Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Quyết định 3618/2007/QĐ-UBND về đơn giá, trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành

Điều 4. Giá đất để tính bồi thường và chi phí hợp lý đầu tư vào đất còn lại được quy định như sau:
1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đúng quy định của Nhà nước đã
được UBND tỉnh quy định và công bố tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; không bồi thường theo
giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng.
2. Giá đất ở được giao theo quy định tại khoản 7 Điều 3 bản quy định này được xác định bằng giá
đất nông nghiệp tương ứng đã thu hồi cộng với chi phí đầu tư hạ tầng khu dân cư theo quy hoạch
nhưng không được cao hơn giá đất ở có điều kiện tương ứng tại thời điểm thu hồi đất đã được
UBND tỉnh quy định.
3. Giá đất để tính bồi thường đối với đất vườn, ao nằm xen kẽ trong khu dân cư trong cùng một thửa
(thời gian sử dụng lâu dài) nhưng không được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đất ở; được
bồi thường hỗ trợ theo giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất cùng vùng nhân hai lần nhưng
không được cao hơn giá đất ở có giá thấp nhất liền kề.
4. Giá đất trong các trường hợp sau được quy định bằng giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất
cùng vùng:
- Đất vườn, ao trong cùng một thửa có nhà ở nhưng không được xác định là đất ở.
- Đất nông nghiệp nằm trong phạm vi địa giới phường, trong phạm vi khu dân cư thị trấn, khu dân cư
nông thôn đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt.
- Trường hợp đất nông nghiệp nằm trong phạm vi khu dân cư thị trấn, khu dân cư nông thôn chưa có
quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân
cư.
5. Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí hợp lý tính thành tiền đầu tư vào
đất trừ đi số tiền tương ứng với thời gian đã sử dụng đất. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại
gồm:
- Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê
đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp tiền).
- Các khoản chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được giao,
được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất (đối với đất nông nghiệp) phải khấu trừ chi phí đầu
tư đã sử dụng tính theo chế độ khấu hao tài sản cố định hiện hành. Những chi phí không đủ hồ sơ,
chứng từ chứng minh thì không được bồi thường. Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp hoặc đất
ở mà đã được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp hoặc đất ở thì không được bồi thường chi
phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất.
6. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp
đang sử dụng vượt hạn mức đối với các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản 4 Điều
10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP thì được bồi thường theo quy định tại khoản 6 Điều 4 bản quy định
này.
7. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do nhận giao khoán, đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông,
lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi
thường chi phí đầu tư vào đất còn lại được thực hiện theo khoản 5 Điều 10 Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ và Mục 4.4 Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày
7/12/2004 của Bộ Tài chính.
Mức hỗ trợ bằng 50% giá đất bồi thường tính cho diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt
hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;
8. Bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang
bảo vệ an toàn.
a) Khi Nhà nước thu hồi đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn xây dựng công trình công cộng có
hành lang bảo vệ thì thực hiện theo khoản 1 Điều 16 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
b) Trường hợp Nhà nước không thu hồi đất thì đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn được bồi
thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất thực hiện theo
điểm a, điểm c khoản 2 Điều 16 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
Riêng trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại
trong hành lang bảo vệ an toàn của công trình). Nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng của đất thì
được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tế.
Đối với diện tích đất bị hạn chế sử dụng mức bồi thường bằng 50% đơn giá tại thời điểm thu hồi đất.
Chương III:
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN
Điều 5.
1. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại thì được bồi thường.
Giá bồi thường được áp dụng theo các bảng đơn giá bồi thường kèm theo bản quy định này.
Đối với tài sản vật kiến trúc chưa có đơn giá bồi thường thì cho phép vận dụng các đơn giá của các
tài sản vật kiến trúc có kết cấu kỹ thuật, giá trị và giá trị sử dụng tương đương để áp dụng tính giá
bồi thường.
2. Đối với nhà, công trình bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được, hoặc nhà,
công trình xây dựng bị phá dỡ làm ảnh hưởng đến các công trình khác trong cùng một khuôn viên
đất nhưng vẫn tồn tại song không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu thì
được bồi thường cho toàn bộ công trình.
Trường hợp nhà công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được
phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện
phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
3. Một số bộ phận, trang thiết bị của nhà hoặc công trình có thể tháo dời và di chuyển đến chỗ ở mới
thì chỉ bồi thường chi phí vật liệu phụ cho việc lắp đặt lại.
4. Đối với việc bồi thường, di chuyển các công trình văn hóa, di tích lịch sử, nhà thờ, đình, chùa, am,
miếu, nghĩa trang liệt sĩ không theo quy định này. Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ có quyết định cho từng
trường hợp cụ thể đối với công trình do địa phương quản lý.
5. Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật mà không còn sử dụng được hoặc thực tế không sử
dụng thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường.
Điều 6.
Bồi thường về di chuyển mồ mả: Người có mồ mả tự tổ chức di chuyển. Mức bồi thường gồm có chi
phí đào, đắp, vận chuyển tiểu sành bình thường, khối lượng xây cụ thể, lệ phí nghĩa trang và một số
chi tín ngưỡng khác cho cả hai nơi (cũ và mới).
Mồ mả chưa có người nhận thì giao cho chủ dự án chủ trì phối hợp với chính quyền địa phương
thực hiện việc di chuyển.
Mức bồi thường di chuyển được xác định như sau:
ĐVT: Đồng
STT Loại công việc ĐVT Đơn giá
I Mồ mả có người nhận Ngôi
1 Mồ mả đã cải táng - 600.000
2 Mồ mả chưa cải táng -
- Đã chôn trên 36 tháng - 1.200.000
- Đã chôn từ 25 - 36 tháng - 1.560.000
- Đã chôn từ 13 - 24 tháng - 2.040.000
- Đã chôn từ 4 - 12 tháng - 2.640.000
- Đã chôn dưới 4 tháng - 3.240.000
3 Mộ nhất táng (chôn cất 1 lần không
cải táng)
Cộng thêm 10% so với mồ mà
chưa cải táng cùng loại quy định
tại Khoản 2 Mục I và Mục II
II Mồ mả chưa có người nhận Ngôi
1 Đã cải táng - 600.000
2 Chưa cải táng - 1.200.000
III Phần xây mộ
Đo khối lượng cụ thể và vận dụng đơn giá bồi thường vật kiến trúc tương đương để tính
bồi thường
Điều 7.
Bồi thường đối với cây hàng năm thực hiện theo Điều 24 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày
3/12/2004 của Chính phủ.
Điều 8.
Đối với vật nuôi (nuôi trồng thủy sản) được bồi thường như sau:
1. Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không bồi thường.
2. Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt
hại thực tế do phải thu hoạch sớm, trường hợp có thể di chuyển được thì bồi thường chi phí di
chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra. Căn cứ vào thời kỳ sản xuất nuôi trồng thủy sản và thời
điểm thu hồi đất. Mức bồi thường thiệt hại và di chuyển do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư đề nghị nhưng không quá 70% giá trị sản lượng của 1 vụ thu hoạch được tính theo năng suất của
vụ cao nhất trong 3 năm liền kề và giá trung bình tại thời điểm.
Điều 9.
Bồi thường cây lâu năm.
Người có cây phải tự chặt hạ, thu dọn và vận chuyển.
Mức bồi thường theo đơn giá kèm theo bản quy định này:
1. Đối với cây lấy gỗ:
* Cách phân loại: Được xác định bằng đo đường kính thân cây tại vị trí cách mặt đất 1,2m.
* Cây trồng riêng lẻ
- Cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư hoặc đang ở thời kỳ xây dựng cơ bản thì bồi thường chi phí trồng,
chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.
- Cây hết thời gian xây dựng cơ bản gần đến tuổi khai thác thì bồi thường chi phí chặt hạ, thu dọn,
vận chuyển và một phần giá trị cây do khai thác sớm bị giảm sản lượng.
- Cây trồng đã đến tuổi khai thác thì bồi thường chi phí công chặt hạ, thu dọn, vận chuyển.
* Cây trồng theo dự án
- Cây trồng thành rừng theo dự án chưa đến tuổi khai thác, diện tích lớn có dự án được duyệt thì
mức bồi thường được xác định theo chi phí trồng, chăm sóc, chặt hạ đến thời điểm thu hồi. Nếu vốn
trồng rừng thuộc vốn ngân hàng, mức bồi thường bằng tổng cộng chi phí trồng, chăm sóc và lãi vay
ngân hàng theo khế ước.
- Cây trồng thành rừng theo dự án đã đến tuổi khai thác, diện tích lớn có dự án được duyệt thì được
hỗ trợ chi phí chặt hạ. Mức hỗ trợ bằng 10% tổng chí phí dự án đến thời điểm thu hồi.
2. Đối với tre, bương, mai, diễn, nứa :
* Cây trồng riêng lẻ
- Cây đã đến tuổi khai thác bồi thường công chặt hạ, thu dọn và chi phí vận chuyển.
- Cây chưa đến tuổi khai thác bồi thường chi phí chặt hạ, thu dọn, chi phí vận chuyển và một
phần giá trị cây.
* Cây trồng theo dự án
- Cây trồng thành rừng theo dự án chưa đến tuổi khai thác, diện tích lớn có dự án được duyệt thì
mức bồi thường được xác định theo chi phí trồng, chăm sóc đến thời điểm thu hồi. Nếu vốn trồng
rừng thuộc vốn ngân hàng, mức bồi thường bằng tổng cộng chi phí trồng, chăm sóc và lãi vay ngân
hàng theo khế ước.
- Cây trồng thành rừng theo dự án đã đến tuổi khai thác, diện tích lớn có dự án được duyệt thì được
hỗ trợ chi phí chặt hạ. Mức hỗ trợ bằng 10% tổng chi phí dự án đến thời điểm thu hồi.
3. Đối với cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày:
* Đối với số cây chính trồng theo quy hoạch bảo đảm mật độ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định cho
từng loại cây.
Cách phân loại được xác định bằng đo đường kính tại vị trí cách mặt đất 1,5m, diện tích tán lá đo
bình quân độ phát triển của tán lá chiếu thẳng xuống mặt đất.
Riêng đối với cây ghép, chiết, đường kính đo tại vị trí chia nhánh của cây.
- Cây đang trong thời kỳ thu hoạch bồi thường theo giá trị còn lại của cây, chi phí chặt hạ, thu dọn,
vận chuyển.
- Cây chưa hoặc bắt đầu thu hoạch bồi thường chi phí trồng, chăm sóc từ khi trồng đến khi thu hồi
đất. Chi phí chặt hạ, thu dọn, vận chuyển.
* Đối với cây trồng xen ghép và cây trồng quá mật độ quy định mức bồi thường tối đa không quá
30% đơn giá so với cây trồng cùng loại.
* Trường hợp cây già cỗi không còn cho thu hoạch thì xếp theo loại chưa thu hoạch có mức thu bồi
thường cao nhất của từng loại cây tương đương.
4. Đối với cây trồng đặc sản có năng suất cá biệt, cây đặc biệt quý hiếm, chu kỳ sinh trưởng quá dài,
các loại hoa cây cảnh đặc biệt… tùy theo từng trường hợp cụ thể Hội đồng bồi thường đề nghị đơn
giá riêng trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
5. Những cây chưa có trong quy định thì vận dụng loại cây có điều kiện sinh trưởng, chi phí trồng,
chăm sóc và giá trị tương đương để áp giá bồi thường.
Chương IV:
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
Điều 10.
1. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất thực hiện theo Điều 28, Nghị định số: 197/2004/NĐ-
CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ và khoản 3 Điều 4 Nghị định số: 17/2006/NĐ-CP ngày
16/01/2006 của Chính phủ bổ sung Điều 28 Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP.
Mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ bổ sung tại khoản 3 Điều 28 Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP của
Chính phủ.
a) Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010; trực tiếp sản xuất nông nghiệp
có đất nông nghiệp bị thu hồi được hỗ trợ trong thời gian 3 năm theo số nhân khẩu có trong sổ hộ
khẩu theo các mức sau:
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% đến 50% diện tích đất nông nghiệp được giao, mức
hỗ trợ: 1.000.000/khẩu/năm;
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 50% đến 70% diện tích đất nông nghiệp được giao, mức
hỗ trợ: 1.200.000/khẩu/năm;
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp được giao, mức hỗ trợ:
1.400.000/khẩu/năm;
b) Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo bị thu hồi đất ở được hỗ trợ trong thời gian 3 năm theo
số nhân khẩu có trong hộ khẩu như sau:
ĐVT: Đồng/khẩu
STT Diễn giải Khu vực nông thôn Khu vực đô thị
1 Diện tích đất ở bị thu hồi trên 30% đến
50 diện tích đất ở được giao
800.000 900.000
2 Diện tích đất ở bị thu hồi trên 50% đến
70% diện tích đất ở được giao
900.000 1.000.000
3 Diện tích đất ở bị thu hồi trên 70% diện
tích đất ở được giao
1.000.000 1.100.000
c) Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo trực tiếp sản xuất nông nghiệp có đất ở và đất nông
nghiệp bị thu hồi chỉ được áp dụng một hình thức hỗ trợ ở mức cao nhất.
2. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp
được giao mà không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng; không được bồi
thường bằng đất ở quy định tại khoản 7 Điều 3 bản quy định này thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề
nghiệp và tạo việc làm theo quy định như sau:
a) Được giao đất có thu tiền sử dụng đất tại vị trí có thể làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch
vụ phi nông nghiệp theo quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt; diện tích được giao
cho mỗi hộ tính bằng 8% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của hộ đó; nếu diện tích đất sản xuất
hoặc kinh doanh không đủ 1 ô theo quy hoạch hoặc đã đủ 1 ô hay nhiều ô quy hoạch, phần diện tích
đất còn lại không đủ 1 ô theo quy hoạch thì các hộ có quyền thỏa thuận, góp vốn hoặc chuyển
nhượng cho nhau. Nếu không thỏa thuận được thì Hội đồng đấu giá cấp huyện đứng ra tổ chức đấu
giá và trả tiền cho các hộ có liên quan. Chi phí phục vụ cho công tác tổ chức đấu giá thực hiện theo
quy định hiện hành và khấu trừ vào số tiền đấu giá đất thu được trước khi thanh toán cho các bên có
liên quan.
b) Trường hợp đặc biệt không có đất để giao theo điểm a nêu trên thì những thành viên trong hộ gia
đình còn trong độ tuổi lao động được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu
bằng hình thức học nghề tại các cơ sở dạy nghề:
- Nếu hộ có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% đến 50% diện tích đất sản xuất nông
nghiệp được giao thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho 01 người trong độ tuổi lao động hoặc
còn khả năng lao động.
- Nếu hộ có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 50% đến 70% diện tích đất sản xuất nông
nghiệp được giao thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho 02 người trong độ tuổi lao động hoặc
còn khả năng lao động có tên trong sổ hộ khẩu của hộ.
- Nếu hộ có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên 70% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được
giao thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho tất cả những người trong độ tuổi lao động hoặc còn
khả năng lao động có tên trong sổ hộ khẩu của hộ.
Mức hỗ trợ cho 1 suất lao động: 300.000đ tháng x 5 tháng = 1.500.000đ.
3. Hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với công tác đào (đắp) ao.
Chi phí hợp lý đầu tư vào đất còn lại đối với công tác đào (đắp) ao là các chi phí thực tế người sử
dụng đất đã đầu tư kinh phí đào (đắp) ao để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến
thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi hết được xác định như sau:
3.1. Thời gian (thời hạn) tối đa để thu hồi chi phí hợp lý đầu tư vào đất đối với công tác đào (đắp) ao
cho các hộ dân chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất nuôi trồng thủy sản được cấp có thẩm
quyền cho phép quy định tại Điều 36, 37 Luật Đất đai năm 2003 và đất vườn trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ghi sử dụng lâu dài có chi phí đào hoặc đắp ao.
3.1.1. Người sử dụng đất được sử dụng đất có thời hạn: Được tính từ ngày có quyết định giao đất,
cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp đất được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất trước ngày 15/10/1993 thì thời hạn giao đất, cho thuê đất được tính từ ngày 15/10/1993.
Nếu có chi phí đầu tư vào đất đối với công tác đào (đắp) ao phát sinh sau thời điểm 15/10/1993 thì
thời gian (thời hạn) để thu hồi chi phí đã bỏ ra tính từ ngày có chi phí đào (đắp) đến thời điểm cuối
đã được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng tối đa không quá 20 năm.
3.1.2. Đối với đất vườn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi sử dụng lâu dài: Được tính từ
ngày có quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp đất được Nhà nước
giao đất trước ngày 15/10/1993 thì thời gian để tính thu hồi chi phí hợp lý cho công tác đào (đắp) ao
được tính từ ngày 15/10/1993. Nếu có chi phí đầu tư vào đất đối với công tác đào (đắp) phát sinh
sau thời điểm 15/10/1993 thì thời gian (thời hạn) để thu hồi chi phí đã bỏ ra tính từ ngày có chi phí
đào, đắp đến ngày 15/10/2023 (tối đa không quá 30 năm).
3.2. Thời gian còn lại để xác định chi phí đầu tư vào đất cho công tác đào (đắp) ao chưa thu hồi
được do Nhà nước thu hồi đất trước thời hạn được tính từ thời điểm quyết định thu hồi đất của cấp
có thẩm quyền đến thời hạn tối đa cho phép tương ứng với thời hạn đã ghi tại điểm 3.1.1, điểm 3.1.2
khoản 3 điều này.
3.3. Đơn giá đào đắp bờ ao:
- Đơn giá đào ao (khối chìm): 21.000đ/m
3
.
- Đơn giá đắp bờ ao: 12.000đ/m
3
.
3.4. Trách nhiệm của người có đất bị thu hồi, Hội đồng bồi thường và chủ dự án; căn cứ vào kỹ thuật
nuôi cá ao nước tĩnh để xác định độ sâu đào hoặc đắp.
3.4.1. Người có đất bị thu hồi: Phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thực tế chứng minh khối lượng đào
hoặc đắp có xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm đào hoặc đắp.
3.4.2. Hội đồng bồi thường phải kiểm kê chính xác khối lượng đào hoặc đắp tại hiện trường của
người có đất bị thu hồi và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về số liệu kiểm kê.
3.4.3. Độ sâu đào hoặc chiều cao đắp bờ được quy định tối đa để xác định chi phí hợp lý cho khối
lượng đào (đắp) ao quy định tại Điểm 3.1.1, Điểm 3.1.2 điều này.
- Độ sâu áp dụng cho công tác đào ao tối đa 1,3m.
- Độ cao bờ ao được đắp tối đa so với mặt nước nuôi trồng thủy sản ở mức nước cao nhất là 0,5m
hoặc từ mặt đáy đến mặt trên của bờ đắp tối đa 1,8m.
3.5. Mức hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với công tác đào (đắp) ao.
3.5.1. Mức 1: Hỗ trợ 100% chi phí đầu tư vào đất còn lại cho các hộ dân nếu có đầy đủ hồ sơ, chứng
từ thực tế chứng minh tại thời điểm xác định chi phí đầu tư cho công tác đào (đắp) ao được bồi
thường theo Điều 9, Mục 3 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Thông tư số
116/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính và quy định tại điểm 3.1.1, điểm 3.1.2 và điểm 3.4.3 điều này.
3.5.2. Mức 2: Hỗ trợ 70% chi phí đầu tư vào đất còn lại cho các hộ dân không có đầy đủ hồ sơ quy
định với mức 1.
Các hộ dân có đất bị thu hồi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thời hạn ghi là ao (mặt
nước nuôi trồng thủy sản) hoặc không phải là đất chuyên trồng lúa nước sang đất nuôi trồng thủy
sản; khi kiểm kê có ao. Nếu có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thực tế chứng minh tại thời điểm xác định chi
phí đầu tư vào đất còn lại được bồi thường theo Điều 9 mục 3 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày
3/12/2004 và Thông tư số 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính. Nếu không đầy đủ hồ sơ chứng từ
thực tế chứng minh đào (đắp) ao còn lại được hỗ trợ chi phí cải tạo nạo vét ao mức 5.000đ/m
2
theo
diện tích có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã ghi là ao, mặt nước nuôi trồng thủy sản
nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 13.000.000đ/hộ.
3.6. Hỗ trợ chi phí còn lại cho công tác đào (đắp) ao ngoài quy định tại điểm 3.1, 3.11, 3.12 khoản 3
Điều 10 bản quy định này. Tùy theo tính chất của từng dự án đầu tư, loại đất sử dụng có liên quan
đến công tác đào (đắp) ao Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ có quyết định riêng cho từng trường hợp trên cơ
sở ý kiến đề xuất của UBND các huyện, thành, thị và Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng.
Điều 11.
1. Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở được hỗ trợ như sau:
- Phạm vi trong tỉnh: + Mức: 2.000.000đ/hộ dưới 10km.
+ Mức: 3.000.000đ/hộ trên 10km.
- Phạm vi ngoài tỉnh: Mức: 5.000.000đ/hộ.
2. Người bị thu hồi đất, không còn chỗ ở khác được hỗ trợ tiền thuê nhà tối đa 4 tháng kể từ khi giao
đất ở tại khu tái định cư. Việc hỗ trợ tính theo nhân khẩu có tên trong bìa hộ khẩu tại thời điểm thu
hồi đất, các mức hỗ trợ như sau:
a) Khu vực nông thôn: 100.000 đồng/khẩu/tháng.
b) Khu vực thành thị: 120.000 đồng/khẩu/tháng.
Trường hợp di dời sớm trước khi bố trí đất ở khu tái định cư được tăng thêm 20% so với mức trên
cho số thời gian tương ứng.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước khi Nhà nước
thu hồi đất phải phá dỡ nhà, phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển bằng 20% mức
quy định tại khoản 1 Điều 11 bản quy định này.
Điều 12.
Trường hợp đất thu hồi thuộc quỹ công ích của xã, phường, thị trấn mức hỗ trợ như sau:
- Hỗ trợ 80% mức bồi thường đối với phường, thị trấn.
- Hỗ trợ 80% mức bồi thường với các xã còn lại.
Chương V:
TÁI ĐỊNH CƯ
Điều 13.
Người có đất bị thù hồi thì được thực hiện tái định cư theo Điều 33, 34, 35, 36, 37 của Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ và khoản 5 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP
ngày 27/01/2006.
Điều 14.
Hỗ trợ sản xuất và đời sống khu tái định cư quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP
ngày 27/01/2006 được quy định cho hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở phải tái định cư thì việc tái
định cư phải gắn với tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp:
1. Nếu hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không được Nhà nước bồi thường
bằng đất nông nghiệp tương ứng với đất nông nghiệp bị thu hồi; đất ở quy định tại khoản 7 Điều 3
bản quy định này thì việc bố trí tái định cư được gắn liền với giao đất làm mặt bằng sản xuất, dịch vụ
phi nông nghiệp được thực hiện theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 10 bản quy định
này.
2. Nếu hộ gia đình, cá nhân sản xuất dịch vụ phi nông nghiệp thì việc xác định tái định cư phải gắn
với tạo việc làm từ sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp
cho những thành viên hộ gia đình còn trong độ tuổi lao động có mặt thực tế, mức hỗ trợ
1.500.000đ/người.
Chương VI:
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 15.
1. Giao Chủ tịch UBND huyện, thành, thị thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất. Căn cứ quyết định thu hồi đất của dự án tổ chức kiểm kê đất đai, tài sản và ra
quyết định thu hồi đất của từng hộ. Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất đối với các công trình dự án trên địa bàn huyện, thành, thị, bao gồm:
- Các công trình, dự án xây dựng thuộc vốn ngân sách Nhà nước có tổng mức đầu tư dưới 05 tỷ
đồng hoặc có giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dưới 500 triệu đồng.
- Các công trình, dự án xây dựng do các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân đầu tư, xây dựng từ
các nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước.
- Các dự án quy hoạch cấp đất ở cho các hộ dân cư tự xây dựng.
2. Thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thành, thị gồm có:
- Lãnh đạo UBND huyện: Chủ tịch Hội đồng;
- Lãnh đạo phòng Tài chính - Kế hoạch: Phó Chủ tịch Hội đồng;
- Chủ đầu tư: Ủy viên thường trực;
- Đại diện phòng Tài nguyên và Môi trường: Ủy viên;
- Đại diện UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi: Ủy viên;
- Đại diện của những hộ có đất bị thu hồi: Ủy viên;
- Một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định cho phù
hợp với thực tế.
3. Nhiệm vụ của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư, đơn giá bồi thường đã được UBND tỉnh quy định, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dựng các công trình, dự án trên địa bàn huyện,
thành, thị báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư theo phương án đã được phê duyệt;
Điều 16.
Trình tự, thủ tục thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất.
1. Việc xác định chủ trương thu hồi đất (đối với trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch) hoặc ra văn
bản chấp thuận địa điểm đầu tư (đối với trường hợp thu hồi đất theo dự án) được thực hiện dựa vào
các căn cứ sau:
a) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng địa
điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt theo quy định của
pháp luật.
b) Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong hồ sơ dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và
pháp luật về xây dựng.
- Đối với dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất được
xác định theo quyết định phê duyệt dự án của cơ quan có thẩm quyền.
- Đối với dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất được
xác định theo văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất của Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
- Đối với dự án xây dựng cơ sở tôn giáo thì nhu cầu sử dụng đất được xác định của UBND tỉnh.
c) Các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, c, d, e, g và h; khoản 1 và các điểm a, c, d
khoản 2 Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; khoản 3 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP; Điều
34, 35 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
2. UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện ban hành văn bản về chủ trương thu hồi đất hoặc văn bản
chấp thuận địa điểm đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 16, quy định này.
3. UBND cấp huyện nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm chỉ đạo phổ biến rộng rãi chủ trương thu hồi
đất các quy định về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; UBND cấp xã nơi
có đất bị thu hồi có trách nhiệm niêm yết công khai chủ trương thu hồi đất tại trụ sở UBND cấp xã và
tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi, thông báo rộng rãi trên hệ thống đài truyền
thanh cấp xã.
4. Căn cứ vào văn bản của UBND nêu tại khoản 2 Điều 16 bản quy định này, cơ quan Tài nguyên và
Môi trường chỉ đạo văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cùng cấp thực hiện hoặc trực tiếp thực
hiện (đối với nơi chưa có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) việc chuẩn bị hồ sơ địa chính cho
khu đất bị thu hồi theo các quy định sau đây:
a) Chỉnh lý bản đồ địa chính cho phù hợp với hiện trạng và làm trích lục bản đồ địa chính đối với
những nơi đã có bản đồ địa chính chính quy hoặc trích đo địa chính đối với nơi chưa có bản đồ địa
chính chính quy.
b) Hoàn chỉnh và trích sao hồ sơ địa chính (sổ địa chính) để gửi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường và giải phóng mặt bằng.
c) Lập danh sách các thửa đất bị thu hồi với các nội dung: Số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, tên
người sử dụng đất, diện tích của phần đất có cùng mục đích sử dụng, mục đích sử dụng đất.
5. Đối với khu đất phải trích đo địa chính thì UBND cấp huyện nơi có đất bị thu hồi thông báo bằng
văn bản cho người sử dụng đất thuộc khu vực phải thu hồi đất về việc đo địa chính. Người sử dụng
đất có trách nhiệm chấp hành, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo đạc xác định hiện
trạng thửa đất.
6. Kinh phí chi cho việc chỉnh lý bản đồ địa chính, trích lục bản đồ địa chính, trích đo địa chính, trích
sao hồ sơ địa chính do chủ đầu tư dự án chi trả đối với trường hợp thu hồi đất theo dự án, do tổ
chức phát triển quỹ đất chi trả đối với trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch.
7. Phương án bồi thường do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập phải xác định tổng mức
bồi thường cho toàn bộ diện tích đất thu hồi, toàn bộ tài sản hiện có trên đất và các khoản hỗ trợ
theo quy định; xác định mức bồi thường, hỗ trợ cho từng chủ sử dụng đất.
8. Thủ tục hồ sơ bồi thường
- Thông báo văn bản về chủ trương thu hồi đất của cấp có thẩm quyền.
- Quyết định thu hồi, giao, cho thuê đất của dự án và quyết định thu hồi đất đến từng hộ của cấp có
thẩm quyền.
- Sơ đồ hiện trạng khu đất xây dựng.
- Biên bản giao mốc giới đất xây dựng công trình tại thực địa.
- Giấy tờ hợp pháp, hợp lệ liên quan đến việc sử dụng đất của người có đất đang sử dụng bị thu hồi.
- Biên bản kiểm kê của Hội đồng bồi thường.
- Phương án bồi thường do chủ đầu tư hoặc Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng lập.
- Bảng tổng hợp kinh phí.
- Bảng tổng hợp diện tích đất thu hồi và tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi trên diện tích đất nông nghiệp
được giao của từng hộ.
- Tờ trình xin thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường.
- Sổ hộ khẩu.
- Các giấy tờ khác có liên quan.
Điều 17.
Thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
1. Các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án không thuộc quy định tại
khoản 1 Điều 15 tại bản quy định này.
2. Nội dung thẩm định
- Việc áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ của dự án.
- Việc áp giá đất, giá tài sản để tính bồi thường.
- Phương án bố trí tái định cư.
3. Việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do Sở Tài chính chủ trì phối hợp với
các cơ quan liên quan đảm bảo phù hợp với tính chất của từng dự án, trình UBND tỉnh phê duyệt.
4. Thời gian thẩm định tối đa là 15 ngày làm việc. Kể từ ngày nhận được đề nghị phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án.
5. Kinh phí cho việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được trích không quá
10% trong tổng số kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Tùy theo quy mô tính chất, đặc điểm của từng dự án. Việc chi tiêu, thanh toán quyết toán được thực
hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 18.
1. Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường giải phóng mặt bằng đã được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi
đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất. Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết
định thu hồi đất thì UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người
bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại.
2. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện
nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền
phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách Nhà
nước.
Nghĩa vụ tài chính bao gồm:
- Tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê, thuế thu nhập từ
chuyển quyền sử dụng các thửa đất khác của người có đất bị thu hồi (nếu có), tiền thu từ xử phạt vi
phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng
đất đai, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai.
- Trường hợp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp lớn hơn hoặc bằng tiền bồi thường
đất thì số tiền được trừ tối đa bằng số tiền bồi thường về đất.
Điều 19.
1. Đối với những dự án, hạng mục đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; những
dự án, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc đang thực hiện chi
trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước khi quyết định có hiệu
lực thi hành thì thực hiện theo phương án đã được phê duyệt, không áp dụng hoặc điều chỉnh theo
quy định của quyết định này.
2. Những phương án bồi thường giải phóng mặt bằng được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi
quyết định này có hiệu lực, việc thực hiện bồi thường chậm được xử lý như sau:
a) Nếu việc thanh toán tiền bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra
mà giá đất tại thời điểm bồi thường do UBND cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết
định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi
thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm
có quyết định thu hồi đất.
b) Nếu việc thanh toán tiền bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra thì bồi thường theo giá
đất tại thời điểm có quyết định duyệt phương án bồi thường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét