Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Đổi mới đất nước

hiện công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện để góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới,
đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành một cách căn cơ và bền vững.
Đổi mới toàn diện giáo dục hiện nay cần tập trung vào những nội dung gì?
Thực tế cuộc sống đòi hỏi phải đổi mới toàn diện, đồng thời và đồng bộ trên tất cả
các yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục từ mục tiêu giáo dục, nội dung
chương trình đến phương pháp dạy học, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức
đánh giá.
- Mục tiêu giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ từ con người khoa bảng thành con người
thực tế; từ mục tiêu nhồi nhét kiến thức hàn lâm chuyển thành năng lực làm chủ
cuộc sống; từ cơ chế độc quyền với từng hoạt động đơn lẻ chuyển sang phục vụ xã
hội đa dạng, cạnh tranh với tinh thần hợp tác, thân thiện.
- Nội dung chương trình phải đổi mới từ phân hóa theo môn học thành tích hợp theo
mục tiêu đào tạo; giảm lý thuyết từ chương, tăng cường thực tế; đổi mới mạnh mẽ
từ nhà trường khép kín, gò bó sang giáo dục xã hội, mở rộng cửa trường đưa nhà
trường thâm nhập vào cuộc sống.
- Phương pháp dạy học phải đổi mới từ dạy số đông sang dạy cá thể, dạy cách học;
đổi mới từ dạy áp đặt một chiều của người dạy sang tương tác đa chiều của người
học với thầy cô, bạn bè, sách vở, trong gia đình và ngoài xã hội; không dừng lại ở
lý thuyết, minh họa mà vươn tới hoạt động thực hành, trải nghiệm, làm sinh động
và hiệu quả hơn nội dung giáo dục để đạt yêu cầu mục tiêu giáo dục tốt nhất; làm
cho học sinh thích thú, chủ động và tích cực tự tìm tòi học tập, nâng cao năng lực
tự học, học suốt đời, học ở mọi lúc mọi nơi.
- Đánh giá quá trình dạy học vừa mang tính công nhận nhưng quan trọng hơn còn có
tác dụng định hướng giáo dục rất hữu hiệu – “Thi cử thế nào, thầy và trò dạy và
học như thế ấy!” Phải đổi mới mạnh mẽ hoạt động đánh giá, coi trọng đánh giá của
giáo viên ngay trong quá trình dạy học, đây là hoạt động chủ yếu thay vì tập trung
thi cử cuối khóa nặng nề, đối phó, hình thức, thiếu thực chất thoát ly mục tiêu đào
tạo. Phải tạo điều kiện cho người học tự đánh giá để tự hoàn thiện mình, phải phối
hợp với phụ huynh đánh giá học sinh để tạo sự thống nhất hệ thống giá trị giữa nhà
trường, gia đình và xã hội.
- Cơ chế tổ chức quản lý, phải đổi mới mạnh mẽ từ quan liêu bao cấp sang cơ chế tự
chủ nhà trường, không chờ đợi, ỷ lại vào cấp trên mà phải tạo điều kiện cho từng
giáo viên sáng tạo, tự giác chấp hành luật pháp, thực hiện quy chế với ý thức tổ
chức kỷ luật cao, đồng thời chủ động thể hiện từng động tác giáo dục phù hợp và
hiệu quả với từng học sinh trong quá trình dạy học như những nhà giáo dục thực
thụ.
- Thiết chế tổ chức nhà trường phải đổi mới phù hợp với quan điểm đổi mới, giảm sỉ
số trong lớp từ 35, 45 học sinh xuống còn 20, 30 học sinh; học sinh học tập và hoạt
động cả ngày trong trường (2 buổi/ngày); giáo viên phải có chế độ làm việc cả
ngày (8 giờ) theo đúng quy trình lao động của ngành nghề, nghiên cứu tài liệu, tiếp
cận học sinh, nắm chắc tâm sinh lý lứa tuổi, hoàn cảnh, soạn bài, giảng bài, ra bài
tập kiểm tra, chấm bài, chữa bài, đánh giá nhận xét từng học sinh chu đáo, đúng
mực…thay vì chỉ đến trường theo giờ dạy, vì lao động của nhà giáo là lao động cao
cấp, phức tạp, khác với các ngành nghề lao động giản đơn.
Đổi mới căn bản giáo dục cần tập trung vào những vấn đề gì ? Thực tế vừa
qua cho thấy quá trình phát triển của giáo dục nước ta rất tốt so với điều kiện hoạt
động, cả về quy mô lẫn chất lượng. Nhưng thực tế cũng bộc lộ rất rõ tính thiếu ổn
định, thiếu căn cơ và thiếu bền vững, đòi hỏi quá trình đổi mới toàn diện nói trên
của nhà trường phải được xác lập trên các cơ sở mang tính nền tảng là tư duy, đầu
tư và tổ chức quản lý.
- Đất nước đổi mới từ đại hội Đảng TW lần thứ VI, năm 1986, trước hết là đổi mới
tư duy, nhưng trong lãnh vực giáo dục, đến nay chúng ta vẫn chưa thống nhất tư
tưởng đổi mới, có quá nhiều ý kiến khác biệt nhau, trì kéo,thậm chí triệt tiêu lẫn
nhau làm chậm tiến trình đổi mới, làm giảm niềm tin và sự quyết tâm trong quá
trình vượt khó, đổi mới của đội ngũ. Triết lý giáo dục dạy làm người chưa được thể
hiện đậm nét trong nhà trường, dẫn đến không ít ý kiến cho rằng giáo dục Việt
Nam chưa có triết lý!
Nên, đổi mới tư duy giáo dục là vấn đề tiên quyết trong đổi mới căn bản giáo
dục đất nước.
- Sự bất cập khá lớn của giáo dục nước ta hiện nay là đầu tư giáo dục. Sự bất cập
này không chỉ vì khả năng kinh tế chưa đáp ứng mà chính yếu là bất cập về công
tác kế hoạch, nếu có kế hoạch đầu tư giáo dục tốt, chúng ta sẽ khắc phục một cách
căn cơ những hệ lụy về thu chi tài chánh của nhà trường hiện đang là nỗi ưu tư
không ít của dư luận.
Phải đổi mới mạnh mẽ theo quan điểm đầu tư giáo dục là đầu tư đủ và thực
chất theo yêu cầu mục tiêu đào tạo, đồng thời huy động nguồn đầu tư phù hợp với
đặc điểm dân cư và tinh thần hiếu học vốn có của dân tộc.
- Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, cần thiết chúng ta phải tổ chức bộ
máy quản lý, chỉ đạo và điều hành hoạt động giáo dục tương ứng. Phải phát huy
vai trò của Hội đồng quốc gia giáo dục, nơi quy tụ những nhà khoa học có uy tín,
có năng lực trên các lĩnh vực quản lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục để “thiết
kế” mô hình nhân lực của đất nước trong giai đoạn hiện nay và xây dựng chương
trình đào tạo, xác lập cơ cấu đầu tư, trên cơ sở ấy mà Bộ chuyên ngành sẽ điều
hành”thi công”, đảm bảo yêu cầu mục tiêu đào tạo một cách kỷ cương và hiệu quả.
Là một nhà giáo, có quá trình công tác trong ngành, quán triệt tinh thần NQ XI
của Đảng, thấm nhuần và tâm đắc chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục nước nhà. Xin có đôi lời bày tỏ, nhân dịp đầu xuân.
Tháng 01/2012
Đổi mới toàn diện đất nước - Mệnh lệnh từ cuộc sống
QĐND - Thứ Tư, 12/01/2011, 6:29 (GMT+7)
QĐND - Tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước là quyết tâm chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng. Sau 1/4 thế kỷ khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đi từ những đột phá
ban đầu trong đổi mới tư duy kinh tế, đến nay, thành công của sự nghiệp CNH, HĐH cho phép chúng ta
mạnh mẽ, tự tin trên con đường đổi mới đã được định hình. Tuy nhiên, cuộc sống cũng đang bức thiết
đòi hỏi Đảng phải có bước đột phá về tư duy để tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước. Chúng tôi đã ghi lại
một số ý kiến của các đại biểu về vấn đề này
Nhìn thẳng vào sự thật
Trong phiên trù bị của Đại hội, Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Tuấn Dũng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã dành
cho phóng viên Báo
Quân đội nhân dân
cuộc trao đổi về nhu cầu đổi mới toàn diện đất nước. Đồng chí cho rằng:
- Sau 25 năm đổi mới, chúng ta đã thu được những thành tựu quan trọng. Đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển,
bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được
giữ vững; công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được
nâng lên. Những thành tựu đó là tiền đề để chúng ta bước sang giai đoạn đẩy nhanh CNH, HĐH đất nước. Mặt khác,
những hạn chế bộc lộ trong quá trình đổi mới như: kinh tế phát triển chưa bền vững, tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo
chiều rộng; các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hóa, xã hội, môi trường còn nhiều yếu kém, gây bức xúc xã hội; các
lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số hạn chế Tất cả những vấn đề đó đang đòi hỏi Đại hội lần thứ XI
của Đảng phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật để đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Thực tiễn 25 năm đổi mới cũng chính là thực tiễn "nhìn thẳng vào sự thật" để hoạch định, xây dựng đường lối, chủ
trương đổi mới của Đảng. Đại biểu Nguyễn Thế Kỷ, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, từ Cương lĩnh
năm 1991 đến nay đã 20 năm, thế giới thay đổi rất nhiều, do đó mô hình tăng trưởng của đất nước cũng phải thay
đổi. Trước đây, chúng ta chủ yếu phát triển theo bề rộng, thì nay phải phát triển hợp lý cả bề rộng, chiều sâu, tăng
nhanh giá trị nội địa, phát triển những ngành công nghệ cao để nâng giá trị gia tăng. Đổi mới mô hình tổ chức quản lý,
tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Phải nhìn cả vào thành công lẫn tồn tại,
yếu kém. Trên thực tế, những yếu kém, bất cập hiện nay chính là những điều mà chúng ta chưa nhìn rõ, chưa nhận ra
được bản chất của vấn đề. Trong thời gian qua, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tập hợp được nhiều ý kiến của các tầng
lớp nhân dân góp ý vào các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội lần thứ XI của Đảng. Tổng số ý kiến tăng 150% so với tổng
số góp ý của Đại hội lần thứ X, có những người gửi ý kiến dày hàng trăm trang, có người trình bày với lời lẽ tha thiết,
có người lại viết rất gay gắt Tất cả những điều trên chứng tỏ một điều: Nhu cầu đổi mới toàn diện để phát triển đất
nước trong Đảng, trong nhân dân đều rất bức thiết.
Lắng nghe cuộc sống để đổi mới
Đó là mong muốn của PGS, TS Nguyễn Viết Thông, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương và các đại biểu: Chẩu
Xuân Oanh, Bí thư Huyện ủy Na Hang (Tuyên Quang); Nguyễn Quốc Dũng, Bí thư Huyện ủy Chư Prông (Gia Lai);
Nguyễn Thành Phan, Bí thư Huyện ủy Bình Minh (Vĩnh Long) Mỗi đại biểu quan tâm đến một khía cạnh khác nhau
nhưng cùng chung quan điểm cho rằng: Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay đều cần được đổi mới. Ngay cả
trong tư duy kinh tế, một lĩnh vực mà Đảng ta thể hiện rõ sự nhạy bén, sắc sảo, vững vàng trong đường lối nhưng vẫn
chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Chẳng hạn, cùng với những kết quả to lớn của giai đoạn đầu chuyển sang kinh tế
thị trường, cũng kéo theo những hậu quả về mặt xã hội và môi trường ngày càng tăng (khoảng cách giàu nghèo tăng,
chỉ số về đầu tư so với tăng trưởng ngày càng cao, đó là chưa nói đến hậu quả tiềm tàng của môi trường bị tàn phá
còn kéo dài). Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng thiếu bền vững

Hàng cờ Tổ quốc tung bay trên sân
Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình
Trong các vấn đề nêu trên, nhiều khía cạnh đã được Dự thảo Văn kiện trình Đại hội lần này đề cập như nền kinh tế
còn mang tính gia công trên nền công nghiệp đã bị lạc hậu so với thế giới; tăng trưởng khá nhưng ngân sách còn thiếu
hụt; xuất khẩu chủ yếu là nông sản, khoáng sản và chế biến thô với nguồn lao động phần đông chưa qua đào tạo.
Chất lượng cuộc sống của đa số người dân chưa tương xứng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng thể hiện rõ, đạo đức
xã hội có phần sa sút, xuống cấp Điều mà PGS, TS Nguyễn Viết Thông tâm đắc là các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội
đã nhìn thấu nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực được nhìn nhận sâu sắc, không chỉ đánh giá đúng thực trạng mà đề ra được
giải pháp đổi mới đồng bộ. “Vấn đề là, sau khi đã bàn bạc, thống nhất chủ trương, quan điểm thì cấp ủy các cấp phải
khẩn trương đưa Nghị quyết vào cuộc sống” – đồng chí Nguyễn Viết Thông bày tỏ.
Mệnh lệnh đổi mới toàn diện
Cùng nhìn lại công cuộc đổi mới trong 25 năm qua, đại biểu Nguyễn Văn Nên, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh nói rằng: Trước
tình hình hiện nay, đổi mới là nhu cầu của mọi “ngõ ngách” trong cuộc sống nhưng nếu không kiên định nguyên tắc thì
nhiều địa phương sẽ thấy bối rối trước bộn bề đòi hỏi của cuộc sống. Vì thế, phải luôn nhận rõ nhiệm vụ đổi mới xây
dựng kinh tế vẫn là trọng tâm và xây dựng Đảng là then chốt. Phải thống nhất nhận thức như vậy thì mới tạo ra sức
mạnh của sự đồng thuận về quá trình đổi mới. Đồng chí cũng tán thành ý kiến của đồng chí Vũ Khoan, nguyên Phó
thủ tướng Chính phủ khi nhận định, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020” mà Đại hội XI xây dựng là chiến
lược thứ ba kể từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới. Điểm lại 3 chiến lược này về mặt thể chế có đặc điểm là:
Chiến lược 1991-2000 khái niệm thị trường mới manh nha. Chiến lược thứ hai (2001-2010), thể chế thị trường đã hình
thành trên những nét cơ bản. Còn trong chiến lược thứ ba lần này nêu lên nhiệm vụ hoàn thiện nó. Điều đáng mừng là
các văn kiện đều nhấn mạnh yêu cầu tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, minh bạch đối với mọi
thành phần kinh tế. Vấn đề còn lại là tiến hành nhiều biện pháp mạnh mẽ, kiên quyết để đưa chủ trương đó vào cuộc
sống. Nếu muốn phát triển nhanh và hiệu quả thì đây là con đường quan trọng hàng đầu để đạt được mục tiêu ấy.
Đề cập đến nhu cầu đổi mới chính sách kinh tế - xã hội, đại biểu Nguyễn Văn Nên cho rằng: Vấn đề của chúng ta
nhiều khi không phải là chính sách vì chính sách đã có. Vấn đề là tháo gỡ những vướng mắc. Ví dụ, đầu tư hạ tầng
phải tập trung, không dàn trải; nguồn nhân lực phải được đào tạo bài bản để đáp ứng nhu cầu phát triển. Cụ thể như
dự án đầu tư của Tập đoàn Intel vừa qua, ta mời gọi mãi, họ mới đồng ý vào nhưng khi vào thì nguồn nhân lực công
nghệ thông tin của ta không đáp ứng được nhu cầu của họ Rõ ràng, đòi hỏi của công cuộc đổi mới hiện nay không
chỉ là chủ trương, đường lối, chính sách mà quan trọng nhất là sự “vào cuộc” của toàn bộ hệ thống chính trị đến mỗi
người dân.
Tất cả những vấn đề trên sẽ được Đại hội quyết nghị và có chương trình triển khai thực hiện thỏa đáng.
Ghi chép của
Hồng Hải, Thủy Trường

Tiến sĩ Trần Du Lịch, Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Phải tập trung đổi mới về quản lý nhà nước
Trong các Văn kiện của Đại hội, tôi đặc biệt quan tâm đến Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 2011-2020. Tôi cho rằng tại Đại hội XI, chúng ta phải tập trung tổng kết thực tiễn để hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường (KTTT) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nếu như ở các
kỳ Đại hội trước, chúng ta chủ trương xây dựng, phát triển các mô hình thì đến Đại hội XI, Đảng ta
phải đi đến hoàn thiện mô hình tăng trưởng. Muốn vậy, Đảng phải có chủ trương cơ cấu lại thành
phần kinh tế, tập trung vào các vấn đề then chốt: Thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng, tiếp
tục đẩy mạnh đổi mới cải cách hành chính, chú trọng phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đồng
bộ kết cấu hạ tầng.
Chúng ta cần đột phá vào khâu hoàn thiện thể chế kinh tế. Phải tăng cường tính kỷ cương tiến tới
hoàn thiện hệ thống pháp luật của nền KTTT. Kỷ cương có tuân thủ thì mới có bình đẳng trong môi
trường kinh doanh. Tập trung các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.
Phải tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước trên nền cải cách hành chính. Vấn đề này, Đảng ta đã đề
cập từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay hiệu quả vẫn còn nhiều bất cập, cách phân cấp tổ chức hiện
nay chưa phù hợp. Để đổi mới về quản lý nhà nước, cải cách hành chính có hiệu quả thì phải tập
trung xây dựng, hoàn thiện thể chế. Những gì ở Đại hội X đề ra mà chưa làm được thì ở Đại hội lần
này phải kiểm điểm, đánh giá, rút ra bài học cụ thể để làm bằng được trong nhiệm kỳ mới.
PHAN TÙNG SƠN (
ghi)
Giới trẻ cần làm gì để phát triển đất nước?
Nền kinh tế sau hơn hai mươi năm đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và đang tràn đầy sức
sống, đòi hỏi sức phát triển mới vượt ra “cái áo chật”. Ai phải làm nhiệm vụ của người nấy, song cá nhân tôi gửi gắm,
trông mong rất nhiều vào các bạn trẻ.
Trong tình hình kinh tế đất nước khát bỏng động lực phát triển, xin cho tôi nói thẳng: Giới trẻ Việt Nam không nên và
không được phép trẻ con quá lâu – cũng có nghĩa là không được chậm lớn quá lâu!
Với những người trẻ nghĩ lớn, mỗi bạn trẻ trưởng thành bằng chính kiến do tự mình phấn đấu xác lập nên, các bạn
sẽ xác lập được vị thế của mình trong đất nước, và đất nước ta ngày càng xác lập được vị thế của mình trên trường
quốc tế.
- Cụ thể sự “chậm lớn” đó là gì, thưa ông ?
So với giới trẻ nhiều nước tiên tiến, có lẽ bệnh chậm lớn của giới trẻ nước ta hôm nay chưa được chẩn đoán, xác
luận cặn kẽ.
Bước vào tuổi 18 hay tròn 18 tuổi, dù là còn học tiếp hay bước vào đời, là chúng ta đã phải ý thức được đầy đủ trách
nhiệm và nghĩa vụ với tư cách người thành niên, người lớn.
Đó là ý thức: từ nay ta phải tự đứng trên đôi chân của ta; từ nay mọi việc của ta, liên quan đến đời sống của ta, do ta
quyết định và tự chịu trách nhiệm; từ nay ta là công dân thành niên ngang hàng với mọi công dân trong xã hội về
trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước; từ nay ta là người chủ thành niên của đất nước!
Bước vào tuổi 18 chúng ta không có quyền tiếp tục là trẻ con (hoặc bị coi là trẻ con) nữa. Bước vào tuổi 18 chúng ta
nhất thiết phải bắt đầu thực hiện mọi trách nhiệm và nghĩa vụ của người lớn – bắt đầu từ việc làm chủ chính bản
thân mình.
Một biểu hiện nữa của bệnh “trẻ con quá lâu” hay “chậm lớn” là còn ít dám có những mơ ước táo bạo, trong khi đó
thường hay nặng về những (cái xin tạm gọi là) “mơ ước tầm thường”.
… và dám ước mơ
- Thế nào là mơ ước táo bạo và mơ ước tầm thường, thưa ông ?
“Táo bạo” hay “tầm thường” trước hết cần được xem xét từ những điều kiện cụ thể và bối cảnh sống của chính
mình. Táo bạo hay tầm thường được hiểu ở đây trước hết là so với chính mình, cho chính mình và thế hệ của mình.
Ngó ra bên ngoài, Bill Gates và Barack Obama là hai ví dụ điển hình của những ước mơ táo bạo. Hai người này đã
chọn được ước mơ đúng – cho chính bản thân họ và cho đất nước của họ. Họ có nghị lực, trí tuệ, cách thực hiện
đúng trong môi trường tự do cho những ước mơ như thế. Và họ đã thành công cho đến giờ phút này.
Ở nước ta không hiếm sự thành công của những ước mơ táo bạo, nhưng so sánh với tỷ lệ dân số và quy mô quốc
gia, những ví dụ thành công ở nước ta có thể còn là ít hay quá ít – phần rất quan trọng là do những hạn chế của
trình độ phát triển và những tồn tại ta đang có.
Thế nhưng chờ đợi có được trình độ phát triển và xoá được những yếu kém rồi mới dám mơ ước thì không đáng gọi
là mơ ước nữa. Chẳng dám mơ ước thì chẳng bao giờ làm được gì! Bất chấp những hạn chế, ngày nay, chúng ta có
điều kiện mới mà trước đây không có, hoặc khó tiếp cận, đó là: thông tin. Thông tin ngày nay đã đưa tầm mắt của
chúng ta ra cả thế giới và đến mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Tuổi trẻ với tầm nhìn mới này sẽ chọn được ước mơ táo bạo, dám sống vì ước mơ táo bạo, không cam chịu đói
nghèo, lạc hậu, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp bằng ước mơ táo bạo.
Ước mơ gì là cao đẹp nhất ? Câu hỏi này xưa ngàn đời, và khó ngàn đời! Câu trả lời đã có từ ngàn đời và ngàn đời
nay vẫn xa vời: Tự chủ! Con người tự chủ !
Tự chủ để làm chủ
- Giới trẻ Việt Nam cần xác định cho mình vị trí nào trong quá trình đổi mới và đáp ứng những đòi hỏi của thời
cuộc ?
Vị trí nào ư ? Vị trí làm chủ cuộc đời mình và để từ đó có bản lĩnh làm chủ đất nước. Phải chiếm lĩnh vị trí này, chứ
không phải chỉ có xác định !
Tự các em phải tìm mọi cách đứng vào vị trí của mình, giành lấy vị trí của mình !
Điều này chẳng có gì mới, được nhắc đi nhắc lại đến mòn cả chữ.
Một khi các bạn nhìn thấu mọi chuyện, các bạn sẽ thấy rõ mình đang đứng ở đâu, xuất phát từ điểm nào và sẽ biết
phải làm gì. Nhìn rõ tất cả để mỗi người phải đứng vào đúng vị trí của mình, tự mình quyết định, để vào cuộc, hướng
vào một mục tiêu duy nhất.
Nhìn thẳng vào sự thật với tình yêu nước nồng cháy của tuổi trẻ, để phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”, để tuyên chiến không khoan nhượng với tất cả thói hư tật xấu đang kìm hãm sự
phát triển của nước ta.
- Theo ông, người trẻ cần phải chuẩn bị những gì ?
Tôi nghĩ rằng hầu hết người trẻ đều ý thức được ta là chủ cuộc đời ta và ý chí trở thành người chủ
xứng đáng của đất nước.
Biết yêu trọng danh dự và yêu đất nước, quê hương mình – nguồn lực tinh thần này sẽ thúc đẩy, sẽ hướng dẫn sự
chuẩn bị của mỗi chúng ta để tiếp nhận, để gánh vác trách nhiệm của mình mà thời cuộc đòi hỏi.
- Thế hệ đi trước có thể làm gì để hỗ trợ họ ?
Sao lại cứ phải nói đến hỗ trợ ? Nhưng nếu vẫn phải trả lời, thì việc đáng làm nhất trong nhiều việc người lớn phải
làm để hỗ trợ là luôn thành thực với thế hệ trẻ.
- Hiện người trẻ đã được trao cơ hội và đặt niềm tin đủ để họ làm những gì mà ông kỳ vọng ?
Tôi nghĩ là chưa đủ, còn có tính “gia trưởng” của người lớn. Nói đơn giản là còn có nhiều người lớn thiếu tin tưởng
vào thế hệ trẻ, rồi còn những bệnh của người lớn trong cách cư xử với thế hệ trẻ…
CƠ CHẾ QUẢN LÝ
Công cuộc đổi mới diễn ra trên đất nước ta cho đến nay đă gần 20 năm, và đă đạt
được những thành tựu ban đầu rất quan trọng, góp phần quyết định vào việc đưa
nền kinh tế Việt Nam ra khỏi khủng hoảng, đạt được mức tăng trưởng cao.
Đổi mới là một công cuộc cải cách mang tính chất chuyển đổi từ một
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mang nặng tính quan liêu, bao cấp
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường , có sù quản lư của nhà nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa.
Đó là một quá tŕnh thay đổi rất cơ bản, sâu sắc, với một khối lượng công
việc đồ sộ, phức tạp, mới mẻ và liên quan đến hầu hết các mặt của hoạt
động kinh tế xă hội.
Cho đến nay việc nghiên cứu một cách có hệ thống về công cuộc đổi
mới ở nước ta vẫn là vấn đề đang được đặt ra để đáp ứng nhu cầu xây
dựng các chính sách vĩ mô, tiếp tục thực hiện đổi mới trong thời gian tới.
Bài viết này nh́n lại quá tŕnh đổi mới, đánh giá những kết quả đạt
được và những mặt c̣n tồn tại, những thời cơ và thách thức, từ đó đề ra
những phương hướng và một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và đổi mới
cơ chế quản lư kinh tế ở nước ta.
I. CƠ SỞ LƯ LUẬN CỦA ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LƯ KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
1. Các khái niệm cơ bản:
Chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lư của Nhà
nước là bước ngoặt quan trọng làm thay đổi đời sống kinh tế, xă hội đất nước.Sự
thành công hay không của quá tŕnh chuyển đổi quyết định sự thắng lợi hay không
của quá tŕnh đổi mới.
Quá tŕnh đổi mới kinh tế những năm qua cho thấy rằng việc chuyển nền kinh tế
nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lư của Nhà nước là sự phù hợp
với xu thế phát triển với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, tuy nhiên do chưa
có tiền lệ nào trong lịch sử về quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
nền kinh tế thị trường cho nên công cuộc đổi mới đang đ̣i hái phải giải quyết
nhiều vấn đề lư luận và thực tiễn. Chẳng hạn, hàng loạt các khái niệm, phạm trù
kinh tế mới, hàng loạt các vấn đề về nhận thức lại bản chất của nền kinh tế kế
hoạch hoá, bản chất của nền kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện lịch sử Việt
Nam đang đ̣i hỏi phải luận chứng, giải thích một cách có căn cứ khoa học nhằm
làm cơ sở cho các quyết định của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển kinh
tế-xă hội của đất nước.
Cơ chế quản lư kinh tế hay cơ chế kinh tế của quản lư là một hệ thống những chính
sách và biện pháp do Nhà nước định ra trên cơ sở nhận thức các quy luật kinh tế
nhằm quản lư nền kinh tế- xă hội theo các mục tiêu đă định.
Cơ chế quản lư là sản phẩm chủ quan của hoạt động quản lư sản xuất. Hiệu quả
của nó đến đâu c̣n tuỳ thuộc vào sự nắm bắt quy luật và tŕnh độ tổ chức quản lư
để đảm bảo yêu cầu cao nhất, đólà sự đồng bộ, ăn khớp, nhịp nhàngvà nhạy bén.
Bởi vậy cơ chế quản lư kinh tế là một hệ thống vận hành bao gồm nhiều nôi dung
và thể hiên trên nhiều lĩnh vực.Có thể đề cập đến ba bộ phận chính của cơ chế quản
lư, đó là: công tác kế hoạch hoá, hệ thống các chính sách đ̣n bẩy; xác lập môi
trường kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động tổ chức và quản lư.
Đổi mới cơ chế quản lư kinh tế chính là quá tŕnh hoàn thiện và đổi mới các mặt
nêu trên trong nền kinh tế thị trường.
2. Cơ sở lư luận của đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
2.1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trước năm 1986
Sau khi miền Bắc được hoàn toần giải phóng (1954) Nhà nước bắt tay vào khôi
phục và xây dựng nền kinh tế miền Bắc XHCN. Do điều kiện lịch sử lúc đó, Việt
Nam đă sao chép hầu như nguyên vẹn mô h́nh phát triển kinh tế xă hội và cơ chế
quản lư kinh tế của các nước XHCN đặc biệt là của Liên Xô.
Cơ chế quản lư giai đoạn này có những đặc trưng cơ bản là:
Cơ chế quản lư kinh tế được thiết kế dùa trên cơ sở của chế độ công hữu về TLSX.
Trên thực tế Nhà nước chỉ thừa nhận một thành phần kinh tếXHCN với hai loại
h́nh sở hữu: toàn dân và tập thể. Các thành phần khác bị hạn chế tới mức tối
đa thậm chí bị triệt tiêu.
Nhà nước thực hiện quản lư kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết
với chế độ cấp phát và giao nép theo quan hệ hiện vật là chủ yếu.
Kế hoạch giá trị hầu như không được tính tới. Tiền tệ- một trong những công cụ
năng động nhất trong quản lư kinh tế-không được coi trọng và sử dụng đúng mức.
Tóm lại quan hệ hàng- tiền không được thừa nhận đầy đủ, các công cụ như lăi suất,
thuế, giá cả…không được sử dụng để điều chỉnh các cân đối vĩ mô.
Nhà nước tập trung mọi nguồn thu vào ngân sách TW, v́ vậy cũng bao mọi khoản
cần thiết liên quan đến hoạt động sản xuất và đời sống theolối b́nh quân.
Bộ máy quản lư kinh tế tổ chức cồng kềnh nhưng kém hiệu quả. Biên chế của bé
máy ngày càng ph́nh to, nhưng năng lực lại yếu kém, phong cách quản lư quan
liêu, cửa quyền.
Từ quan điểm lịch sử mà xét, cơ chế kế hoạch hoá đă góp phần đắc lực trong việc
động viên nhân tài, vật lực phục vụ các nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu phù hợp
với t́nh h́nh đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng từ năm 1975, khi đất
nước hoàn toàn thống nhất, t́nh h́nh trong nước cũng như thế giới đă có nhiều biến
đổi, cơ chế này đă bộc lé nhiều mặt tiêu cực chủ yếu:
Động lực của người lao động và cán bộ quản lư bị triệt tiêu, năng suất lao động
ngày càng giảm.
Hiệu quả kinh tế thấp.
Hàng hoá trên thị trường thiếu hụt trầm trọng do việc phân phối định lượng theo
tem phiếu với giá cả hàng hoá được quy định thấp một cách giả tạo và sù chia cắt
thị trường theo kiểu "cát cứ" điạ phương.
Như vậy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này không dùa trên sự gia tăng
NSLĐ mà chủ yểu dùa vào sự gia tăng vốn viện trợ từ bên ngoài và lao động trong
nước. Kết quả là khi tốc độ gia tăng vốn cho sản xuất giảm sút, không theo kịp tốc
độ giảm sót NSLĐ th́ nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, sản xuất tŕ trệ, đ́nh đốn;
hàng hoá ngày càng khan hiếm; giá cả leo thang dẫn đến lạm phát; đời sống người
lao động ngày càng khó khăn hơn…
Chính t́nh h́nh trên đă gây áp lực rất mạnh mẽ từ dưới lên trên nhằm đưa nền kinh
tế thoát khỏi khủng hoảng, từng bước ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân
2.2 Các mô h́nh kinh tế chuyển đổi trên thế giới
Đổi mới là xu thế tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới. Các nước đều tiến hành
đổi mới, theo các mô h́nh kinh tế khác nhau. Chóng ta cùng đi vào t́m hiểu một vài
mô h́nh đổi mới của các nước trên thế giới.
Trung Quốc- đă tiến hành mô h́nh đổi mới theo hướng từ đóng cửa, nửa đóng cửa,
khép kín sang mô h́nh kinh tế thị trường. Việc áp dụng các chính sách mở cửa:
xuất khẩu, phát huy lợi thế so sánh, nguồn nhân lực, sử dụng các biện pháp thu
hót vốn đầu tư nước ngoài, đổi mới hệ thống pháp luật (thuế quan, hạn ngạch ),
thực hiện b́nh đẳng với các thành phần kinh tễ, khu vực kinh tế… đă tạo
mét bước đệm lớn nhằm nâng cao năng suất lao động, tạo công ăn việc làm, phát
triển đồng đều, đa dạng nền kinh tế,việc ra nhập WTO, và những thành tựu đạt
được hiện này như: hàng hoá Trung Quốc tràn ngập thị trường thế giới, giá trị xuất
khẩu đạt phần lớn trong GDP, thu nhập b́nh quân đầu người tăng…là tiền đề
quan trọng để Trung Quốc tiến hành một nền kinh tế mở-hiệu quả và bền vững.
Singapo mét nước thận trọng trong việc gia nhập ASEAN, phát triển nền kinh tế
khép kín. Hiện nay, đă trở thành một trong những nước NICs, có vai tṛ quan trọng
trong khu vực ASEAN. Vói thế mạnh chủ yểu là buôn bán và dịch vụ Singapo
sớm nhận ra lợi thế của ḿnh, tiến hành đổi mới theo hướng một nền kinh tế mở
hoàn toàn, không có một chế độ bảo hộ nào, thực hiện thuế nhập khẩu bằng không
với 1 số ngành, đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương trong khu vực và thế
giới, thực hiện giao lưu công nghệ, khoa học, chú trọng năng lực con người,tập
trung vào việc sản xuất các sản phẩm bán ra nước ngoài, các sản phẩm phục vụ trí
óc…
Nhật Bản trải qua nhiều cuộc khủng hoảng với mét nền kinh tế hướng nội: coi
trọng chuyên môn, tiền lương,uy tín…Hiện nay cũng đă tiến hành đổi mới theo
hướng mở rộng giao lưu công nghệ, lao động, tài chính, ngân hàng…tiến hành cải

Xem chi tiết: Đổi mới đất nước


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét