, ngành kinh doanh “nhập khẩu thép phế liệu
của Cơng ty còn non trẻ, chủ yếu thực hiện theo phương thức “nhập khẩu tàu cũ về
phá dỡ để sản xuất sắt thép. Thực tế cho thấy, hoạt động kinh doanh “ thép phế liệu
nhập khẩu” trong giai đoạn này chưa thực sự làm ăn có hiệu quả, doanh thu thấp,
hình9thức kinh doanh còn manh mún, nhỏ bé, phân tán. Doanh thu từ hoạt động
kinh doanh này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu của Cơng ty, do đó chỉ
có thể được tính gộp vào là doanh thu chung của ngành “ phá dỡ tàu”.
* Ngun nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do:
1. Do mới thành lập nên vốn của Cơng ty còn hạn hẹp, nên khơng thể thực
hiện các hợp đồng lớn về nhập khẩu tàu cũ được, mà sản lượng thép phế liệu hồn
tồn dựa vào số lương tàu cũ nhập về để phá dỡ. Điều này dẫn đến sản lượng thép
phế liệu của Cơng ty thấp. Ngồi ra, mới thành lập cũng là ngun nhân tạo ra sự
bất lợi về thời gian và điều kiện gia nhập thị trường chưa đủ để tạo lập cho mình
một vị trí và chỗ đứng trên thị trường trong và ngồi nước. Vì vậy Cơng ty chưa
khẳng định được uy tín của mình, Điều này khiến cho cơng việc kinh doanh của
Cơng ty gặp rất nhiều khó khăn: khó khăn trong việc ký kết các hợp đồng nhập
khẩu tàu cũ (khó khăn trong khâu đầu vào), các doanh nghiệp trong nước còn ít biết
đến sự tồn tại của Cơng ty hoặc nếu có biết thì vẫn chưa có cơ sở để họ đặt niềm tin
để kí các hợp đồng mua sắt thép phế liệu của Cơng ty (khó về đầu ra).
2. Nhiệm vụ đóng tàu gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sản lượng thép phế liệu
thấp: Do từ sau khi Nhà nước cho phép các doanh nghiệp được phép phá dỡ tàu cũ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
để lấy sắt thép phế liệu, khiến cho ngày càng có nhiều doanh nghiệp phá dỡ tàu cũ
nên việc mua tàu cũ bị căng giá.
3. Việc làm thủ tục mua bán còn nhiều phiền tối, phụ phí cao, nhất là đối
với tàu cũ của nước ngồi. Nhiều khi bế tắc sản xuất do khâu thủ tục phải “qua”
nhiều “ cửa”, nhiều “dấu”, đối tác mất niềm tin, Cơng ty mất nguồn cung.
4. Mặt khác, lúc bấy giờ quy trình cơng nghệ phá dỡ tàu để sản xuất sắt thép
phế liệu còn rất xa lạ đối với Việt Nam. Các doanh nghiệp vừa tự sản xuất vừa tự
rút ra quy trình cơng nghệ sản xuất cho mình. Do vậy năng suất thấp, việc quản lý
lao động rất khó khăn, khó giao chỉ tiêu, khó đạt mức khốn, khó quản lý sản phẩm
và tài sản dễ dẫn đến lãng phí, hao hụt, mất mát
5. Giá phế liệu khơng ổn, do việc cung cấp sản phẩm khi thì dồn dập, khi thì
khan hiếm
6. Chất lượng cơng nhân viên làm việc chưa có chun mơn kĩ năng cao dẫn
đến năng suất lao động thấp, sản lượng thép phế liệu thấp.
Từ những ngun nhân trên dẫn đến việc kinh doanh “ thép phế liệu nhập
khẩu” nói riêng và hiệu quả kinh doanh của cả Cơng ty nói chung chưa cao. Tính
cho tới cuối năm 1999, doanh thu của cả ngành “phá dỡ tàu cũ” ước tính đạt trên
20 tỷ VNĐ.
Thực trạng trên đòi hỏi Cơng ty phải có sự đổi mới từ cơng tác tổ chức, quản
lý, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đổi mới cơng nghệ cho tới việc nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ cơng nhân viên trong Cơng ty.
* Giai đoạn 2000- 2004
Trước thực trạng làm ăn kém hiệu quả như vậy, Cơng ty đã phải sử dụng
nhiều biện pháp khác nhau để góp phần cải thiện lại tình hình. Trước hết phải kể
đến sự đổi mới trong phương thức kinh doanh: thay vì nhập khẩu thép phế liệu
hồn tồn dưới hình thức “ nhập khẩu tàu cũ về phá dỡ để sản xuất thép phế liệu”,
nay Cơng ty đã tiến hành nhập khẩu trực tiếp thơng qua thu mua thép phế liệu.
Điều này giúp cho sản lượng thép phế liệu mà Cơng ty nhập khẩu tăng cao.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét