Qua phân tích quan niệm và định nghĩa của một số tác giả, có thể khái quát: Văn hóa doanh
nhân là toàn bộ các nhân tố văn hóa mà các doanh nhân chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện
chúng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành VHKD
1.1.2.1. Triết lý kinh doanh
Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học chủ đạo, có hệ thống được vận dụng vào hoạt
động kinh doanh, phản ánh các niềm tin, giá trị, các nguyện vọng cơ bản và những tư tưởng chủ
đạo mà các nhà quản trị theo đuổi, gắn bó. Và tất cả những điều đó tạo nên sợi chỉ đỏ chỉ dẫn
cho hoạt động kinh doanh.
1.1.2.2. Đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh gồm hệ thống các nguyên tắc ứng xử, các chuẩn mực đạo đức, quy chế,
nội quy giữ vai trò điều tiết các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý
kinh doanh đã định của DN.
1.1.2.3. Văn hóa doanh nhân
Văn hóa doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hóa mà các doanh nhân chọn lọc, tạo ra, sử
dụng và biểu hiện chúng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.2.4. Quan hệ và ứng xử trong kinh doanh
Quan hệ và ứng xử trong kinh doanh hay có thể gọi là văn hóa trong các hoạt động kinh
doanh (marketing, xây dựng thương hiệu, định hướng khách hàng, xây dựng nề nếp công ty ):
a) Văn hóa ứng xử trong nội bộ DN
b) Văn hóa trong xây dựng và phát triển thương hiệu
c) Văn hóa trong hoạt động marketing
d) Văn hóa ứng xử trong đàm phán và thương lượng
e) Văn hóa trong định hướng tới khách hàng.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến VHKD
VHKD chịu ảnh hưởng của các nhân tố cơ bản là:
1.1.3.1. Nền văn hoá xã hội
1.1.3.2. Thể chế xã hội
1.1.3.3. Sự khác biệt và giao lưu văn hoá
1.1.3.4. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
1.1.3.5. Khách hàng
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Sự tƣơng đồng và khác biệt về văn hoá giữa hai nƣớc
Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia cùng nằm trong "khu vực văn hóa Đông Á" có truyền
thống lịch sử hàng ngàn năm với những đặc điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, trí thông minh,
ham học hỏi, cần cù, chịu khó. Hai nước đều bị các cuộc chiến tranh tàn khốc và là những nước
thuộc địa có trình độ phát triển thấp; chịu ảnh hưởng của văn hóa Khổng giáo. Tuy nhiên, Hàn
Quốc chịu ảnh hưởng của văn hoá Khổng giáo sâu sắc hơn.
Việt Nam thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình (nông nghiệp lúa nước) trọng danh
hơn lợi; có văn hóa khinh rẻ nghề buôn bán. Vì vậy tuy cùng theo Nho giáo, nhưng chỉ có Việt
Nam mới thực sự coi trọng kẻ sĩ (quan văn) và khinh người buôn bán. Còn Hàn Quốc và cả
Trung Hoa thì coi trọng cả văn lẫn võ.
1.2.2. Môi trƣờng thể chế ở Việt Nam
Việt Nam cũng giống như phần lớn các nước đang phát triển khác, có hệ thống thể chế chưa
đồng bộ và còn nhiều bất cập:
- Hệ thống chính sách, pháp luật thiếu đồng bộ, tính ổn định, minh bạch chưa cao, mức độ rủi
ro pháp luật còn lớn, khó dự báo.
- Bộ máy công quyền còn quan liêu, sách nhiễu, tiêu cực - tham nhũng, thủ tục hành chính
phức tạp, rườm rà.
- Dân trí thấp và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao.
1.2.3. Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Việt Nam có lợi thế hơn so với Hàn Quốc về: dân số lớn hơn (mật độ dân số chỉ bằng ½ của
Hàn Quốc), tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa dạng hơn. Tuy vậy, trình độ phát triển kinh tế của
Việt Nam còn kém xa so với Hàn Quốc. Tổng thu nhập quốc dân của Hàn Quốc lớn gấp 14 lần,
thu nhập quốc dân trên đầu người tính theo ngang giá sức mua lớn gấp 9 lần. Tổng thu nhập
Quốc dân của Hàn Quốc đứng thứ 10 thế giới (trong khi Việt Nam xếp thứ 59).
Việt Nam là một nước đang phát triển, với nền kinh tế chuyển đổi: nền kinh tế có trình độ
phát triển thấp, có cơ cấu lạc hậu, chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên thiên
nhiên; bộ máy quản lý chưa hiệu quả; nguồn nhân lực chưa được đào tạo đầy đủ, thiếu chuyên
nghiệp.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VHKD CỦA CÁC DN
HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM
2.1. TỔNG QUAN VỀ DN HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM
2.1.1. Quy mô, số lƣợng, ngành nghề, phân bố đầu tƣ của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam
Các DN Hàn Quốc có mặt ở Việt Nam từ năm 1988. Giai đoạn 1988-2005, số vốn đầu tư của
DN Hàn Quốc được cấp phép là 5,295 tỷ USD với hơn 1000 dự án, đứng thứ 4 trong số các nước
đầu tư vào Việt Nam. Tính đến cuối năm 2007, thì vốn của các DN Hàn Quốc giữ vị trí dẫn đầu
là 12,7 tỷ USD (chiếm 15%).
Về cơ cấu đầu tư theo ngành, thời gian đầu các DN Hàn Quốc chú trọng nhiều tới các lĩnh
vực công nghiệp nhẹ như: may mặc, giày dép, ba lô, túi xách và công nghiệp chế biến lâm, hải
sản. Nhưng những năm gần đây đã tiến tới đầu tư vào lĩnh cực công nghiệp kỹ thuật cao như
điện tử, công nghiệp ô tô, công nghiệp chế tạo cơ khí và xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ.
Những ngành này rất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam.
Về phân bố đầu tư theo vùng:
Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam phân bố không đồng đều ở các vùng. Trong thời kỳ đầu
FDI của Hàn Quốc tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam - nơi có địa hình thuận lợi, cơ sở hạ
tầng tốt và có nguồn nhân lực dồi dào. Gần đây do Chính phủ Việt Nam có chính sách nhằm điều
chỉnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài nên đầu tư của Hàn Quốc đã phân bố dàn trải đều hơn trong
cả nước.
2.1.2. Đánh giá chung về hoạt động của các DN Hàn Quốc
Kết quả điều tra mới đây của KOTRA đối với các DN Hàn Quốc ở Việt Nam cho thấy,
93,3% DN bày tỏ sự hài lòng khi đầu tư vào làm ăn tại Việt Nam; 57,6% DN hiện đang làm
ăn có lãi, phần lớn số còn lại đang trong thời gian thu hồi vốn đầu tư.
Tuy nhiên, các DN Hàn Quốc cũng đang gặp những khó khăn về cơ chế chính sách thiếu đồng
bộ, hạ tầng yếu kém, thiếu lao động có tay nghề, các vướng mắc về thủ tục hành chính, bất đồng
về văn hóa và ngôn ngữ
2.2. KHẢO SÁT VHKD TRONG CÁC DN HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM
Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tiến hành một cuộc điều tra khảo sát ở một số DN Hàn
Quốc. Đồng thời đã kế thừa các kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu, các tổ chức trước đó và
trực tiếp gặp và phỏng vấn một số nhân viên đã và đang làm việc cho các DN Hàn Quốc ở Việt
Nam, cũng như một số cán bộ, nhân viên thường xuyên có quan hệ cộng tác và làm việc với các
doanh nhân Hàn Quốc. Kết quả có thể khái quát như sau:
2.2.1. Triết lý kinh doanh
Phần lớn các DN Hàn Quốc mang theo nét đặc trưng cơ bản VHKD của Hàn Quốc đó là:
Thứ nhất, các DN Hàn Quốc rất coi trọng tính kỷ luật. Nhận định này cũng phù hợp với cơ sở
hình thành triết lý kinh doanh của Hàn Quốc là VHKD Hàn Quốc chịu ảnh hưởng sâu sắc của
Khổng Giáo, trong đó đặc biệt là coi trọng ính kỷ luật, thứ bậc trên dưới cao độ.
Thứ hai, các DN Hàn Quốc rất chú ý đến xây dựng uy tín thực sự và thương hiệu thực sự mà
không cần quá đánh bóng thương hiệu hay xây dựng bản sắc, phong cách, hình ảnh riêng cho
DN.
Thứ ba, các DN Hàn Quốc coi trọng lòng trung thành, tính trung thực của nhân viên.
Thứ tư, coi trọng tính sáng tạo, khuyến khích đổi mới, coi "con người là linh hồn của DN"
cũng là những giá trị cốt lõi mà một số DN Hàn Quốc coi trọng. Tuy nhiên điều này chỉ nhìn
thấy ở phần lớn các công ty, tập đoàn lớn như SamSung, LG, HuynDai
Những giá trị cốt lõi, được coi trọng trong các DN Hàn Quốc là tính kỷ luật, trung thực, tận
tụy, trung thành, tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, coi trọng tính sáng tạo, chuyên nghiệp.
2.2.2. Đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh chịu sự ảnh hưởng rất lớn của trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
nơi mà doanh nhân, chủ doanh nghiệp sinh sống và tạo dựng cơ nghiệp. Do đó trước khi có các
nhận định về đạo đức kinh doanh của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra một số
phân tích, lý giải trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về các yếu tố văn
hóa, xã hội có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành văn hóa và nhân cách doanh nhân Hàn
Quốc.
Với những đánh giá trên kết hợp với kết quả khảo sát, tác giả đã đưa ra một số nhận định về
đạo đức kinh doanh của các DN Hàn Quốc là:
Thứ nhất, về tính trung thực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN Hàn Quốc tại
Việt Nam:
Phần lớn các DN Hàn Quốc ở Việt Nam (đặc biệt là các công ty, tập đoàn lớn) không dùng
các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời, giữ chữ tín trong kinh doanh. Đặc biệt các DN Hàn
Quốc rất chú trọng đến chất lượng sản phẩm để tạo dựng uy tín thực sự đối với khách hàng.
Thứ hai, về quan điểm tôn trọng con người, đối xử với những cộng sự và nhân viên dưới
quyền.
Bên cạnh việc coi trọng tính trung thực trong tuyển dụng cũng như coi trọng việc giáo dục
nhân viên về tính kỷ luật và trung thực, các DN Hàn Quốc thường sử dụng tối đa các thiết bị điện
tử để giám sát các hoạt động của cấp dưới. Sử dụng thẻ kiểm soát nhân viên, các camera được
đặt ở mọi vị trí xung yếu để kiểm tra Điều này khiến các DN Hàn Quốc được ví như các
"doanh trại quân đội" và đúng như các tập đoàn của Hàn Quốc thường được người phương Tây
gọi là Che-bon (hiểu theo nghĩa Hán Việt là tài phiệt).
Thứ ba, về quan điểm gắn lợi ích của DN với lợi ích của khách hàng, coi trọng hiệu quả gắn
với trách nhiệm xã hội.
Các DN Hàn Quốc thường có chiến lược gia nhập thị trường rất hiệu quả. Việc đầu tư cho các
hoạt động quảng cáo, mở rộng, giành dật thị trường thường được các ông chủ Hàn Quốc tính
toán rất kỹ lưỡng và mục tiêu là hướng tới đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Ở các nước phát triển, việc các DN thực hiện trách nhiệm xã hội của mình được đánh giá
bằng một chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộ qui tắc ứng xử (Code of Conduct - COC).
Còn ở Việt Nam chưa áp dụng chứng chỉ và bộ quy tắc ứng xử nào để đánh giá tính trách nhiệm
xã hội của DN. Các DN Hàn Quốc nói riêng và các DN có vốn đầu tư nước ngoài nói chung ở
Việt Nam, các hoạt động mang tính trách nhiệm xã hội của DN phần lớn mới chỉ dừng lại ở các
hoạt động tài trợ, và còn mang nặng hình thức quảng bá hình ảnh, phục vụ việc quan hệ công
chúng.
Tóm lại, nét nổi bật về đạo đức kinh doanh của DN Hàn Quốc đó là coi trọng tính trung
thực và uy tín đối với khách hàng. Quan điểm lợi ích là gắn với lợi ích khách hàng. Bên cạnh
đó phong cách quản lý của DN Hàn Quốc cũng thể hiện rõ tính phân cấp, tính thứ bậc, trật tự
chủ - thợ rất khắt khe. Điều này khiến cho người lao động Việt Nam, với văn hóa "xuề xòa",
"cá mè một lứa", "văn hóa làng xã", dễ cảm thấy bị coi rẻ, khinh miệt, hay bị xúc phạm.
2.2.3. Về văn hóa doanh nhân
Một số tiêu chuẩn thường được sử dụng để đánh giá về văn hóa doanh nhân gồm: sức khỏe, đạo
đức, trình độ và năng lực, phong cách và việc thực hiện trách nhiệm với xã hội Tuy nhiên, trong
khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp thạc sỹ này, với thời gian nghiên cứu hạn chế, tác giả chưa có
điều kiện để khảo sát một cách đầy đủ để có thể đưa ra được các con số nhằm lượng hóa các tiêu
chí nêu trên, mà mới chỉ đưa ra các nhận định về một số khía cạnh về phong cách, đạo đức và trách
nhiệm với xã hội của các doanh nhân là chủ các DN Hàn Quốc ở Việt Nam.
Thứ nhất, về đạo đức và phong cách doanh nhân. Đạo đức doanh nhân thường được đánh giá
theo các khía cạnh như: Tính trung thực, Tôn trọng con người, Vươn tới sự hoàn hảo, Đương
đầu với thử thách và Tính hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội. Còn phong cách doanh nhân
thường được đánh giá ở các khía cạnh là Tinh thần làm việc, Tính trách nhiệm với công việc,
Khả năng dẫn dắt, thể hiện đúng vai trò, vị trí của mình, phát hiện và giải quyết các vấn đề
* Về tính trung thực của doanh nhân được thể hiện qua sự tôn trọng lẽ phải và chân lý trong
cư xử của con người, là cơ sở đảm bảo cho các mối quan hệ xã hội tốt đẹp. Với kết quả điều tra
cho thấy các ông chủ Hàn Quốc khá coi trọng chữ "tín" đối với khách hàng.
* Về phong cách doanh nhân
Với mô hình quản lý theo kiểu "doanh trại quân đội", coi trọng tính kỷ luật, tính chuyên
nghiệp và trật tự thứ bậc, trên - dưới khắt khe, các ông chủ Hàn Quốc luôn thể hiện phong cách
"bề trên" thậm chí trịch thượng trong ứng xử, đặc biệt là với cấp dưới.
* Phong cách doanh nhân còn được thể hiện qua phong cách quản lý và điều hành DN.
Các DN Hàn Quốc thường sử dụng số lao động lớn, tuyển dụng thông qua các tổ chức môi
giới trung gian. Điều này khiến người lao động và chủ sử dụng không có sự hiểu biết nhau cần
thiết để làm tiền đề cho việc xây dựng mối quan hệ trong công việc.
Phong cách quản lý hiện đại, chuyên nghiệp, có mức lương cao và sự công bằng và minh bạch
là những nguyên nhân chính thu hút người lao động Việt Nam làm việc cho DN Hàn Quốc. Và
trong các DN Hàn Quốc thường có điều kiện làm việc kém, người lao động chưa được tôn trọng.
Các ông chủ Hàn Quốc thường theo phong cách quản lý gia trưởng, rất coi trọng thành tích,
sáng kiến và tính biết kiềm chế; sự phân cấp và ủy quyền cho quản lý người Việt hạn chế, thêm
vào đó có rào cản về ngôn ngữ đã ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả và tâm lý làm việc của người
lao động Việt Nam. Những đánh giá này cũng phù hợp với nhận định là các DN Hàn Quốc
thường quản lý theo mô hình "doanh trại quân đội" và các ông chủ được đánh giá có phong cách
quản lý "tài phiệt". Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân lý giải cho việc xung đột,
đình công xẩy ra nhiều ở các DN Hàn Quốc.
Thứ hai, về thực hiện trách nhiệm đối với xã hội.
* Trách nhiệm đối với xã hội của doanh nhân được thể hiện qua ý thức trong việc thực hiện
chính sách trách nhiệm đối với người lao động, với khách hàng và với xã hội. Các phân tích và
khảo sát đã cho thấy các ông chủ Hàn Quốc chưa thực sự chú trọng việc xây dựng các chính sách
về trách nhiệm xã hội cho DN mình, từ đó đã dẫn đến tình trạng điều kiện, môi trường làm việc
của người lao động trong các DN Hàn Quốc còn kém.
* Trách nhiệm xã hội còn thường được thể hiện thông qua các hoạt động như hỗ trợ tài chính
cho các hoạt động của đoàn thể địa phương, cho an sinh, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường
Theo đánh giá hiện nay, các ông chủ Hàn Quốc tham gia các hoạt động đó chưa nhiều, hoặc có
tham gia mới chỉ dừng lại ở việc quảng cáo, gây dựng hình ảnh cho DN mà chưa đi vào chiều
sâu của hoạt động xã hội.
2.2.4. Về quan hệ và ứng xử trong kinh doanh
Như đã trình bày ở Chương 1, văn hóa quan hệ và ứng xử trong kinh doanh được thể hiện
qua:
Thứ nhất, về văn hóa ứng xử trong nội bộ DN.
Trong giao tiếp, đặc biệt với nhân viên người Việt, các ông chủ Hàn Quốc thường thể hiện
tính trịch thượng, thứ bậc, phân cấp, đôi khi thường lạm dụng sức mạnh của đồng tiền.
Người lao động trong các DN Hàn Quốc thường bị sức ép lớn cả về khối lượng công việc lẫn
tâm lý.
Về cách xưng hô, chào hỏi trong DN Hàn Quốc cũng khác với văn hóa Việt Nam (lấy cách
xưng hô của quan hệ huyết thống áp dụng cho cách xưng hô nơi công sở), ở các DN Hàn Quốc
thường sử dụng cách xưng hô kính ngữ trong quan hệ công việc. Khi cấp dưới gặp cấp trên thì
phải chào (theo chức danh như Tổng giám đốc, Giám đốc, Trưởng phòng ).
Thứ hai, Văn hóa trong xây dựng và phát triển thương hiệu
Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc thường hoạt động theo "chiến lược xuất phát từ bên trong -
những tham vọng vươn dần ra toàn cầu". Và với chiến lược đó, các tập đoàn, công ty lớn của
Hàn Quốc không chỉ sản xuất, kinh doanh một mặt hàng, một sản phẩm mà sản xuất và kinh
doanh nhiều sản phẩm, nhiều ngành nghề khác nhau. Nhưng tất cả các sản phẩm của họ khi đem
bán ra thị trường toàn cầu đều mang nhãn mác của công ty.
Với cách thức xây dựng thương hiệu như vậy, đã giúp cho các công ty, tập đoàn lớn của Hàn
Quốc ở Việt Nam nhanh chóng khẳng định được vị thế và chiếm lĩnh thị trường.
Còn đối với một bộ phận có số lượng lớn là các DN nhỏ và vừa đang làm ăn ở Việt Nam, các
ông chủ Hàn Quốc ở các DN này thường ít đầu tư xây dựng và phát triển thương hiệu một cách
bài bản như các công ty, tập đoàn lớn mà đầu tư theo hướng xây dựng thương hiệu qua việc
khẳng định chất lượng, uy tín sản phẩm đối với các khách hàng trực tiếp.
Thứ ba, Văn hóa trong các hoạt động marketing.
Nét nổi bật, dễ nhận thấy trong các DN Hàn Quốc, nhất là các công ty, tập đoàn lớn là họ rất
chú trọng đến xây dựng thương hiệu. Phần lớn các DN Hàn Quốc ở Việt Nam đánh giá cao ý
thức của thương hiệu; một số tập đoàn, công ty lớn thuê tư vấn về thiết kế thương hiệu và xây
dựng quan niệm thương hiệu cho mình. Đối với các thương hiệu Hàn quốc, mục tiêu là toàn cầu
hóa hình ảnh.
Một điều dễ nhận thấy khác trong các hoạt động marketing của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam
đó là luôn hướng tới khách hàng, họ luôn quan niệm rằng cách marketing hay nhất, hiệu quả nhất
mà cũng ít tốn kém nhất chính là qua khách hàng. Một thương hiệu khi đã gây được niềm tin nơi
khách hàng, thì chính khách hàng này sẽ đi nói tốt cho thương hiệu đó. Và điều này rất đúng đối
với tâm lý tiêu dùng lan truyền qua người thân của người Việt Nam.
Thứ tư, văn hóa ứng xử trong đàm phán và thương lượng.
Một khía cạnh quan trọng của văn hóa ứng xử của các ông chủ Hàn Quốc trong đàm phán và
thương thượng là sự nhận thức được vị trí của mình trong xã hội cũng như trong công việc.
Chính vì thế trong các cuộc đàm phán, thương lượng với khách hàng, đối tác, các ông chủ Hàn
Quốc thường chuẩn bị rất kỹ lưỡng thông tin về khách hàng.
Một số nét đặc trưng cơ bản của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam trong giao tiếp và ứng xử với
khách hàng như sau:
- Các DN Hàn Quốc coi trọng việc giới thiệu đúng nghi thức, coi trọng người họ quen biết
hoặc được giới thiệu, bảo lãnh. Và người giới thiệu có địa vị, uy tín càng cao thì buổi làm việc và
đối tác càng được coi trọng.
- Trong đàm phán, ngôn từ thường ngắn gọn, đúng ý và đi thẳng vào vấn đề mà hai bên quan
tâm.
- Các ông chủ Hàn Quốc không quá coi trọng các văn bản pháp lý. Thậm chí họ quan niệm nó
như là biên bản ghi nhớ đưa ra những phác thảo chính cho các mối quan hệ.
- Khi có vấn đề xung đột hay cần đàm phán với đối tác những vấn đề nhạy cảm, các ông chủ
Hàn Quốc thường sử dụng vai trò của người trung gian uy tín.
- Về trang phục trong các buổi đàm phán, thương lượng, các ông chủ Hàn Quốc thường ưa
những loại quần áo gọn gàng, nghiêm túc, có màu sắc nhã - dịu.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG DỰ BÁO
2.3.1. Đánh giá chung
* Một số đặc thù VHKD của các DH Hàn Quốc ở Việt Nam:
Ngoài trừ các tập đoàn, công ty lớn có uy tín như LG, Samsung, Huyndai , các DN Hàn
Quốc ở Việt Nam chưa thực sự chú ý đến việc xây dựng VHKD theo hướng phù hợp với văn hóa
Việt Nam. Các triết lý kinh doanh, giá trị cốt lõi của các DN thường hướng đến đáp ứng nhu cầu
khách hàng, đưa lại lợi ích về kinh tế và độ thỏa dụng của sản phẩm, coi trọng tính kỷ luật mà
chưa chú ý nhiều đến khía cạnh con người, khía cạnh văn hóa.
Cách thức tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh thường theo mẫu "doanh trại quân
đội". Vì vậy, người lao động luôn cảm thấy bị theo dõi, giám sát, thậm chí có suy nghĩ bị xúc
phạm, coi rẻ, bị ức chế do tính kỷ luật nghiêm khắc, do trật tự thức bậc theo kiểu Nho giáo cao
độ.
Trong giao tiếp, đặc biệt với nhân viên, các ông chủ Hàn Quốc thường thể hiện tính trịch
thượng, thứ bậc, phân cấp, đôi khi thường lạm dụng sức mạnh của đồng tiền.
Người lao động trong các DN Hàn Quốc thường bị sức ép lớn cả về khối lượng công việc lẫn
tâm lý. Trong khi đó chủ DN rất ít chú ý đến việc động viên tình cảm, quan tâm đến đời sống
riêng Các ông chủ Hàn Quốc thường có quan điểm là, họ chỉ quan tâm đến hiệu quả công việc
của nhân viên và mức thù lao xứng đáng với đóng góp đó. Còn các vấn đề khác của người lao
động, như các nhu cầu sinh hoạt, đời sống cá nhân là vấn đề của mỗi cá nhân và của chính
quyền địa phương, tổ chức xã hội
* Về nhận diện mô hình văn hóa của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam:
Đặc điểm thường thấy ở DN Hàn Quốc là phân chia lao động theo vai trò và chức năng; có
sự phân cấp theo thứ bậc một cách rõ ràng, thể hiện chức năng điều hành theo thứ bậc; cấp dưới
luôn phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên; ông chủ có đủ quyền lực pháp lý để ra lệnh cho cấp
dưới, quyết định một cách áp chế; mỗi một vị trí có một vai trò nhất định và tất cả mọi thành
viên đều phải tuân thủ các quy định và các quy định này áp dụng cho mọi cấp bậc. Với đặc điểm
như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt Nam thiên theo mô hình
văn hóa tháp Eiffel (được mô phòng như hình sau)
Con
ngƣời
Chủ nghĩa bình quân
Nhiệm
vụ
Mô hình lò ấp trứng:
Hướng hoàn thiện
cá nhân
Mô hình tên lửa điều
khiển:
Hướng nhiệm vụ
Mô hình gia đình:
Hướng cá nhân
Mô hình Eiffel:
Hƣớng quyền lực
Hệ thống thứ bậc
2.3.2. Dự báo xu hƣớng phát triển VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam
Hai yếu tố cơ bản, có tính chất chi phối các yếu tố khác và phản ánh xu hướng phát triển
VHKD của DN Hàn Quốc ở Việt Nam là: Nhận thức của các chủ DN Hàn Quốc về vai trò và vị
trí của việc xây dựng VHKD và xu hướng triết lý, đạo đức kinh doanh của DN.
Thứ nhất, về xu hướng nhận thức của các chủ DN Hàn Quốc về vai trò của xây dựng VHKD
phù hợp với văn hóa Việt Nam.
Với bối cảnh phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam, một xu hướng tất yếu là DN Hàn Quốc ở
Việt Nam phải tìm kiếm chiến lược kinh doanh thích ứng để khai thác tối đa thời cơ, tối thiểu hóa
thách thức, mà một trong những lời giải cho bài toán đó là nhận thức vai trò hết sức quan trọng của
việc xây dựng và nuôi dưỡng VHKD phù hợp với bản sắc văn hóa Việt Nam.
Xu hướng liên kết, sát nhập, cùng chia sẻ tài nguyên giữa các công ty Hàn Quốc với nhau,
giữa các công ty Hàn Quốc với các công ty Việt Nam là điều sẽ xẩy ra. Khi đó xu hướng văn hóa
kinh doanh giao thoa sẽ xuất hiện và tồn tại.
Thứ hai, xu hướng phát triển triết lý kinh doanh và đạo đức kinh doanh của các DN Hàn
Quốc ở Việt Nam.
Xu hướng nổi bật về triết lý kinh doanh ở các DN Hàn Quốc ở Việt Nam là vẫn luôn giữ bản
sắc VHKD của người Hàn là coi trọng tính kỷ luật, coi trọng lòng trung thành, coi trọng tính
chuyên nghiệp, coi trọng việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và việc xây dựng thương hiệu đích
thực. Tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh mới và đặc thù môi trường kinh doanh của Việt Nam
và đặc biệt là sự thành công của các DN Việt Nam khi xây dựng VHKD là rất chú trọng đến giá
trị cốt lõi hướng đến con người, tất yếu các DN Hàn Quốc sẽ có xu hướng bên cạnh nét bản sắc
riêng nêu trên sẽ chú trọng đến hệ thống giá trị như: lợi ích của khách hàng, lợi ích của nhân
viên, xây dựng thương hiệu trên cơ sở chữ "tín".
Về đạo đức kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh của các DN Hàn Quốc sẽ được xem xét dưới hai góc độ là ý thức tuân
thủ pháp luật và đối xử của ông chủ Hàn Quốc với người lao động Việt Nam - là hai mặt qua
phần đánh giá thực trạng được cho là còn hạn chế của ở các DN Hàn Quốc.
Về ý thức tuân thủ pháp luật.
Khi môi trường thể chế của Việt Nam được cải thiện, hệ thống pháp luật được xây dựng chặt
chẽ hơn, đồng thời nhận thức về pháp luật của người dân được nâng cao, đòi hỏi các DN nói
chung trong đó có DN Hàn Quốc phải nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật là điều tất yếu.
Về đối xử với người lao động.
Các lợi thế về việc dễ tuyển dụng lao động phổ thông sẽ không còn khi sức cạnh tranh về thu
hút lao động ngày càng lớn, điều đó buộc các ông chủ Hàn Quốc phải thay đổi theo hướng điều
chỉnh hành vi ứng xử của mình phù hợp với văn hóa Việt Nam hơn để tăng khả năng thu hút và
giữ người lao động Việt Nam làm việc cho DN mình.
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP CẢI THIỆN
VHKD TRONG CÁC DN HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM
3.1. GỢI Ý GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HỮU TRÁCH CỦA VIỆT NAM
3.1.1. Nhóm các giải pháp điều kiện cho xây dựng và phát triển VHKD của các DN Hàn
Quốc phù hợp với văn hóa Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam cần xây dựng nhà nước pháp quyền với thể chế minh bạch, mọi quan hệ
kinh tế đều định chế hoá thành luật pháp làm nền tảng cho các DN xây dựng VHKD.
Nhà nước phải ban hành hệ thống chính sách, pháp luật đảm bảo sự minh bạch, công bằng,
nhất quán để giúp DN được tự do "cạnh tranh lành mạnh", "phát triển bình đẳng", "phục vụ trung
thực". Hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, chính xác.
Hệ thống thể chế phải được cải cách, đổi mới theo hướng tạo nền tảng và khuyến khích các