6. Đối tượng nghiên cứu:
Khi đi vào nghiên cứu chúng ta cần biết đối tượng nghiên cứu của đề tài
này là: Xây dựng hệ thống trò chơi phục vụ các bài dạy ở chủ đề Tự nhiên
thuộc chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 2. Đối tượng thực nghiệm: Học
sinh và giáo viên trường Tiểu học Vĩnh Lợi.
7. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể
thiếu được các phương pháp nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp trong
nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này
chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp thu thập tài liệu:
Thông qua các giáo trình, tạp chí giáo dục và mạng internet chúng tôi
tiến hành thu thập, nghiên cứu, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra và hỏi ý kiến chuyên gia:
Điều tra thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 ở trường phổ thông. Sau mỗi tiết dạy, chúng tôi tiến hành thăm
dò ý kiến giáo viên có thể bằng phiếu trưng cầu ý kiến hoặc phỏng vấn trực
tiếp nắm bắt số liệu.
+ Phương pháp quan sát sư phạm:
Chúng tôi quan sát lớp học trong mỗi tiết dạy của giáo viên đứng lớp hay
chính tiết dạy của mình.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Soạn các giáo án và trực tiếp giảng dạy ứng dụng tổ chức trò chơi trong
giờ dạy một số bài thuộc chủ đề Tự nhiên, chương trình Tự nhiên và Xã hội
lớp 2.
+ Phương pháp phân tích tổng hợp:
5
Sau khi thu thập các thông tin cũng như số liệu liên quan chúng tôi tiến
hành thống kê và xử lí các số liệu liên quan.
Chúng tôi sử dụng phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp.
8. Phạm vi nghiên cứu:
Thiết kế trò chơi học tập phần chủ đề Tự nhiên môn Tự nhiên và Xã hội,
lớp 2 và tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Vĩnh Lợi.
9. Giả thuyết khoa học:
Xây dựng hoàn thiện hệ thống trò chơi học tập ứng dụng vào từng bài học chủ
đề Tự nhiên góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
B . PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Chương 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
1.1. Đặc điểm nội dung chương trình môn Tự nhiên – Xã hội lớp 2:
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học chứa đựng những kiến thức gắn với
đời sống con người, các sự vật hiện tượng trong thực tế cuộc sống rất gần gũi
với học sinh Tiểu học. Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học tích hợp kiến thức
của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội trong đó tỉ trọng kiến thức khoa học
stự nhiên nhiều hơn so với kiến thức khoa học xã hội ”.[1, tr 8] Môn Tự nhiên
và Xã hội lớp 2 được xây dựng theo quan điểm tích hợp xem xét tự nhiên con
người và xã hội trong một thể thống nhất có quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau, các kiến thức trong chương trình là kết quả tích hợp kiến thức của nhiều
ngành khoa học sinh học, vật lí, địa lí, lịch sử, môi trường. Nội dung chương
trình có cấu trúc đồng tâm, hợp lí ”.[5, tr 24] Chương trình môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng các kiến thức các em đã học ở lớp
1 theo 3 chủ đề: Con người – sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên. Sau khi học xong
chủ đề Tự nhiên học sinh cần đạt được mục tiêu đề ra: Biết sơ lược về hoạt
động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hóa ở cơ thể người; phòng chống
cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống, phòng nhiễm giun. Biết về công việc
của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số nghề nghiệp trong xã
6
hội, ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an toàn khi ở nhà, ở trường
và khi đi đường. Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi: trên
cạn, dưới nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu
biết sơ lược về hình dạng và đặc điểm của Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao[1, tr
4]. Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng: Tự chăm sóc sức khỏe
cho bản thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và
tai nạn. Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt
những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và
xã hội. Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi: Có ý thức thực hiện
các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Yêu
thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương. Môn học Tự nhiên và Xã hội là
môn học về môi trường tự nhiên và xã hội gẫn gũi, bao quanh học sinh, vì vậy
có rất nhiều nguồn cung cấp kiến thức cho các em. Do đó, không chỉ có giáo
viên cung cấp trí thức cho các em lĩnh vực này, các em có thể thu nhận kiến
thức từ nhiều nguồn khác. Với chủ đề Tự nhiên học sinh sẽ được học về thực
vật và động vật: một số cây cối và một số con vật sống trên mặt đất, dưới nước,
trên không. Về bầu trời ban ngày và ban đêm các em sẽ được học về mặt trời
cách tìm phương hướng bằng mặt trời, mặt trăng và các vì sao, qua 10 bài học cụ
thể.”.[1, tr 6]
Ở trường Tiểu học hiện nay, môn Tự nhiên và Xã hội là một trong những
môn học chiếm vị trí quan trọng cùng với các môn học khác có vai trò tích cực
trong việc phát triển toàn diện cho học sinh. Việc coi trọng thực hành và vận
dụng kiến thức, quan tâm đến năng lực tự học, tự khám phá kiến thức của học
sinh rất được quan tâm.
Việc tự khám phá để hiểu biết và tiếp thu kiến thức mới hay củng cố kiến
thức đã học rất hữu ích so với sự rập khuôn, bắt trước. Thế giới tự nhiên xung
quanh các em rất phong phú, đa dạng. Trò chơi sẽ minh hoạ một cách sinh
động nội dung bài học các bài trong chủ đề Tự nhiên. Sau khi chơi, các em
biết được rõ hơn về các cách làm thiết thực hay cách nhìn đẹp, hiểu được và
7
nhận xét về thế giới thực động vật, làm không khí giờ học thoải mái, hào
hứng dễ chịu hơn, giảm sự căng thẳng, phát triển sự nhanh trí, gây hứng thú
học tập cho các em. Trò chơi làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức
vui chơi hấp dẫn, học sinh học mà chơi, chơi mà học nâng cao hiệu quả tiết học .
1.2. Trò chơi học tập và vai trò của trò chơi học tập:
Trò chơi là một loại hình hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người. Ở
nhiều gốc độ khác nhau trò chơi được định nghĩa riêng, có thể trò chơi là một
hoạt động tự nhiên cần thiết thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người hay là
một phương pháp thực hành hiệu nghiệm đối với việc hình thành nhân cách
và trí lực của trẻ em Theo quan điểm của tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn
“Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể
lực cho học sinh”, “trò chơi là một hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một
nội dung nhất định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ”[4,
tr 6]
Trò chơi học tập được hiểu một cách đơn giản là các trò chơi có nội dung
gắn với các hoạt động học tập của học sinh nhằm giúp học sinh học tập trên
lớp được hứng thú, vui vẻ hơn[5, tr 49]. Nội dung của trò chơi này là sự thi
đấu về một hoạt động trí tuệ nào đó như sự chú ý, sự nhanh trí, sức tưởng
tượng, sáng tạo Ví dụ như các câu đố, triển lãm, đố bạn con gì?.
Theo F.l.Frratkina cho rằng: “Hành động chơi luôn là hành động giả
định. Hành động chơi mang tính khái quát, không bị giới hạn bởi cấu tạo
của đồ vật”[8, tr 12]. Vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển
nhân cách con người ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh mẫu giáo và tiểu
học. Đối với học sinh mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, bước sang lứa
tuổi Tiểu học hoạt động học là chính. Khoảng cách giữa hai lứa tuổi này là
không lớn nhưng hoạt động chủ đạo có sự thay đổi lớn. Vì vậy, giáo viên phải
tạo cho các em sân chơi học tập: chơi mà học, học mà chơi.
Học sinh Tiểu học là lứa tuổi ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt
và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chú ý có chủ định của trẻ còn
8
yếu khả năng ghi nhớ chưa cao. Đối tượng cảm xúc của các em là những sự
vật hiện tượng cụ thể, sinh động[2, tr 36] mà theo quan điểm dạy học, quá
trình dạy học là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tế cuộc sống. Học sinh tiểu học tư duy
cụ thể còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống theo hướng một
chiều: giáo viên truyền thụ học sinh tiếp nhận làm cho học sinh dễ mệt mỏi
chán nản trong giờ học, khó tiếp thu bài học. Giờ học diễn ra nặng nề, không
duy trì được khả năng chú ý của học sinh. Học là một hoạt động trong đó học
sinh là chủ thể, tổ chức dạy học sao cho học sinh phải luôn được vận động
vừa sức, tiếp thu những kiến thức cần đạt. Trò chơi là nhu cầu không thể thiếu
đối với trẻ và là một trong những hình thức đáp ứng yêu cầu đó.
Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, đa dạng hình thức
dạy học thay đổi không khí lớp học, giáo viên vẫn cho học sinh nắm bắt mọi
nội dung bài học trong tâm thế thoải mái, tự giác cao. Trò chơi góp phần đổi
mới phương pháp dạy học. Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, là
giải pháp, là cơ hội thuận lợi nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo
điều kiện để trẻ phát triển tâm lực, thể lực, trí lực một cách tổng hợp. [4, tr
14]. Trò chơi giúp cho học sinh phát triển thêm những điều mới mà các em đã
tiếp cận trong sách giáo khoa, luyện tập những kĩ năng thao tác mà các em
được học tập. Qua vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tình huống khác
nhau buộc mình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện được những
điểm mạnh, điểm yếu, những khả năng hứng thú cũng như nhược điểm của
bản thân. Tổ chức trò chơi khoa học hợp lí giúp học sinh phát triển về mặt thể
chất một cách tự nhiên rèn tính nhanh nhẹn, hoạt bát tự tin hơn trước đám
đông. Đặc biệt sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thao tác vận động và sự phát
triển tư duy khả năng điều khiển của thần kinh trung ương sẽ càng phát triển
chuẩn xác. Ngoài ra, sân chơi trò chơi rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống
cần thiết: kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra đánh
giá
9
Việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học đem lại lợi ích thiết thực góp
phần tạo không khí hào hứng thoả tâm sinh lí trẻ, thúc đẩy tính tích cực hoạt
động sáng tạo, giờ học diễn ra nhẹ nhàng.
Chương 2. Nội dung và kết quả nghiên cứu
2.1. Nội dung nghiên cứu.
2.1.1. Thực tế sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học:
Để biết được thực tế sử dụng trò chơi học tập trong dạy học chủ đề Tự
nhiên môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2 hiện nay, chúng tôi đã tiến hành điều
tra và quan sát giáo viên ở trường Tiểu học thực tập Vĩnh Lợi.
Giáo viên nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và tác dụng của trò
chơi trong dạy học. Với hơn 90% giáo viên đều cho rằng sử dụng trò chơi
trong dạy học làm cho học sinh không nhàm chán, giờ học nhẹ nhàng thoải
mái, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Trong khi đó một số giáo viên có tuổi vẫn nặng về áp dụng các phương
pháp dạy học truyền thống, kĩ năng tổ chức trò chơi còn hạn chế, giáo viên
vẫn làm việc nhiều còn học sinh thụ động. Thêm vào đó, do tác động của điều
kiện thời gian, cơ sở vật chất, đặc điểm học sinh cho nên việc áp dụng phương
pháp trò chơi trong học tập chưa phổ biến và áp dụng chưa có hiệu quả. Tài
liệu tham khảo về trò chơi học tập rất nhiều nhưng phần lớn các trò chơi có sự
lặp lại, chưa có tính hệ thống cụ thể. Sách giáo viên hướng dẫn soạn bài giảng
đưa ra rất ít, đơn điệu, chưa có tính hệ thống các trò chơi chỉ có 2 trò chơi:
Triển lãm, Tìm phương hướng bằng mặt trời. Một số trò chơi yêu cầu về sự
chuẩn bị rất phức tạp, với đặc điểm hiếu động của học sinh giáo viên rất khó
quản lí lớp học. Hơn 2/3 giáo viên đều rất hạn chế trong việc tổ chức trò chơi,
khi sử dụng thì các thầy cô đều áp dụng vào phần củng cố bài cuối giờ học,
rất ít thầy cô sử dụng trò chơi như là một hình thức dạy học bài mới. Vẫn tồn
tại số ít giáo viên luôn có sự rập khuôn từ sách thiết kế bài giảng các trò chơi,
lặp đi lặp lại các trò chơi gây ra sự nhàm chán cho học sinh. Bên cạnh đó một
số giáo viên có hướng tìm tòi đổi tên gọi hay cách chơi phong phú luôn tạo
10
cảm giác mới lạ cho học sinh. Vấn đề sử dụng trò chơi trong học tập là vấn đề
rất cần thiết. Giáo viên nhận thức một cách sâu sắc về việc sử dụng trò chơi
học tập trong dạy học.
Vì vậy, để sử dụng trò chơi học tập trong dạy học có hiệu quả việc cung
cấp các tài liệu tham khảo cũng như tổ chức các chuyên đề, hội thảo mở các
lớp tập huấn để không ngừng nâng cao kĩ năng tổ chức cho giáo viên là nhu
cầu cấp thiết. Đồng thời, các cấp quản lí, giáo viên cần đầu tư hơn nữa về
trang thiết bị dạy học. Thiết kế các giờ dạy Tự nhiên và Xã hội hợp lí, áp
dụng mọi phương pháp tối ưu trong dạy, chơi nhưng học, hoạt động vui chơi
và học tập có sự cân đối.
Từ thực tế sử dụng như vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm hoàn thiện
hệ thống trò chơi: sáng tác một số trò chơi dễ áp dụng với hình thức tổ chức
dễ dàng vào các bài học, sự chuẩn bị đơn giản phù hợp với đặc điểm trường
học, giáo viên và đặc điểm tâm lí của học sinh đem lại hiệu quả cao.
2.1.2. Nguyên tắc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập:
Sau khi phân tích nội dung chương trình, chúng tôi thấy có hai dạng bài
gồm: Dạng bài về thế giới động thực vật gồm các bài: Cây sống ở đâu?, Một
số loài cây sống trên cạn, Một số loài cây sống dưới nước, Loài vật sống ở
đâu?, Một số loài vật sống trên cạn, Một số loài vật sống dưới nước, Nhận
biết cây cối và các con vật. Dạng bài thứ 2 là: dạng bài về thiên thể gồm các
bài: Mặt trời, Mặt trời và các phương hướng, Mặt trăng và các vì sao.
Khi thiết kế trò chơi cho chủ đề này, chúng tôi cần tuân thủ các nguyên
tắc thiết kế: Thứ nhất là đặt tên trò chơi phải hấp dẫn gây sự chú ý của học
sinh ngay từ đầu, phải thể hiện được nội dung trò chơi, tên không được quá
dài. Ví dụ : Ong đi tìm nhụy, Đố bạn con gì? Thứ hai là không phải bài học
nào cũng có thể áp dụng trò chơi, đặc biệt là các bài trong nhóm dạng bài về
thiên thể áp dụng rất khó. Khi thiết kế trò chơi cần xác định cụ thể hệ thống
trò chơi nào phục vụ cho dạng bài gì ở hoạt động nào của bài dạy khởi động
trước khi học, cung cấp kiến thức mới hay củng cố, ôn tập kiến thức. Chơi là
11
một nhu cầu tự nhiên mà theo Xamarucôva- nhà tâm lí học Nga- nói về trò
chơi trẻ em như sau: “ Trò chơi trẻ em không mang tính trách nhiệm. Nó là
một biểu hiện mang tính tự do, tự lực, tự hoạt động của chúng. Trong trò
chơi, đứa trẻ không phụ thuộc vào nhu cầu thực hành, đứa trẻ chơi xuất
phát từ những nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân”. Nhưng trò chơi
học tập luôn phải tuân theo nguyên tắc thứ ba thể hiện được tính thi đua giữa
các cá nhân, giữa các nhóm để tạo ra không khí thi đua hào hứng đem lại hiệu
quả cao giúp phát triển những kĩ năng cần thiết cho học sinh: tính hợp tác,
kiên trì, nổ lực Chơi dù để học hay chỉ với mục đích chơi đều phải tuân theo
nguyên tắc thứ tư có tính kỉ luật, cách thức chơi cụ thể riêng biệt của mỗi trò
chơi. Người ta gọi đó là luật chơi. Luật chơi khiến cho trò chơi hấp dẫn tạo ra
sự bình đẳng giữa người chơi. Khi thiết kế, chúng tôi đã chọn lọc và tìm ra
các điểm chung của các trò chơi để tạo nên hệ thống. Ví dụ hệ thống trò chơi:
Gọi hình đáp tiếng, Kể nhanh kể đúng, Cây gì sống ở đâu? được gọi tắt
thành trò nhận biết đối tượng với cách thực hiện chơi là giáo viên sẽ chia lớp
thành hai đội, các đội sẽ nêu tên các đối tượng sao cho phù hợp với những đặc
điểm của đối tượng đó.
Nguyên tắc cuối cùng: Khi chơi học sinh mong đợi nhất đó là kết quả trò
chơi vấn đề đưa ra thang đánh giá trò chơi là rất quan trọng. Trò chơi học tập
là một hoạt động mới mẻ, đầy sáng tạo. Nhiều trò chơi được sử dụng nhiều
lần nhưng vẫn lôi cuốn người tham gia. Bởi lẽ, cả quá trình chơi và kết quả
trò chơi là một ẩn số bất ngờ đối với tất cả người tham gia. Giáo viên cần có
hình thức khen thưởng cho đội thắng, phạt nhẹ nhàng đội thua như thế nào có
thể là cho các em múa theo lời bài hát
Thiết kế trò chơi học tập dựa vào các nguyên tắc trên và khi sử dụng
chúng cần đảm bảo các yêu cầu cụ thể. Như chúng ta đã biết không nên áp đặt
cho học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập.
Khi sử dụng bất kì phương pháp dạy học gì cần chú ý các yêu cầu của
phương pháp đó. Khi sử dụng trò chơi trong học tập trong chủ đề Tự nhiên,
12
giáo viên cần phải đảm bảo các yêu cầu. Với những đặc điểm hiếu động và
ghi nhớ của học sinh Tiểu học, đầu tiên trò chơi phải dễ chơi có luật chơi rõ
ràng, dễ hiểu. Thứ hai, trò chơi phải gắn liền với mục tiêu - nội dung cho từng
bài học: Bất kì bài học nào cũng có mục tiêu đề ra kết hợp với nội dung kiến
thức truyền đạt. Tùy vào mục tiêu, nội dung của từng bài mà giáo viên có sự
lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ: Khi dạy bài “Một số loài vật sống trên cạn” thay
vì truyền đạt kiến thức một cách thụ động chúng tôi đã cho học sinh chơi trò
chơi học tập: Hoa nào đẹp nhằm mục đích: giúp học sinh tự nắm bắt và ghi nhớ
dễ dàng loài vật nào là vật nuôi và loài vật nào sống hoang dã, rèn kĩ năng quan
sát, tạo không khí học tập. Với các phương tiện chuẩn bị: hai nhụy hoa: vật nuôi-
vật hoang dã, các cánh hoa là hình ảnh các con vật. Trong thời gian khoảng 7- 8
phút giáo viên sẽ chia lớp thành hai đội. Mỗi đội gồm 5 bạn, trên tay mỗi bạn sẽ
có các cánh hoa. Nhiệm vụ của hai đội là lần lượt lên gắn các cánh hoa vào nhụy
hoa của đội mình. Kết thúc trò chơi: đại diện mỗi đội trình bày bông hoa của đội
mình, lớp và giáo viên nhận xét tuyên dương đội thắng cuộc.
Thứ ba, trò chơi phải phù hợp với năng lực của học sinh, thu hút được
nhiều học sinh tham gia. Theo Usinxki, trò chơi đối với trẻ em là một hoạt
động tự lực. Trẻ em hứng thú với trò chơi vì trong trò chơi có sự sáng tạo, trẻ
là những người trưởng thành, đang thử sức lực của mình và tự tổ chức công
việc của mình. Giáo viên là người tổ chức học tập cho học sinh. Chúng ta cần
tôn trọng ý kiến các em, cần tìm hiểu hứng thú của các em với trò chơi gì ở
mức độ nào, nó tác động đến việc học ra sao? Ở chủ đề này, các em được tìm
hiểu rõ hơn về thế giới tự nhiên xung quanh mình, những cái vốn dĩ rất quen
thuộc với mình, khi tổ chức trò chơi phải phù hợp với đặc điểm bài học giúp
học sinh nhìn nhận thế giới một cách chính xác và rõ ràng hơn. Ví dụ các em
chơi trò chơi tìm phương hướng với mục đích: giúp các em xác định phương
hướng biết được vị trí mình đang đứng là ở phương nào? Giáo viên chuẩn bị:
các thẻ từ ghi tên các phương, ông mặt trời. Luật chơi: Đội nào xác định
nhanh và đúng phương hướng cũng như vị trí mặt trời sẽ là đội thắng cuộc.
13
Giáo viên chia lớp thành hai đội chơi trong vòng 5- 7 phút. Mỗi đội gồm 5
bạn: một đội xác địng phương hướng khi mặt trời lặn và mặt trời mọc. Tổng
kết trò chơi: lớp nhận xét và tuyên dương đội thắng cuộc
Ngoài ra, trò chơi phải đảm bảo tính đồng đều, vừa sức học sinh để mọi
học sinh trong lớp đều được tham gia. Ví dụ: Trong tiết ôn tập chủ đề giáo
viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Giải câu đố” nhằm giúp học sinh
nắm chắc kiến thức về tự nhiên, rèn năng lực tư duy, phản ứng nhanh. Giáo
viên chuẩn bị hệ thống câu đố về thế giới tự nhiên. Luật chơi: đội nào ghi
được nhiều điểm là đội thắng cuộc. Giáo viên chia lớp thành hai đội. Sau khi
giáo viên đọc câu đố hai đội sẽ đưa tay dành quyền trả lời. Đội nào trả lời
đúng sẽ ghi 1 điểm, đội nào không trả lời được quyền trả lời thuộc về đội còn
lại. Tổng kết trò chơi đội nào ghi điểm nhiều thắng cuộc.
Thứ tư, trò chơi phải đảm bảo tính giáo dục thẩm mĩ: Chúng ta dạy học sinh
không chỉ về thế giới tự nhiên mà còn dạy học sinh làm người. Do đó, trò chơi còn
phải gớp phần giúp các em trở thành những người tốt, biết bảo vệ tự nhiên. Chẳng
hạn, thông qua trò chơi Con gì sống ở đâu?, Cây gì sống ở đâu? Chúng ta giúp các
em biết thêm được thêm nhiều về nơi sống của các loài vật, loài cây hình thành cho
các em thái độ bảo vệ môi trường sống của chúng, tinh thần đoàn kết, hợp tác trong
học tập.
Do đó khi áp dụng bất kì trò chơi nào có sử dụng phương tiện trực quan
cần chuẩn bị chu đáo, cẩn thận, rõ ràng, đẹp thu hút học sinh chú ý.
Cuối cùng, trò chơi phải đảm bảo an toàn, tiết kiệm phù hợp với cơ sở
vật chất của trường lớp. Đối với trẻ em, đồ chơi là phương tiện để chơi, đã
chơi là phải có đồ chơi và thời gian một tiết học có qui định phù hợp với mục
tiêu đề ra. Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu, cách tổ chức, các phương tiện
trực quan cần chuẩn bị một cách chu đáo để khi lên lớp không mất thời gian,
hạn chế tốn kém về vật chất. Phương pháp trò chơi cũng chỉ là một hình thức
dạy học nên khi sử dụng phải đảm bảo thời gian cụ thể, trò chơi gì đáp ứng yêu
cầu dạy học nào? Học sinh Tiểu học rất hiếu động, giáo viên phải có khả năng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét