5
9 Hệ thống hoá một phần và phát triển lý luận về quản lý chi tiêu công
và kiểm soát chi tiêu công trong nền kinh tế thò trường.
9 Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát chi tiêu công từ khi có luật
NSNN ra đời
9 Đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi tiêu công qua
hệ thống KBNN, nhằm khắc phục những hạn chế và tồn tại hiện nay
trong điều kiện cải cách nền tài chính công Việt Nam .
3. Đối tượng và phạm vò nghiên cứu
Đề tài lấy thực trạng việc quản lý chi tiêu công và kiểm soát chi tiêu công
từ khi có luật NSNN (1996) đến nay làm đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên
cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ yếu dựa vào phương pháp chủ
nghóa duy vật biện chứng và chủ nghóa duy vật lòch sử, đồng thời kết hợp các
phương pháp tổng hợp, phân tích và phương pháp tiếp cận nguyên nhân và kết
quả để đưa ra giải pháp khắc phục những yếu kém, hạn chế còn tồn tại và hướng
hoàn thiện mà đề tài đã đặt ra.
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu với ba chương
Chương 1 : Tổng quan về Kho bạc nhà nước và chi tiêu công
Chương 2 :Thực trạng về kiểm soát chi tiêu công qua hệ thống KBNN ở
Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3 : Các giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi tiêu công qua hệ
thống KBNN.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC VÀ CHI TIÊU
CÔNG
1.1 – Những vấn đề cơ bản về Kho Bạc Nhà Nước
1.1.1- Khái niệm về Kho Bạc Nhà Nước
Kho Bạc Nhà Nước (KBNN) là cơ quan tài chính thực hiện việc quản lý ngân quỹ
nhà nước. Trong điều kiện của nền kinh tế thò trường, ngân sách nhà nước (NSNN)
không chỉ đóng vai trò là nguồn vốn tài chính đảm bảo các nhu cầu chi tiêu cho bộ
máy nhà nước, an ninh quốc phòng và các mục đích khác để củng cố chính quyền nhà
nước, mà còn có vai trò to lớn trong điều tiết vó mô nền kinh tế - xã hội. Do đó, KBNN
ngày nay được hiểu là một hệ thống tổ chức có nhiệm vụ chấp hành, đôn đốc việc
chấp hành các hoạt động tài chính của nhà nước, giúp chính quyền quản lý quỹ tiền tệ,
tài sản của nhà nước; chòu trách nhiệm giải quyết các khoản chi tiêu công, tập trung
các khoản thu thuế và thu khác về quỹ NSNN; huy động vốn dưới hình thức phát hành
công trái, trái phiếu chính phủ nhằm bù đắp các khoản bội chi NSNN và cho đầu tư
phát triển.
1.1.2- Đặc điểm của Kho bạc nhà nước trong nền kinh tế thò trường
- Thứ nhất, KBNN là kho ngân quỹ nhà nước.
Mọi khoản tiền, tài sản của nhà nước đều được tập trung vào Kho bạc. Với đặc
điểm này, KBNN thực hiện việc phản ảnh các nguồn thu thông qua thuế, phí, lệ phí và
các khoản thu khác vào NSNN và thực hiện điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân
sách theo luật đònh; thực hiện quản lý các khoản chi NSNN, là người kiểm soát cuối
cùng trước khi tiền ra khỏi NSNN để thực hiện chi tiêu của nhà nước đúng mục đích;
đồng thời tổ chức hạch toán NSNN, hạch toán kế toán các qũy và tài sản của nhà nước
giao cho KBNN quản lý.
- Thứ hai, KBNN là công cụ quản lý quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ cho lợi
ích cộng đồng.
7
Trên cơ sở nguồn lực tài chính được tập trung, KBNN kiểm tra, kiểm soát việc phân
phối và sử dụng các nguồn thu từ thuế và các nguồn thu khác để cung cấp tài chính đối
với các loại hàng hoá, dòch vụ cho nhu cầu cơ bản phục vụ lợi ích cộng đồng .
- Thứ ba, hoạt động của KBNN gắn liền với việc thực hiện dự toán thu chi NSNN.
Dự toán thu - chi của nhà nước là đặc trưng cơ bản của NSNN. KBNN dựa vào dự toán
NSNN để kiểm soát quá trình chấp hành NSNN; đảm bảo quá trình phân phối và sử
dụng vốn tiền tệ của ngân sách có hiệu quả.
1.1.3- Chức năng của hệ thống KBNN Việt Nam
1.1.3.1- Chức năng quản lý nhà nùc về quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác của nhà
nước
Quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác của nhà nước là chức năng cơ bản
của KBNN. KBNN quản lý và điều hành quỹ NSNN bằng luật, chính sách tài chính và
các công cụ nghiệp vụ. Quản lý và điều hành NSNN phải tuân thủ nghiêm ngặt các
giai đoạn kế hoạch hoá NSNN: từ khâu lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.
Ở khâu lập dự toán NSNN, với tư cách là cơ quan tham gia quản lý nhà nước về
quỹ NSNN, KBNN cung cấp thông tin về tình hình thực hiện dự toán NSNN năm trước,
giúp cho Chính phủ và các cấp chính quyền có thêm cơ sở cùng với các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh để lập và phân phối nguồn lực tài
chính có hiệu quả.
Ở khâu chấp hành NSNN, KBNN đóng vai trò quan trọng trong cả khâu hạch
toán kế toán, kiểm soát và thanh toán. Đối với các khoản thu NSNN, KBNN có nhiệm
vụ phối hợp chặt chẽ với cơ quan Thuế, Hải quan và các Bộ, Ngành tập trung nhanh và
kòp thời mọi nguồn thu vào KBNN cho NSNN, đồng thời KBNN kiểm tra, kiểm soát
việc chấp hành kỷ luật thu nộp và phân chia các khoản thu theo tỷ lệ % giữa các cấp
ngân sách theo đúng qui đònh của pháp luật. Đối với các khoản chi NSNN, KBNN vừa
làm nhiệm vụ phục vụ cho việc chi tiêu của đơn vò thụ hưởng NSNN vừa là người kiểm
tra, kiểm soát nhằm làm cho mọi khoản chi tiêu công đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu
chuẩn, đònh mức và có hiệu quả nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
8
Ở khâu quyết toán NSNN, KBNN thực hiện hạch toán kế toán NSNN, đònh kỳ
báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi NSNN cho cơ quan tài chính và cơ quan nhà
nước hữu quan. Các số liệu báo cáo thu, chi về NSNN được KBNN đối chiếu xác nhận.
Như vậy, KBNN là đơn vò thực hiện báo cáo quyết toán NSNN nhằm giúp cho chính
phủ điều hành NSNN.
Bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là quản lý nhà nước về quỹ NSNN, KBNN được
giao nhiệm vụ tổ chức quản lý quỹ ngoại tệ tập trung và các quỹ dự trữ tài chính nhà
nước. Thông qua nghiệp vụ quản lý đề xuất những biện pháp, chính sách quản lý và sử
dụng có hiệu quả quỹ dự trữ, phục vụ mục đích chính trò, kinh tế, xã hội và an ninh
quốc gia. Ngoài ra KBNN còn quản lý tiền gởi, tài sản của các đơn vò, cơ quan nhà
nước, các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước có tài khoản giao dòch tại kho bạc, tiền,
tài sản thế chấp, ký cược của các đơn vò, tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước…
1.1.3.2- Chức năng huy động vốn để cân đối NSNN và phục vụ cho đầu tư phát triển
Trên cơ sở mức bội chi đã được Quốc hội thông qua hàng năm, KBNN thực hiện
việc huy động vốn thông qua đấu thầu tín phiếu kho bạc ngắn hạn qua ngân hàng nhà
nước để cân đối và bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN trong năm tài chính khi các
nguồn thu NSNN chưa tập trung về kòp thời. Mặt khác, KBNN thông qua hình thức
phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ để huy động vốn trung và dài hạn nhằm bù
đắp sự mất cân đối của NSNN, vừa bổ sung nguồn vốn cho các chương trình mục tiêu
của Chính phủ phục vụ đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài ra, KBNN thực hiện
phát hành trái phiếu cho các công trình, dự án thuộc diện được Nhà nước đầu tư nhưng
chưa bố trí vốn trong năm kế hoạch. Nguồn vốn này tạo điều kiện phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội của đất nước thuộc phạm vi quản lý của các Bộ ngành, đòa phương.
Trong cơ chế kinh tế thò trường có sự điều tiết của nhà nước, để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, hoạt động cho vay của nhà nước phải trên cơ sở chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội. Nguồn vốn cho vay tài trợ của nhà nước phải được tập trung cho các
dự án có ý nghóa then chốt tạo động lực phát triển ngành, vùng hoặc giải quyết các vấn
đề xã hội cấp bách. Nguồn vốn cho vay tài trợ của nhà nước là một bộ phận của quỹ
NSNN và các quỹ tài chính khác của nhà nước.
9
1.1.3.3- Chức năng kế toán công
Thực hiện chức năng này, nhiệm vụ kế toán công của KBNN bao gồm :
- Kế toán quỹ NSNN: Phản ánh, tổng hợp và kiểm tra từng khoản thu và chi NSNN
bằng tiền .
- Kế toán tài sản công và các quỹ nhà nước: phản ánh sự tăng giảm các tài sản
quốc gia cả về mặt giá trò và hiện vật, phản ánh sự tăng, giảm và các nguồn hình thành
quỹ tài chính nhà nước trong các tài khoản tương ứng.
- Kế toán công nợ của nhà nước: KBNN có nhiệm vụ hạch toán đầy đủ các khoản
nợ của nhà nước, bao gồm nợ trong nước dưới các hình thức vay bằng công trái, trái
phiếu… và nợ nước ngoài.
Trong điều kiện hiện nay, cần xác đònh chức năng đúng đắn kế toán công của
KBNN. Phải tách chức năng kế toán khỏi chức năng chuẩn chi. Nâng cao khả năng thu
thập, xử lý và tổng hợp thông tin tại chỗ theo hệ thống dọc. KBNN đảm bảo công việc
lập và thuyết trình báo cáo kế toán về NSNN và quỹ NSNN. Thông qua kế toán,
KBNN phản ánh đầy đủ, trung thực tình hình thu - chi, biến động các nguồn vốn tài
chính; thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin cần thiết về tình hình tài chính quốc
gia giúp cho Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp điều hành ngân sách.
1.2 - Những vấn đề cơ bản về chi tiêu công
1.2.1- Khái niệm về chi tiêu công và quản lý chi tiêu công
1.2.1.1- Khái niệm chi tiêu công
Khái niệm chi tiêu công, về cả lý thuyết lẫn thực tế, có quan hệ trực tiếp và
không thể tách rời các hoạt động của nhà nước nhằm hai mục đích: cải thiện phân phối
thu nhập trong xã hội, hoặc tạo điều kiện nâng cao hiệu quả nền kinh tế.
Xét về phương diện pháp lý, chi tiêu công là những khoản chi tiêu do các pháp
nhân hành chính nhà nước thực hiện nhằm đạt được mục tiêu kinh tế – xã hội đặt ra.
Xét về bản chất, chi tiêu công là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn lực
tài chính đã được tập trung trong các quỹ của nhà nước theo mục đích sử dụng của các
quỹ. Dựa vào mục đích sử dụng của các quỹ và các mục tiêu quản lý khác nhau để
10
xem xét, đánh giá tính đúng đắn, tính hợp lý của việc phân phối vốn và tính tiết kiệm,
tính hiệu quả của việc sử dụng vốn thuộc các quỹ đó.
Xét một cách tổng quát, một hệ thống chi tiêu công phải đảm bảo nguyên tắc:
- Phân bổ nguồn lực phải phù hợp với các chiến lược được ưu tiên.
- Sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả trong quá trình thực hiện các chiến
lược ưu tiên đó.
- Thông tin trung thực, có cơ sở để cấp có thẩm quyền ra quyết đònh chính
xác và đúng đắn.
- Công khai ngân sách và có trách nhiệm giải trình các khoản chi tiêu công.
1.2.1.2- Khái niệm về quản lý chi tiêu công
Quản lý chi tiêu công là sự phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra
quyết đònh của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính
công nhằm thực hiện tốt các chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước.
Chi tiêu công trực tiếp trả lời câu hỏi nhà nước chi cho cái gì. Còn quản lý chi
tiêu công trả lời cho câu hỏi nhà nước chi như thế nào.
Nội dung quản lý chi tiêu công bao gồm những nội dung sau:
- Phân cấp chi giữa chính quyền trung ương và chính quyền đòa phương.
- Soạn lập ngân sách dựa trên cơ sở dự báo thu nhập và kế hoạch phân bổ nguồn
lực, gắn kết ngân sách với việc đưa ra chính sách.
- Cấp phát, thanh toán và kiểm soát chi.
- Kế toán, báo cáo và đánh giá thực hiện.
- Kiểm toán và giám sát của cơ quan lập pháp và các cơ quan khác.
1.2.2- Vai trò của chi tiêu công
- Trước hết, chi tiêu công có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư
của khu vực tư và chuyển dòch cơ cấu kinh tế.
Vai trò này được thể hiện rõ nét thông qua các khoản chi cho đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng như: đường sá, trường học, bệnh viện, viễn thông, thuỷ lợi, nước sạch,
bảo vệ môi trường,… Bên cạnh đó, nhà nước còn có những chính sách hỗ trợ trực tiếp
cho các doanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau như: trợ giá, hỗ trợ vốn, góp vốn
11
liên doanh, cổ phần, … sự hỗ trợ của nhà nước thường tập trung vào các lónh vực quan
trọng với mục đích bình ổn thò trường và bù đắp những thua thiệt của các doanh nghiệp
phải hoạt động theo chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Đó là chưa kể chính sách hỗ
trợ vô cùng quan trọng và thiết thực của nhà nước về nguồn nhân lực thông qua các
chính sách phát triển hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế
… Tất cả điều đó khẳng đònh vai trò quan trọng của nhà nước trong việc thu hút vốn
đầu tư từ khu vực tư nhân và chuyển dòch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thò trường.
- Chi tiêu công góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế.
Vai trò này biểu hiện ở chỗ, với một khối lượng lớn hàng hoá do nhà nước tiêu
thụ trên thò trường đã làm cho tổng cầu của xã hội được mở rộng. Từ đó tác động trở
lại làm nâng cao khả năng sản xuất phát triển hơn nữa. Với góc độ này, chi tiêu công
đã trở thành công cụ kinh tế quan trọng của nhà nước góp phần tái tạo lại cân bằng của
thò trường hàng hoá khi bò mất cân đối bằng cách tác động vào các quan hệ cung cầu
thông qua tăng hay giảm mức độ chi tiêu công ở thò trường này.
- Chi tiêu công góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân cư,
thực hiện công bằng xã hội.
Về mặt xã hội, nhà nước sử dụng công cụ thuế để động viên nguồn thu cho nhà
nước, thì chi tiêu công lại mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có
thu nhập thấp thông qua các khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình mục
tiêu xoá đói giảm nghèo…
1.2.3- Những đặc điểm của chi tiêu công
Trước hết, chi tiêu công nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở
các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng quản lý toàn
diện nền kinh tế – xã hội của nhà nước. Quá trình thực hiện chức năng này, nhà nước
đã cung cấp một lượng hàng hoá dòch vụ khá lớn cho nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu
cầu của xã hội về hàng hoá công cộng.
Thứ hai, chi tiêu công luôn luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm
vụ kinh tế, chính trò, xã hội mà nhà nước thực hiện. Chính quyền thực hiện chi ngân
sách theo nội dung đã được quy đònh trong phân cấp quản lý NSNN nhằm đảm bảo cho
12
các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển kinh tế – xã hội. Đồng
thời các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết đònh cơ cấu,
nội dung, mức độ của các khoản chi tiêu công.
Thứ ba, chi tiêu công mang tính chất công. Tất cả những khoản chi ngân sách
tương ứng cho những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hoá dòch vụ nhằm thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Đồng thời đó cũng là những khoản chi cần
thiết, phát sinh tương đối ổn đònh như: chi lương cho viên chức nhà nước, chi hàng hoá
dòch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư…
1.2.4- Nội dung chi tiêu công
Chi tiêu công được diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức và có ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế, chính trò, xã hội của một quốc gia. Có nhiều cách
phân loại các khoản chi, nhưng nhìn chung thường chia nội dung chi tiêu công theo một
cơ cấu phù hợp hơn với thông lệ quốc tế là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
1.2.4.1- Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của nhà
nước để đáp ứng các nhu cầu chi như: chi lương, phụ cấp lương, chi nghiệp vụ quản lý
- Chi thường xuyên mang những đặc trưng cơ bản sau:
+ Chi thường xuyên mang tính ổn đònh: Đặc trưng này xuất phát từ sự tồn tại của
bộ máy nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính ổn đònh duy trì sự hoạt động của
bộ máy nhà nước. Tính ổn đònh còn bắt nguồn từ sự ổn đònh trong từng hoạt động cụ
thể của mỗi bộ phận thuộc bộ máy nhà nước.
+ Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội: Các khoản chi thường xuyên
chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước, về quốc
phòng, an ninh, về các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động xã hội khác do nhà nước
tổ chức. Các khoản chi này gắn với tiêu dùng của nhà nước và xã hội mà kết quả của
chúng là tạo ra các hàng hoá và dòch vụ công cho hoạt động của nhà nước và yêu cầu
phát triển của xã hội.
+ Phạm vi, mức độ chi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà
nước: Các khoản chi thường xuyên luôn hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình
13
thường của bộ máy nhà nước, do đó nếu bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu
quả thì số chi thường xuyên sẽ giảm.
- Các khoản chi thường xuyên thường được chia theo từng lónh vực :
+ Chi quản lý hành chính nhà nước: Bao gồm các lónh vực cơ bản sau: Chi về
hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước; chi về hoạt động của hệ thống các cơ
quan pháp luật; chi về hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế - xã hội và
chính quyền các cấp; chi về hoạt động của các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam các
cấp; chi về hoạt động của các tổ chức chính trò xã hội…
+ Chi cho an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: Chi an ninh quốc phòng
được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo sự tồn tại
của nhà nước và hệ thống chính trò, ổn đònh trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ.
Khoản chi này gồm hai bộ phận chi lớn là: chi cho quốc phòng và chi cho an ninh .
+ Chi sự nghiệp văn hoá – xã hội : Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã
hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư. Chi văn
hoá- xã hội gắn liền với quá trình đầu tư phát triển nhân tố con người. Chi văn hoá xã
hội bao gồm các khoản chi: sự nghiệp khoa học – công nghệ, sự nghiệp giáo dục-đào
tạo, y tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục – thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền
hình và các hoạt động khác về văn hoá xã hội…
+ Chi sự nghiệp kinh tế của nhà nước: Việc thành lập các đơn vò sự nghiệp kinh
tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngành và phục vụ chung cho toàn bộ nền kinh tế
quốc dân là hết sức cần thiết. Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do nhà nước thực hiện
để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các thành phần kinh tế.
+ Chi khác : Ngoài các khoản chi thường xuyên lớn thuộc những lónh vực chi
trên còn có các khoản chi khác cũng xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như: chi trợ giá
theo chính sách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay của chính phủ, chi hỗ trợ quỹ BHXH
1.2.4.2 – Chi đầu tư phát triển
Chi đầu tư phát triển là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ của
NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển sản xuất và để dự
14
trữ vật tư hàng hoá, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn đònh và tăng trưởng của
nền kinh tế.
- Xét theo mục đích, chi đầu tư phát triển bao gồm:
+ Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không có
khả năng hoàn vốn: Đây là khoản chi lớn của nhà nước nhằm phát triển kết cấu hạ
tầng đảm bảo các điều kiện cần thiết ban đầu cho nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Do đó tính khả năng hoàn vốn rất thấp, thậm chí có những công trình không có khả
năng hoàn vốn. Trong điều kiện NSNN có hạn, Chính phủ chỉ tập trung ưu tiên những
công trình thiết yếu về giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực năng lượng, các
ngành công nghiệp cơ bản, các công trình trọng điểm phát triển văn hoá -xã hội…
+ Chi đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, góp
vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lónh vực cần thiết có sự tham gia của
nhà nước: Là các khoản chi NSNN để đầu tư hỗ trợ cho sản xuất dưới các hình thức:
Đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; góp vốn cổ phần hoặc liên doanh.
Trong nền kinh tế thò trường, thông qua khoản chi này nhà nước can thiệp vào nền kinh
tế bằng việc nắm những ngành quan trọng, chủ yếu, quy mô lớn để đònh hình nền kinh
tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế nhà nước.
+ Chi thực hiện các chương trình mục tiêu: Là những khoản chi nhằm hỗ trợ vốn cho
các dự án đầu tư phát triển thuộc các ngành nghề ưu đãi và các vùng khó khăn theo
quy đònh của Chính phủ. Thông qua việc thực hiện các chương trình mục tiêu để góp
phần từng bước phát triển những vùng khó khăn nhằm tạo ra việc làm và rút ngắn
khoảng cách về chênh lệnh phát triển kinh tế – xã hội giữa các vùng, các đòa phương.
+ Chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển: Nhằm tạo lập quỹ hỗ trợ phát triển để thực
hiện kế hoạch tín dụng đầu tư của Nhà nước.
+ Chi dự trữ nhà nước: là khoản chi hình thành nên quỹ dự trữ nhà nước nhằm mục
đích dự trữ cho những rủi ro, thiên tai đòch hoạ… đảm bảo cho nền kinh tế – chính trò ổn
đònh.
- Chi đầu tư phát triển từ NSNN có những đặc trưng cơ bản sau:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét