Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Tài liệu Tiểu luận_Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam doc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TOÁN – TIN
____
GVHD:TRẦN NHƯ CƯƠNG
SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
MSSV: K33101080
LỚP: TOÁN 3B
____________
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2010
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
1. Lý do chọn đề tài.
Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử sôi động nhất, hào
hung nhất, oanh liệt nhất. Kể từ khi có Đảng, dân tộc ta tiếp tục giành được những thắng
lợi mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong tiến
trình lịch sử của dân tộc. Mở đầu là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; và đến nay chúng ta cũng khẳng địng công cuộc đổi mới
của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang giành được những thắng lợi lớn, "có
ý nghĩa lịch sử sâu sắc"… Tất cả những thắng lợi đó của dân tộc không thể phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày nay, nhân dân Việt Nam, đặc
biệt là thế hệ trẻ đã và đang được trực tiếp
hưởng thụ những thành quả của cách
mạng, từ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt
của Đảng, việc giáo dục cho các thế hệ
thấy được vai trò và sự cống hiến to lớn
của Đảng và đặc biệt là thấy được ý nghĩa
to lớn từ sự xuất hiện, sự ra đời của Đảng
cộng sản Việt Nam (3- 2- 1930) là vô
cùng quan trọng. Năm 2010 cũng là năm
kỉ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng.
Do vậy, em lựa chọn đề tài: "Ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Đảng cộng sản Việt
Nam" làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục đích, yêu cầu:
Là công dân của một đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa ,chịu sự dìu dắt của Đảng Cộng
Sản, chúng ta phải nắm vững phải quán triệt được tư tưởng đúng đắn của Đảng, không
ngừng nâng cao hiểu biết về Đảng và vai trò củaĐảng. Tư tưởng của Đảng là một tư
tưởng đúng, tư tưởng mang tính khoa học biện chứng và điều đó đã được lịch sử chứng
minh. Đựơc chứng minh ngay việc ra đời của Đảng Cộng Sản, sự ra đời của Đảng Cộng
Sản hoàn toàn hợp quy luật .Vai trò của Đảng Cộng Sản vô cùng to lớn, vai trò đó có ảnh
hưởng quan trọng và không thể thiếu đối với lịch sử và tương lai của nhân loại.
3. Phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
2 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Nghiên cứu về ý nghĩa của sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đối với lịch sử
dân tộc Việt Nam không còn là vấn đề mới, mà đây là vấn đề có lịch sử nghiên cứu từ rất
lâu và cũng được sự quan tâm của nhiều tác giả, nhóm tác giả, nhiều cơ quan, tổ chức…
và đến nay vấn đề này cũng được công bố rộng rãi, là một trong những nội dung giảng
dạy ở không chỉ các trường cao đẳng, đại học, mà còn ở các cấp học phổ thông. Như vậy,
đây là vấn đề đã mang tính phổ biến và không còn là mới. Song, tác giả lựa chọn cách
tiếp cận là đặt trực tiếp sự ra đời của Đảng trong bối cảnh lịch sử dân tộc và thế giới để
qua đó làm nổi bật lên ý nghĩa sự ra đời của Đảng.

3 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
TÊN MỤC Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Mục đích, yêu cầu 1
3. phạm vi, phương pháp nghiên cứu. 1
NỘI DUNG 4
Chương 1. Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX.
4
1. Tình hình thế giới và tác động của nó đối với cách mạng Việt Nam. 4
2. Sự chuyển biến về kinh tế- xã hội ở Việt Nam. 6
3. Vai trò của Nguyễn ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. 8
4. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời. 9
Chương 2. Ý nghĩa sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
11
1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử; là sản phẩm của sự
kết hợp Chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Việt Nam.
11
2. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về
lãnh đạo cách mạng những năm đầu thế kỷ XX.
13
3. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy cách mạng Việt Nam đã trở
thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.
14
4. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất
quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình tiến hoá của dân tộc
Việt Nam.
15
5. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái
Quốc- Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta.
16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
4 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
 
1. Tình hình thế giới và tác động của nó đối với cách mạng Việt Nam:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên bình diện thế giới xuất hiện những biến cố
lịch sử mang tính chất là bước ngoặt của xã hội loại người.
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh
tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (ĐQCN). Chính bước chuyển này đã làm cho
mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày càng trở nên gay gắt: Mâu thuẫn vốn có trong
CNTB là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã phát triển đến
mức cần phải giải quyết. Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm
trù cách mạng thế giới chuyển sang phạm trù cách mạng vô sản, cách mạng XHCN. Cùng
với mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi nước tư bản thì thời điểm này cũng xuất hiện
mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau do tranh giành thuộc địa, phân chia thị
trường và khu vực ảnh hưởng. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc đại chiến thế
giới lần thứ nhất (1914- 1918). Đặc biệt là sự thống trị tàn bạo của CNĐQ làm cho mâu
thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với CNĐQ thực dân ngày càng trở nên gay gắt và trở
thành một vấn đề mang tính thời đại.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
một học thuyết cách mạng và khoa học đã khẳng định được vị trí và được xem là vũ khí
lý luận của giai cấp công nhân, đó là lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin. Không những
thế, lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênnin cũng chỉ ra cho các dân tộc thuộc địa con đường
giải phóng mình.
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên học thuyết lý luận cách
mạng không ngừng, với nội dung cơ bản: Giai cấp công nhân, sau khi đã trưởng thành về
trình độ giác ngộ, trình độ tổ chức, có đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo cuộc cách mạng
dân chủ tư sản trên cơ sở liên minh với giai cấp nông dân đấu tranh chống lại chế độ
chuyên chế phong kiến. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân trở thành lực lượng chủ yếu đánh đổ chế độ chuyên
5 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
chế phong kiến, thành lập nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và
giai cấp nông dân (gọi tắt là chuyên chính công nông). Một cuộc cách mạng như vậy
được gọi là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới. Sự hoàn thành triệt để cuộc cách
mạng đó có nghĩa là tạo lập chiếc cầu trực tiếp để chuyển sang cách mạng XHCN và
giữa chúng không có ''bức tường thành ngăn cách''.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và đặc biệt là Lý luận cách mạng không ngừng
đã chỉ ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa như Việt Nam, đó là phải tiến
hành một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản. Đồng thời Lênin cũng chỉ
ra việc cần thiết phải xây dựng một Đảng cộng sản kiểu mới của giai cấp công nhân.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, đặc
biệt là khi được trang bị bởi một học thuyết cách mạng và khoa học, cuộc cách mạng vô
sản đầu tiên nổ ra và giành thắng lợi tại Nga năm 1917.
Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười
đã cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt
là nhân dân các nước thuộc địa. Cách mạng Tháng
Mười đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt các đảng
cộng sản trên thế giới: Đản cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hunggari (1918), Đảng cộng
sản Mỹ (1919), Đảng cộng sản Anh, Đảng cộng sản Pháp (1920)…
Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các
đảng cộng sản. Tình hình đó đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế đứng ra lãnh đạo, tập
trung sức mạnh của phong trào ở tất cả các quốc gia, dân tộc (Quốc tế II đã không còn
vai trò tiên phong kể từ sau khi Ăngghen qua đời năm 1895).
Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, với khẩu hiệu "Vô sản thế giới
và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. "Lần đầu tiên trong lịch sử, quốc tế Cộng sản đã chỉ rõ
sự đoàn kết tất yếu, liên minh chiến đấu giữa giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa
đang rên xiết dưới ách thống trị thực dân". Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của Quốc
tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam: "Xem trong cách tổ chức Đệ tam quốc tế, có
đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á- Đông… Xem
6 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Vị trí của Liên bang Cộng Hòa Xã Hội
chủ nghĩa Xô Viết
Cờ_Huy hiệu Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Xô Viết
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
khẩu hiệu Đệ tam quốc tế, chẳng những rằng "vô sản giai cấp" mà lại thêm câu "… và
dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hiệp lại"… Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An
Nam muốn làm cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế".
Như vậy, tình hình thế giới và những đặc điểm trên đây của thời đại có ảnh hưởng
to lớn tới cách mạng Việt Nam đặc biệt là quá trình hình thành Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Sự chuyển biến về kinh tế- xã hội ở Việt Nam.
Năm 1858, tại cửa biển Đà Nẵng, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam.
mặc dù nhân dân ta đã chiến đấu anh dũng, song các phong trào đấu tranh đều lần lượt
thất bại. Đến 1897, thực dân Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở nước ta và bắt đầu tiến
hành khai thác thuộc địa với những chính sách phản động và hà khắc.
Về chính trị, Pháp thực hiện chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề,
mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp: Toàn quyền
Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Công sứ các
tỉnh. Biến vua quan Nam Triều thành bù nhìn tay sai. Biến Việt Nam từ một nước phong
kiến thành nước thuộc địa nửa phong kiến.
Chúng dùng chính sách chia để trị. Chia nước ta thành 3 kỳ sát nhập với Lào,
Campuchia lập liên bang Đông Dương, nhằm xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới. Mỗi
kỳ có chính sách khác nhau hòng chia rẽ và gây thù hận giữa các sứ làm cho dân tộc ta
không đoàn kết thống nhất, không tạo sức mạnh tổng hợp chống lại chúng.
Về kinh tế, 1897 Pháp tiến
hành khai thác thuộc địa lần 1, sau
chiến tranh thế giới I (1914- 1918),
chúng khai thác lần 2 - để bù vào
những tổn thất trong chiến tranh
(vốn đầu tư với tốc độ nhanh, giai
đoạn 1924 - 1928 hơn 6 lần 1847 -
1918), tập trung vào hai khu vực
chủ yếu là đồn điền cao su và mỏ
than.
Tăng cường ngân hàng để
cho vay nặng lãi và thâu tóm để
kiểm soát các hoạt động kinh tế ở
Đông Dương. Chúng tăng thuế lên
2 - 3 lần so với trước, độc quyền
thuốc phiện, rượu, muối.
Chúng thực hiện chế độ mộ phu cực kỳ man rợ và chiếm đoạt ruộng đất của nông
dân làm 50% nông dân ta mất ruộng đất. Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
7 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria, đời
sống người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Chúng du nhập phương thức sản xuất TBCN làm cho quan hệ kinh tế ở nông thôn
bị phá vỡ và hình thành nên những đô thị, khu dân cư và trung tâm kinh tế mới.
Chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, kết hợp hai phương thức sản xuất
để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Chúng không du nhập phương thức sản xuất TBCN một cách hoàn chỉnh, chính vì
thế mà Việt Nam không thể tiến lên TBCN bình thường được. Vì vậy nền kinh tế Việt
Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu - vừa mang tính chất tư bản thực dân - vừa mang
tính chất phong kiến.
Về văn hóa, Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa nô dịch, ngu dân, gây
tâm lý tự ti, vong bản để chúng dễ bề thống trị đồng thời chúng còn tìm mọi cách bưng
bít và ngăn chặn không cho ảnh hưởng đến văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc đó nói rõ về chính sách này: "Chủ nghĩa tư bản Pháp đó vào Đông
Dương từ nửa thế kỷ nay; vì lợi ích của nó, nó đã dựng lưỡi lê để chinh phục đất nước
chúng tôi. Từ đó, chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn
bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm. Tụi xin nhấn mạnh từ "đầu độc" bằng thuốc
phiện, bằng rượu Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài; chúng tôi
phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm và chúng tôi không có quyền tự do học tập".
Sự thống trị của thực dân Pháp đã để lại nhiều hậu quả trong nền kinh tế- xã
hội Việt Nam.
Về Kinh tế, nền kinh tế Việt Nam không thể tiến lên TBCN bình thường được, trái
lại nó phát triển chậm chạp, què quặt, mất dần tính độc lập, ngày càng lệ thuộc vào kinh
tế Pháp; nó bị kìm hãm trong vòng lạc hậu - vừa mang tính chất TB thực dân - vừa mang
tính chất phong kiến.
Về xã hội, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành một nước thuộc
địa nửa phong kiến, mâu thuẫn trong xã hội cũng bị chi phối bởi đặc điểm này; xã hội
Việt Nam hình thành nhiều mâu thuẫn đan xen lẫn nhau, song mâu thuẫn chủ yếu nhất
nổi lên lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai
phản động.
Về giai cấp cũng bị phân hóa triệt để do chính sách khai thác thuộc địa của thực
dân Pháp, ngoài những giai cấp vốn có (địa chủ phong kiến và nông dân), xã hội Việt
Nam xuất hiện những giai cấp mới như tư sản, tiểu tư sản, vô sản.
Thái độ chính trị của các giai cấp cũng có sự phân hoá sâu sắc, theo đó trong các
giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản đều có những bộ phận có thể lôi kéo, lợi dụng trong
lực lượng cách mạng ; các giai cấp tiểu tư sản và nông dân đều có tinh thần hăng hái cách
mạng, là lực lượng quan trọng của cách mạng. Đặc biệt là công nhân, tuy chiếm khoảng
1% dân số nhưng là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng nếu được trang
bị Chủ nghĩa Mác- Lênin.
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướng khác
nhau đã diễn ra: Phong trào Cần Vương (1885 – 1896), Khởi nghĩa của nông dân Yên
8 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Thế (1885 – 1913), Phong trào Đông Du (1906 – 1908), Phong trào Duy Tân (1906-
1908), Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925 - 1926), Phong trào cách mạng
quốc gia tư sản, gắn liền với hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng (1927 - 1930)
Nhưng tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại, cách mạng Việt Nam rơi vào cuộc
khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng.
3. Vai trò của Nguyễn ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Trước yêu cầu bức bách phải tìm con đường
cứu nước mới, tháng 6 năm 1911, Nguyễn Ái Quốc
sang phương Tây, nơi có nền khoa học - kỹ thuật
phát triển, có tư tưởng dân chủ, tự do xem họ làm
thế nào rồi về giúp đồng bào mình thoát khỏi gông
cùm nô lệ.
Tháng 7 – 1920, Nguyễn ái Quốc được đọc
bản luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Lênin. Bản luận cương đã đáp ứng nguyện vọng tha
thiết của Người là độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào. Từ đó Người hoàn toàn tin theo
Lênin, tin theo quốc tế thứ III.
Tháng 12 - 1920 tại đại hội Đảng xã hội Pháp ở
Tua đã diễn ra cuộc tranh luận gay gắt là gia nhập
quốc tế III hay ở lại quốc tế II. Nguyễn ái Quốc đã bỏ
phiếu tán thành gia nhập quốc tế III và tham gia sáng
lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện đó đánh dấu bước
ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Người,
từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản. Từ
chiến sĩ yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản.
Sau khi đã lựa chọn chắc chắn cho mình con
đường cứu nước, Nguyễn ái Quốc chuẩn bị về chính
trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản
ở Việt Nam.
Từ 1921 đến 1923, Nguyễn ái Quốc hoạt
động tại Pháp, thành lập "Hội liên hiệp thuộc
địa", viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân
Pháp” và được xuất bản lần đầu tiên ở Pari vào
1925.
Từ tháng 6 - 1923 đến 1924, Nguyễn ái
Quốc đi Liên Xô tham dự nhiều Hội nghị và Đại
hội quốc tế.
9 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Từ 11-11-1924 đến 1927, Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu - Trung Quốc, thành
lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông. Tháng 6 - 1925, Người sáng lập Hội Việt
Nam cách mạng thanh niên. Đây là bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức
cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 1925 - 1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện
chính trị tại Quảng Châu. Đầu năm 1927, những bài giảng của Người được tập hợp thành
sách với tên gọi “Đường cách mệnh”, với những nội dung cơ bản vạch ra phương hướng
cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng ở Việt Nam
Năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên chủ trương “Vô sản hóa”, Đến
1929 phong trào công nhân và phong trào yêu nước
phát triển rất mạnh mẽ. Các yếu tố thành lập Đảng
đã xuất hiện, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
bị phân liệt, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam lần
lượt ra đời. Yêu cầu của phong trào dân tộc dân chủ
ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một
Đảng Cộng sản.
Nguyễn ái Quốc với tư cách là biệt phái viên
của Quốc tế cộng sản, triệu tập các tổ chức cộng
sản và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng
sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Hội nghị
diễn ra từ 6- 1 đến 7-2-1930 tại Cửu Long- Hương Cảng- Trung Quốc.
4. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời:
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng trong nước thì những
đồng chí hội viên tiên tiến của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Bắc Kỳ đã
tiến hành họp tại số nhà 5D Hàm Long Hà Nội vào đầu 3-1929 để tiến hành thành lập ra
chi bộ cộng sản (CS) đầu tiên ở trong nước và chi bộ này đã ra nghị quyết: phải thành lập
ra Đảng Cộng Sản. Cuối 3-1929 đại hội kì bộ Bắc Kỳ của Việt Nam thanh niên cách
mạng đồng chí hội cũng được tiến hành và đại hội này đã thông qua chủ trương thành lập
Đảng của chi bộ cộng sản đầu tiên đồng thời đại hội cũng cử đại biểu đi dự ĐẠI HỘI
thanh niên toàn quốc và giao nhiệm vụ cho các đồng chí đại biểu: phải đấu tranh để chủ
trương thành lập Đảng được chấp thuận tại đại hội thanh niên toàn quốc.
Ngày 1-5-1929: đại hội lần thứ I của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội được
tiến hành tại Hương Cảng Trung Quốc. Tại đại hội này, đoàn Đại biểu Bắc Kỳ đưa ra vấn
đề thành lập Đảng nhưng lại không được đại hội chấp thuận. Vì thế, các đồng chí đã tự
động rút về nước và thành lập ra tổ chức cộng sản đầu tiên là Đông Dương Cộng Sản
Đảng (6-1929) do đồng chí Hồ Tùng Mậu làm bí thư.
7-1929: Thành lập An Nam Cộng Sản Đảng.
9-1929: Thành lập Đông Dương Cộng Sản liên đoàn.
10 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Hội nghị thành lập Đảng Cộng
sản
Việt Nam (3-2-1930). Ảnh chụp
tranh của PHAN KẾ AN.
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Trước sự xuất hiện 3 tổ chức cộng sản ở trong nước thì Quốc tế CS đã viết thư kêu
gọi những người CS ở Việt Nam là phải nhanh chóng hợp nhất 3 tổ chức CS, thành lập
Đảng CS đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Ai Quốc là thay mặt quốc tế CS
hợp nhất 3 tổ chức CS thành lập ra Đảng CS. Sau chỉ thị của quốc tế CS đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các văn kiện cho hội nghị hợp nhất và
khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất thì hội nghị hợp nhất 3 tổ chức CS tiến hành 3 đến
7-2-1930 tại Hương cảng Trung Quốc: Hội nghị thảo
luận bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, quyết định thành
lập Đảng CS và lấy tên là Đảng CS Việt Nam, thông
qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ
tóm tắt và lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
nhân dịp thành lập Đảng, bầu Ban chấp hành trung
ương lâm thời. Hội nghị được coi như là hội nghị
thành lập Đảng và các văn kiện do Hội nghị thông
qua chính là cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, là bước ngoặc vĩ đại trong
phong trào cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ giai cấp Công nhân Việt Nam đã trưởng
thành. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lenin và
phong trào Công nhân. Đây là quy luật thành lập Đảng của giai cấp Công nhân Việt
Nam.

“Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam”.
Hồ Chí Minh
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý
ấy không bao giờ thay đổi”.
Hồ Chí Minh
11 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Cờ Đảng Cộng Sản Việt Nam
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
 
1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử; là
sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và
giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư
tưởng Mác- Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Thực tế cho thấy Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời là sự lựa chọn của chính lịch sử.
Trước ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp, hàng loạt các phong trào đấu tranh
nổ ra của nhiều giai - tầng trong xã hội, với nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau: tiêu
biểu cho khuynh hướng phong kiến là Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và
Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết khởi xướng. Do lực lượng của phong trào quá
mỏng nên phong trào sớm bị thất bại. Điều đó cho thấy giai cấp địa chủ phong kiến
không còn đủ vai trò và uy tín để kêu gọi và triệu tập lực lượng trong quần chúng nhân
dân.
Cùng thời gian với phong trào Cần Vương còn có phong trào đấu tranh của giai
cấp nông dân lớp dưới mà tiêu biểu là cuộc đấu tranh gần 30 năm của nghĩa quân Yên
Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Nhưng còn "nặng cốt cách phong kiến" nên phong
trào cũng đi vào kết cục là thất bại.
Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với hoạt động của Việt Nam Quốc
dân đảng (1927 - 1930). Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc
Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất theo khuynh hướng tư sản
ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản , địa chủ, cả học sĩ quan Việt Nam
trong quân đội Pháp.
Về chủ trương Đảng mô phỏng chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Về chính
trị, Đảng chủ trương đánh Pháp, xóa bỏ chế độ vua quan, lập dân quyền, nhưng chưa bao
giờ có đường lối chính trị rõ ràng, cụ thể. Về tổ chức Đảng chủ trương xây dựng các cấp
từ TW đến cơ sở nhưng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất. Về phương
pháp đấu tranh, nặng ám sát cá nhân, lấy bạo động làm lối thoát.
Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái vào 9- 2- 1930 với phương châm “không thành
công cũng thành nhân” đã bị thực dân Pháp dìm phong trào trong biển máu. Vai trò của
Việt Nam quốc dân Đảng trong phong trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất
bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
12 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Lược đồ cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930
Trong khi các giai cấp, tầng lớp đều lần lượt bước lên vũ đài chính trị nhưng đều
không được lịch sử chấp nhận thì với nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên, Chủ nghĩa Mác- Lênin được truyền bá rộng rãi vào phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam và đang khẳng định được
sức mạnh của mình. Nếu như những năm 1919- 1925, phong trào công nhân được đánh
giá là đã có bước phát triển hơn với "những cuộc bãi công đã trở nên phổ biến, diễn ra
trên qui mô lớn hơn và thời gian dài hơn" thì từ 1925, phong trào công nhân Việt Nam
được đánh giá là có sự chuyển hoá "từng bước từ tự phát sang tự giác".
Trong những năm 1926- 1929, phong trào công nhân Việt Nam đấu tranh dưới sự
lãnh đạo của các tổ chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các
nhóm cộng sản ra đời từ năm 1929. Các cuộc bãi công liên tiếp nổ ra. Tiêu biểu là cuộc
bãi công của 1.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, 500 công nhân đồn điền cao su
Cam Tiến Từ năm 1928 đến năm 1929, có khoảng 40 cuộc đấu tranh của công nhân
diễn ra trong toàn quốc. Theo số liệu thống kê, năm 1927 có 7 cuộc đấu tranh lớn, thì
năm 1929 là 24 cuộc, năm 1930 lên tới 98 cuộc (với số người tham gia từ 350 người lên
tới 31.680 người).
Các cuộc đấu tranh của công nhân Việt Nam thời kỳ này mang tính chất chính trị
rõ rệt và diễn ra trong phạm vi cả nước. Trong mỗi cuộc đấu tranh đã có sự liên kết giữa
các nhà máy, các ngành và các địa phương. Phong trào công nhân đã đạt đến trình độ "tự
giác", được đánh giá là thuần thục về chính trị. Bản thân phong trào công nhân có sức lôi
cuốn đối với phong trào yêu nước và có thể nói, nó quyết định phong trào dân tộc theo
khuynh hướng cách mạng vô sản.
Như vậy, trong khi các phong trào đấu tranh theo nhiều khuynh hướng chính trị
khác nhau, đồng thời cũng là sự xuất hiện của nhiều giai - tầng trong xã hội trên vũ đài
chính trị nhưng tất cả đều không được lịch sử chấp nhận. Với sự nỗ lực của Nguyễn ái
Quốc và Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, chủ nghĩa Mác- Lênin được thâm nhập
vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước làm cho các phong trào này có khuynh
13 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Tiểu luận lịch sử ĐảngĐại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
hướng phát triển từ tự phát sang tự giác. Chính xu hướng đó đã làm cho nhu cầu tất yếu
của lịch sử đòi hỏi phải thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam, làm cho Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình đã bị phân liệt dẫn
đến sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản và cuối cùng là sự tất yếu phải hợp nhất để thành lập
một đảng cộng sản duy nhất. Điều đó khẳng định sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
là sự lựa chọn của chính lịch sử, là sản phẩm của sự kết hợp 3 yếu tố Chủ nghĩa Mác-
Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
2. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng
khủng hoảng về lãnh đạo cách mạng những năm đầu thế kỷ XX.
Trước ách áp bức của thực dân Pháp xâm lược, các phong trào đấu tranh của nhân
dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, qua đó
cũng chứng kiến nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau lần lượt bước lên vũ đài chính trị với
nhiều đường lối, phương pháp tiến hành đấu tranh khác nhau nhưng cuối cùng đều rơi
vào cùng một kết cục là thất bại.
Phong trào Cần Vương với sự lãnh đạo của giai cấp địa chủ lớp trên, giai cấp đã
không còn đủ năng lực và uy tín lôi kéo, vận động lực lượng nhân dân. Khởi nghĩa Yên
thế "nặng cốt cách phong kiến" vì hoạt động đấu tranh của nghĩa quân chỉ dựa vào tài
thao lược của một lãnh tụ, khi lãnh tụ mất, phong trào cũng vì thế mà tan rã. Đông Du có
phương pháp đấu tranh đúng đắn là dùng bạo động nhưng lại không biết xác định bạn
thù, đồng thời lại không có biện pháp cụ thể phù hợp để thực hiện bạo động. Duy Tân thì
phương pháp đấu tranh cải lương, không tưởng. Việt Nam quốc dân đảng biểu thị tính
bồng bột, hăng hái nhất thời của tầng lớp tiểu tư sản nhìn chung tất cả các phong trào
thất bại vì không có đường lối đấu tranh phù hợp với xu thế của thời đại; không có giai
cấp lãnh đạo giữ vị trí là giai cấp trung tâm của thời đại.
Với những biến cố lịch sử đã xuất hiện trên thế giới cho thấy phạm trù của cách
mạng thế giới đã chuyển sang phạm trù cách mạng vô sản, tất cả các cuộc cách mạng trên
thế giới, kể cả cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo đường lối
của cách mạng vô sản và theo đó, giai cấp cách mạng nhất, giữ vai trò tiên phong, có sứ
mệnh lịch sử là giai cấp trung tâm của thời đại lúc này tất yếu phải là giai cấp vô sản. Vì
vậy, khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn,
khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: chủ trương làm "tư
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản", khẳng định rõ
ràng giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản: "Đảng là đội tiền
phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm
cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng" Với những quan điểm này, Cương lĩnh đã
đặt cách mạng mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cuộc cách mạng vô sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sự trưởng thành vượt bậc
của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong khi các phong trào của các giai cấp, các tầng lớp
khau nhau trong xã hội Việt Nam đều lần lượt thất bại thì phong trào đấu tranh của giai
14 TrangSVTH: ĐẶNG MINH NHỰT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét