đơn vị gọi là tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các
ngơn ngữ khác. Chúng có hai đặc điểm cần thiết của một hình vị:
+ Là đơn vị tối giản (đơn vị ngơn ngữ nhỏ nhất có nghĩa).
+ Có giá trị về mặt ngữ pháp.
Tuy nhiên, giữa tiếng của tiếng Việt và hình vị của nhiều ngơn ngữ thuộc
loại hình khác cũng có những điểm khác nhau khá căn bản như sau:
Trước hết, xét về hình thức chúng ta thấy rằng ở các ngơn ngữ thuộc loại
hình khác, ví dụ như ở nhiều ngơn ngữ Ấn - Âu, hình vị chỉ là đơn vị thuần ngữ
pháp, hồn tồn khơng có liên quan gì đến cái đơn vị ngữ âm gọi là âm tiết cả.
Hình vị ở các ngơn ngữ này khi thì có dạng ngữ âm là một âm vị, khi thì có dạng
ngữ âm là một tập hợp bất kì của nhiều âm vị (có thể nhỏ hơn âm tiết; bằng âm
tiết; hoặc lớn hơn âm tiết). Vì vậy, xác định âm tiết và xác định hình vị những
ngơn ngữ này là hai q trình, đưa đến những kết quả khác nhau.
Ở tiếng Việt, tình hình hồn tồn ngược lại. Giữa hình vị và âm tiết có
mối tương quan rõ rệt. Giữa âm tiết và hình vị bao giờ cũng có một sự tương
ứng một đối một, sự tương ứng hồn tồn. Mỗi tiếng trong tiếng Việt đứng về
mặt ngữ âm chính là một âm tiết, đứng về mặt ngữ pháp chính là một hình vị.
Cho nên ở tiếng Việt, phân tích câu nói ra thành âm tiết và phân tích câu nói ra
thành hình vị bao giờ cũng đưa đến một kết quả giống nhau: Đó là chia tách câu
nói ra thành từng tiếng một.
Mặt khác, xét về nội dung, hình vị tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nội
dung được thể hiện. Chí ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ). Sự có
mặt hay khơng có mặt của tiếng trong một ngữ đoạn nào đó bao giờ cũng đưa
đến tác động nhất định về mặt này hay mặt khác.
Ví dụ: đỏ - đo đỏ - đỏ chói - đỏ sẫm…
Đến đây có thể kết luận rằng, tiếng trong tiếng Việt khơng hồn tồn là
hình vị bình thường như hình vị của nhiều ngơn ngữ khác. Tiếng là một loại
hình vị đặc biệt: một hình tiết, tức âm tiết có giá trị hình thái học.
2. Về mặt cấu trúc của từ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Có nhiều tiêu chí để phân chia chúng thành các tiểu loại khác nhau. Nếu
dựa vào sự đồng nhất và khác biệt về phương thức cấu tạo, các từ trong tiếng
Việt được chia thành 2 loại lớn là: từ đơn và từ phức, trong đó từ phức gồm: từ
ghép, từ láy và từ ngẫu hợp.
2.1. Từ đơn
Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng (còn gọi là các từ đơn tiết).
Ví dụ: ăn, ngủ, nhà, cửa, vui, buồn…
2.2. Từ ghép
2.2.1. Định nghĩa
Là những từ được tạo nên bằng cách ghép các tiếng lại mà giữa các tiếng
có quan hệ về nghĩa với nhau.
Ví dụ: bàn ghế, sách vở, xe cộ, đường sá, rau cỏ…
2.2.2. Phân loại
Có thể phân loại từ ghép tiếng Việt dựa vào tính chất của mối quan hệ về
nghĩa giữa các thành tố cấu tạo như sau:
Từ ghép đẳng lập:
Những từ mà giữa các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về
nghĩa được gọi là từ ghép đẳng lập.
Ví dụ: ăn ở, đi đứng, bàn ghế, nói cười, chó má, gà q, tre pheo…
Trong loại từ này có thể có hai khả năng:
+ Các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa. Khi dùng mỗi thành tố như
vậy để cấu tạo từ thì nghĩa của từ đơn và nghĩa của các thành tố cấu tạo khơng
trùng nhau.
Ví dụ: ăn = ăn ở = ăn nói = ở = nói…
+ Một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với thành tố khơng rõ nghĩa. Trong hầu hết
các trường hợp, những yếu tố khơng rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhưng sau bị bào
mòn dần đi ở các mức độ khác nhau. Bằng con đường tìm tòi từ ngun và lịch
sử, người ta thường xác định được nghĩa của chúng.
Ví dụ: chợ búa, đường sá, tre pheo, chó má, gà q, cá mú, áo xống…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái qt và tổng hợp. Đây cũng chính
là đặc điểm khác biệt của nó với từ ghép chính phụ.
Từ ghép chính phụ:
Những từ ghép mà có thành tố này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia đều
được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai trò phân loại, chun biệt
hố và sắc thái hố cho thành tố chính.
Ví dụ: đường sắt, xanh lè, đỏ au, trắng phau, xe máy, cá diếc, chim sẻ,
dưa lê, máy bay…
Về hai loại từ ghép này, một số tác giả còn gọi chúng với những tên khác
nhau như: từ ghép hợp nghĩa (là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó
khơng có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, khơng có hình vị nào là hình vị
phân nghĩa) và từ ghép phân nghĩa (là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị
theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động,
tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hố loại lớn đó thành những loại nhỏ
hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau và độc lập đối với loại lớn.
Mặc dù cách gọi tên có khác nhau nhưng về bản chất là như nhau.
2.3. Từ láy
2.3.1. Định nghĩa
Là những từ được hình thành bằng cách tổ hợp các tiếng lại trên cơ sở của
sự hồ phối ngữ âm (vì thế mà các từ này còn được gọi là lấp láy, từ láy âm).
Ví dụ: thình thịch, bùm bụp, thơ thẩn, xinh xinh, khấp khểnh, rì rào…
Trong loại từ này cần phải lưu ý phân biệt từ láy và dạng láy. Một từ sẽ
được gọi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được
lặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối).
Ví dụ: xinh xắn, nhỏ nhắn, dun dáng…điệp ở phần âm đầu, đối ở phần
vần.
Vì thế, nếu chỉ có điệp mà khơng có đối (ví dụ: nhà nhà, ngành ngành,
người người…) thì ta có dạng láy của từ chứ khơng phải là từ láy.
2.3.2. Phân loại
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, từ láy trong tiếng Việt có
thể phân loại như sau:
Từ láy gồm hai tiếng (láy đơi)
Từ láy gồm ba tiếng (láy ba)
Và từ láy gồm bốn tiếng (láy tư)
Trong đó loại đầu tiên chiếm chủ yếu.
Từ láy đơi:
Có các dạng cấu tạo như sau
+ Láy hồn tồn:
Mặc dù gọi là từ láy hồn tồn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai
thành tố (hai tiếng) khơng hồn tồn trùng khít nhau, chỉ có điều phần đối của
chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong
yếu tố được gọi là yếu tố láy. Các từ láy hồn tồn có thể chia thành ba lớp nhỏ
hơn:
- Lớp những từ láy hồn tồn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu
tố được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài).
Ví dụ: rượi rượi, rầm rầm, sượng sượng, lăm lăm, lù lù, tàng tàng, thụp
thụp, thn thn, m m, xt xt, xom xom, xõng xõng…
- Lớp từ láy hồn tồn, đối nhau ở thanh điệu. Ngun tắc đối thanh điệu
là: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực; bằng đứng
trước, trắc đứng sau.
Ví dụ: hơ hớ, ngay ngáy, xoi xói, xon xón, tia tía, ri rỉ, re rẻ, ren rén,
vành vạnh, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng…
- Lớp từ láy hồn tồn, đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm cuối theo
quy luật dị hố:
m – p ng - c
n – t nh – ch
Ví dụ:
phưng phức, phăng phắc…
anh ách, chênh chếch, rinh rích…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cầm cập, lơm lốp…
+ Láy bộ phận:
Là những từ chỉ điệp ở phần âm đầu hoặc điệp ở phần vần. Láy bộ phận
được chia thành hai lớp:
- Điệp âm đầu, đối ở phần vần:
Ví dụ: tha thiết, thơ thẩn, tròn trịa, mong manh, mềm mại, tinh tế, nhộn
nhịp, nhồm nhồm, nhức nhối, xơn xao, xuề xồ, xộc xệch…
Trong lớp từ này, có những từ xét về mặt lịch sử vốn khơng phải là từ láy,
nhưng vì quan hệ về ý nghĩa giữa các yếu tố của chúng mất dần đi làm cho quan
hệ ngữ âm ngẫu nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu, và hiện giờ người
Việt nhất loạt coi chúng là từ láy. Ví dụ: chùa chiền, tuổi tác…nghĩa của những
từ như vậy được tổ chức theo kiểu của các từ tre pheo, chó má, xe cộ, đường sá,
gà q…
Ngồi ra còn có hiện tượng đối ứng ở âm chính, hiện tượng này khá đều
đặn ở một số nhóm từ.
Ví dụ:
ơ - ê: ngơ nghê, hổn hển, xồ xề…
o – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
i – a: hỉ hả, xí xố…
u - ă: tung tăng, vùng vằng…
ơ - a: bỗ bã, mộc mạc…
ê - a: khề khà, xuề xồ…
- Điệp ở phần vần, đối ở âm đầu.
Ví dụ: mượng tượng, lưng chừng, bâng khng, ngang tàng, quyến luyến,
tanh bành, tẩn mẩn, tâng hẩng, tèm nhèm, tênh hênh, tốc hốc, toen hoẻn,
thình lình, xớ rớ…
Từ láy ba và láy bốn tiếng:
Được cấu tạo thơng qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng.
Từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hồn tồn.
Từ láy bốn tiếng dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ví dụ: khít khìn khịt, dửng dừng dưng, trơ trờ trợ…hơt hơ hớt hải, đủng
đà đủng đỉnh, lững tha lững thững, vội vội vàng vàng…
+ Cấu tạo từ láy ba tiếng:
Từ láy ba là láy tồn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần.
Ví dụ:
nhũn – nhũn nhùn nhùn
trơ - trơ trờ trờ
khít – khít khìn khịt
Nhiều khi chúng ta có thể gặp những “cặp bài trùng” giữa từ láy hai tiếng
và láy ba tiếng như:
Sát sạt – sát sàn sạt
Trụi lủi – trụi thui lủi
khét lẹt – khét lèn lẹt
dửng dưng – dửng dừng dưng
cỏn con – cỏn còn con
tẻo teo – tẻo tèo teo
tí ti – tí tì ti
cuống cuồng – cuống cuồng cuồng
nhẽo nhèo – nhẽo nhèo nhèo
+ Cấu tạo từ láy bốn tiếng:
- “Nhân đơi” từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành “e, a,
ơ, à” cho phù hợp, hài hồ về âm vực giữa các vần, các thanh:
lơ mơ - lơ ma lơ mơ
vớ vẩn – vớ va vớ vẩn
hì hục – hì hà hì hục
hấp tấp – hấp ta hấp tấp
hớt hải – hớt hơ hớt hải
vất vưởng – vất va vất vưởng
lủng củng – lủng cà lủng củng
đủng đỉnh - đủng đà đủng đỉnh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- “Nhân đơi” từ láy hai tiếng nhưng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có
thanh điệu thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp:
bồi hồi – bổi hổi bồi hồi
- “Nhân đơi” từng tiếng của từ láy hai tiếng:
hùng hổ – hùng hùng hổ hổ
vội vàng – vội vội vàng vàng
- Thực hiện cách thứ ba vừa nêu, nhưng biến âm đầu của tiếng thứ nhất và
thứ ba thành “l”
nhồm nhồm – lồm nhồm lồm nhồm
thơ thẩn – lơ thơ lẩn thẩn
- Từ một từ gốc có thể cấu tạo từ láy bốn tiếng chứ khơng phải chỉ có một.
bắng nhắng – bắng nha bắng nhắng
bắng nhắng bặng nhặng
2.4. Từ ngẫu hợp
Ngồi ra, trong tiếng Việt còn có một lớp từ mà giữa các thành tố cấu tạo
của chúng khơng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa. Chúng được gọi là
các từ ngẫu hợp (các tiếng tổ hợp với nhau một cách ngẫu nhiên). Ví dụ: bồ
hóng, bồ hòn, bồ kết, bồ câu, cà cuống, cà kê…
Về lớp từ này, đã có nhiều tranh luận. Một vài tác giả đã xếp nó vào từ
đơn và cho rằng để chúng trong từ đơn chẳng những khơng ảnh hưởng đến
ngun tắc phân loại mà còn phù hợp với đặc điểm hoạt động hiện nay của
chúng.
Tuy nhiên, cũng có một số tác giả xếp lớp từ này là một bộ phận của từ
phức [8]. Trong phạm vi khố luận này, chúng tơi cũng đồng ý với ý kiến thứ
hai: xếp lớp từ ngẫu hợp thuộc từ phức. Lớp từ này có thể bao gồm:
+ Những từ gốc thuần Việt: bồ câu, bồ hòn, bồ nơng, bồ hóng…
+ Những từ vay mượn gốc Hán (hoặc phiên âm qua âm Hán – Việt) thơng
qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ (trong số này có những từ mà từng thành
tố của chúng trước đây vốn rõ nghĩa nhưng nay khơng được người Việt nhận
thức nữa).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ví dụ: mâu thuẫn, hy sinh, trường hợp, mì chính…
+ Những từ vay mượn gốc Ấn - Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ
như: axít, míttinh, sơmi, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao…cũng có thể được
xếp vào đây.
Trong phạm vi tư liệu mà chúng tơi nghiên cứu (Việt Nam Tự Điển),
chúng tơi chỉ khảo từ ngẫu hợp dưới góc độ là những từ gốc thuần Việt như: mồ
hơi, mồ cơi, cà kê, cà cuống, cà sa, bồ kết…
Từ những điều trên, có thể đưa ra một sơ đồ phân loại các từ trong tiếng
Việt như sau:
3. Về mặt nguồn gốc của từ
Về mặt nguồn gốc, có hai bộ phận lớn của từ vựng tiếng Việt cần được
lưu ý là các từ Hán – Việt và từ gốc Ấn - Âu. Đó là hai lớp từ vay mượn lớn
nhất của tiếng Việt.
3.1. Từ Hán Việt và từ ngữ gốc Hán
Đẳng lập
Chính phụ
Từ tiếng Việt
Từ đơn
Từ phức
Từ ghép
Từ láy Từ ngẫu hợp
Láy 2
Láy 3 Láy 4
Láy hồn tồn
Láy bộ phận
Láy âm đầu
Láy vần
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trong q trình phát triển của mỗi ngơn ngữ, sự tiếp xúc và vay mượn từ
vựng của nó đối với các ngơn ngữ khác để làm giàu cho mình là một quy luật tất
yếu. Tiếng Việt cũng khơng phải là một ngoại lệ. Trong lịch sử hình thành và
phát triển, tiếng Việt đã có một cuộc tiếp xúc ngơn ngữ - văn hóa vừa lâu dài về
thời gian, vừa gần gũi về khơng gian để lại dấu ấn rất sâu đậm là sự xuất hiện
của lớp từ ngữ gốc Hán tồn tại, phát triển và giao thoa với lớp từ ngữ thuần Việt.
Có thể chia q trình này ra làm hai giai đoạn lớn: Giai đoạn từ đầu Cơng
ngun đến đời Đường (thế kỉ VIII đến thế kỉ X), và giai đoạn hai, từ thế kỉ X
trở về sau. Giai đoạn đầu là giai đoạn tiếp xúc một cách tự nhiên giữa tiếng Việt
và tiếng Hán của đạo qn xâm lược. Giai đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc một
cách có ý thức của tiếng Việt đối với tiếng Hán. “Chính vào lúc sự tiếp xúc ngơn
ngữ khơng bị ràng buộc bởi u cầu chính trị theo quan hệ phụ thuộc, nó lại đi
sâu vào ngơn ngữ. Sự vay mượn lúc này đã đóng góp vai trò của chính ngơn ngữ
đi vay, khơng phải là sự cưỡng ép” (Phan Ngọc, 1981). Kết quả là hai giai đoạn
tiếp xúc trên đã đem lại cho từ vựng tiếng Việt hai nguồn gốc từ gốc Hán mà từ
trước tới nay ta vẫn gọi là từ Hán cổ và từ Hán Việt với một khối lượng khổng
lồ, mà theo số nghiên cứu thì chiếm tới 70% tổng số các đơn vị từ vựng trong
tiếng Việt .
+ Từ Hán cổ: là những từ ngữ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt
trong giai đoạn một. Ví dụ trong Việt Nam Tự Điển có các từ như: chúa (âm cổ
của chủ), chén (âm cổ của trản), chém (âm cổ của trảm), quen (âm cổ của qn),
vua (âm cổ của vương) . . .
+ Từ Hán Việt: là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt giai đoạn hai,
mà người Việt đọc âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của
mình. Ví dụ, trong Việt Nam Tự Điển có các từ như: giang, giảo, liên, hà, hỏa,
hòa, hồn, sơn
Ngồi hai nguồn gốc là từ Hán cổ và từ Hán Việt, còn có hai loại khác
cùng được xếp vào lớp từ gốc Hán là từ Hán Việt Việt hóa và từ gốc Hán du
nhập vào tiếng Việt thơng qua con đường khẩu ngữ của những người nói
phương ngữ tiếng Hán. Trong đó từ Hán Việt Việt hóa là những từ ngữ gốc Hán
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đã được cải tổ về mặt ngữ âm tới hai lần. Cách đọc thứ hai làm mờ hẳn nguồn
gốc Hán của chúng và đưa chúng vào vị trí sâu hơn trong tiếng Việt. Tuy nhiên
do điều kiện và thời gian khơng cho phép và kiến thức của người viết còn hạn
chế, trong khóa luận này chúng tơi khơng thể thống kê, miêu tả, phân tích hết
được tất cả các từ gốc Hán mà chỉ dừng lại ở phạm vi từ Hán Việt. Như vậy, từ
Hán cổ, Từ Hán Việt Việt hóa, và từ gốc Hán du nhập thơng qua con đường
khẩu ngữ khơng nằm trong phạm vi quan tâm của chúng tơi trong khóa luận này.
3.2. Từ Ấn Âu
Cuối thế kỉ XX thực dân Pháp hồn thành việc xâm chiếm nước ta, biến
nước ta thành một thuộc địa của chúng. Từ đó trở đi Việt Nam đã chịu ảnh
hưởng của văn hóa Pháp ngày càng nhiều về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội…địa vị của tiếng Pháp rất được đề cao.
Như vậy, bộ phận từ Ấn - Âu vào Việt Nam từ khi nước ta bị thực dân
Pháp xâm lược và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ họ (giữa thế kỉ XIX). Vừa bằng
con đường khẩu ngữ vừa qua con đường chính thức trong giáo dục nhà trường
và giao tiếp hành chính, hàng loạt các từ gốc Pháp đã du nhập vào tiếng Việt.
Mặt khác, một số từ gốc Anh, rồi gần đây một số từ nguồn gốc Nga cũng đã
được tiếp thu như : mít tinh, ten nít, bốc, bồi, cao bồi, tiu, xì ke, cơm xơ mơn,
men sê vích, Xơ Viết
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng. Năm 1862, chúng chiếm
ba tỉnh miền Đơng Nam Bộ. Năm 1867, Pháp chiếm trọn Nam Bộ. Ngay khi còn
chưa chiếm xong Nam Bộ, thực dân Pháp đã xuất bản tờ cơng báo bằng tiếng
Việt đầu tiên tại Sài Gòn là Gia Định báo (năm 1865) với ý đồ vừa coi đây là
cơng cụ của chế độ thuộc địa, vừa góp phần đẩy lùi vị thế của tiếng Hán ở Việt
Nam, dọn đường cho tiếng Pháp chuẩn bị dành địa vị độc tơn, thay thế tiếng
Hán.
Năm 1884, do thái độ khiếp nhược của triều đình nhà Nguyễn, với hòa
ước Giáp Thân, Pháp đã chính thức lập xong chế độ thuộc địa của chúng ở Việt
Nam. Năm1905, tờ báo đầu tiên vừa viết bằng chữ Quốc ngữ vừa viết bằng chữ
Hán xuất hiện tại Hà Nội, là tờ Đại Việt Tân báo .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét