Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Các giải pháp nâng cao chất lưọng hoạt động tài chính nhằm thúc dẩy hiệu quả kinh doanh của Công ty CP Bánh kẹo Hải Hà

2.2. Phân tích tài chính
2.2.1. Khái niệm niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính cung cấp một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính
của doanh nghiệp, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh…Đó là một quá
trình nhà quản lý tài chính sử dụng các phương pháp, các công cụ cho phép xử
lý thông tin về kế toán, các thông tin về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài
chính khả năng, tiềm lực cũng như mức độ rủi ro, hiệu quả hoạt động của tổ
chức.
Trọng tâm của phân tích tài chính là phân tích báo cáo tài chính,các chỉ tiêu
đặc trưng tài chính.Qua đó có thể đánh giá một cách toàn diện, khái quát hoạt
động tài chính của tổ chức, từ đó ra các quyết định tài chính, quyết định tài trợ
và đầu tư hiệu quả.
2.2.2. Nội dung phân tích tài chính
2.2.2.1. Đọc báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính được tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ
tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình phân bổ tài sản, tình hình và
kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển các dòng tiền và các thông tin
tổng quát khác về tình hình doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Chính vì
vậy, các báo cáo tài chính có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý trong
doanh nghiệp đó:
- Các báo cáo tài chính phản ánh khá trung thực, đầy đủ, toàn diện tình
hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Mà hoạt động tài
chính có mối liên hệ trực tiếp, qua lại với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó,
tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
5
- Các chỉ tiêu, số liệu trên các báo cáo tài chính là cơ sở quan trọng để tính
ra các chỉ tiêu kinh tế khác nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của
việc sử dụng tài sản, cơ cấu tài sản, nguồn vốn cũng như khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp. Từ đó, có những quyết định quản lý thích hợp về điều chỉnh cơ
cấu, cách điều hành sản xuất kinh doanh, các hướng đầu tư… để đạt được các
mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
- Các báo cáo tài chính là căn cứ để cung cấp các thông tin cần thiết cho
nhiều đối tượng khác nhau, như: các nhà quản lý trong doanh nghiệp, các cơ
quan quản lý của nhà nước, các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, các khách hàng…
Mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính với các mục đích khác nhau.
Nhưng nói chung, mục đích cuối cùng của các đối tượng là tìm hiểu, nghiên cứu
các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phục vụ cho
việc ra quyết định của mình.
- Các báo cáo tài chính còn là căn cứ để xây dựng các kế hoạch kinh tế, kỹ
thuật, tài chính của doanh nghiệp từ đó đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường
khả năng quản lý doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng lợi
nhuận.
2.2.2.2 Phân tích các tỷ số tài chính
Trong phân tích tài chính, các hệ số tài chính chủ yếu thường được phân
tích thành 5 nhóm chính.
- Các hệ số về cơ cấu tài sản và nguồn vốn: nhóm chỉ tiêu này phản ánh tài
sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi nguồn vốn nào.
- Các hệ số về khả năng thanh toán: đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để
đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Các hệ số về khả năng quản lý tài sản: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng
cho việc sử dụng nguồn lực tài sản của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
6
- Các hệ số vể khả năng quản lý vốn vay: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng về
việc quản lý nợ của doanh nghiệp.
- Các hệ số về khả năng sinh lời: nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản
xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp.
- Sơ đồ DuPont và mối liên hệ giữa chúng.
Tuỳ theo từng mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng
nhiều hơn tới nhóm hệ số này hay nhóm hệ số khác.
Để có được các số liệu phản ánh trung thực tình trạng tài chính của doanh
nghiệp thì trước khi tiến hành phân tích phải chuyển bảng cân đối kế toán thành
bảng cân đối tài chính và báo cáo kết quả kinh doanh thành báo cáo thu nhập.
2.2.2.2.1 Phân tích các hệ số về cơ cấu tài sản và nguồn vốn:
Các hệ số cấu trúc được thiết lập từ các số liệu trên bảng cân đối tài chính,
riêng biệt đối với từng bên tài sản và nguồn vốn, trên cơ sở đó so sánh giá trị của
một hoặc một số mục với tổng số. Với hệ thống các chỉ số này bảng cân đối tài
chính sẽ chuyển từ dạng giá trị sang dạng %. Điều này cho phép thực hiện việc
đánh giá biến động theo thời gian.
- Các hệ số cấu trúc bên tài sản là đặc trưng kỹ thuật, kinh tế trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
7
T
1
T
1
=
Tiền & ĐTTCNH
Tiền & ĐTTCNH
Tổng tài sản
T
2
=
Các khoản phải thu
Tổng tài sản
T
3
=
Hàng tồn kho
Tổng tài sản
Các hệ số cấu trúc bên nguồn vốn thể hiện chính sách tài chính về độ ổn
định trong tài trợ và độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
+ Độ ổn định nguồn tài trợ V
1
và V
2
:
+ Độ tự chủ tài chính tổng quát V
3
và V
4
:
+ Độ tự chủ tài chính dài hạn V
5
, V
6
, V
7
:
2.2.2.2.2 Phân tích các hệ số về khả năng thanh toán:
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng của
công tác tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, thì doanh nghiệp ít công nợ, khả
năng thanh toán dồi dào, ít chiếm dụng vốn cũng như ít bị chiếm dụng vốn.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
8
V
1
=
VTX(Vốn chủ + Nợ ) NH)
Tổng nguồn vốn
V
2
=
Nợ ngắn hạn
Tổng nguồn vốn
V
3
=
vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
V
4
=
Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
V
5
=
Vốn chủ sở hữu
VTX
V
6
=
Nợ dài hạn
VTX
V
7
=
Nợ dài hạn
VCSH
T
4
=
TSCĐ hữu hình
Tổng tài sản
Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kém hiệu quả thì sẽ dẫn đến tình trạng
chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo
dài.
Chỉ số hiện hành
Tổng TSLĐ & ĐTGH
Tổng nợ ngắn hạn
T ỷ số hiện hành =
TSC Đ-H. H àng t ồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
T ỷ số thanh toán
nhanh
=
TSLĐ - HTK
Tổng nợ ngắn hạn
T ỷ số thanh toán
=
Vốn bằng tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số công nợ
=
Các khoản phải thu
Các khoản phải trả
2.2.2.2.3 Phân tích các hệ số về hoạt động:
Các hệ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh
nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các tài
sản khác nhau. Trên thực tế cho thấy tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của
từng doanh nghiệp mà mức độ hoạt động sẽ được biểu thị khác nhau. Nhưng
thông qua sự biến động về mức độ hoạt động cũng chứng minh được hiệu quả
kinh doanh, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực tài chính.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
9
Vòng quay HTK =
Doanh thu thuần
Hang ton kho
Kỳ thu nợ bán chịu =
Khoản phải thu x 360
Doanh thu
Vòng quay TSCĐ =
Doanh thu
Tài sản cố định
Vòng quay TSLĐ =
Doanh thu
Tài sản lưu động
Vòng quay TTS =
Doanh thu
Tổng tài sản
2.2.2.2.4 Phân tích các hệ số về khả năng quản lý vốn vay:
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
10
Chỉ số nợ =
Tổng nợ
Tổng tài sản
Khả năng thanh
toán lãi vay
=
Lợi nhuận trước LV&T
Lãi vay
Khả năng thanh
toán tổng quát
=
Tổng tài sản
Nợ phải trả
2.2.2.2.5 Phân tích các hệ số về khả năng sinh lời:
Các hệ số sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một kỳ nhất đinh, là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh
doanh. Phân tích khả năng sinh lợi cho phép doanh nghiệp đánh giá được tình
trạng tăng trưởng, giúp doanh nghiệp điều chỉnh lại cơ cấu tài chính và hoạch
định chiến lược ngăn ngừa rủi ro ở mức độ tốt nhất, cũng như đề xuất hướng
phát triển trong tương lai.
2.2.2.2.6. Các đẳng thức DuPont và mối liên hệ giữa các chỉ số:
Mục đích của việc phân tích DuPont là phục vụ cho việc sử dụng vốn chủ
sở hữu sao cho có hiệu quả sinh lời là nhiều nhất.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
11
Lợi nhuận biên
(PM)
=
Doanh thu
LN sau thuế
Tỷ suất thu hồi tài
sản (ROA)
=
Tổng tài sản
LN sau thuế
Tỷ suất thu hồi vốn
góp (ROE)
=
Tổng vốn chủ sở hữu
LN sau thuế
2.2.2.3. Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính:
Trước tiên, xác định giá trị phản ánh trên các báo cáo tài chính là giá trị
nào? Theo giá trị lịch sử, theo giá trị hiện hành, theo giá trị cố định? Đây là
doanh nghiệp đang hoạt động hay đang ở giai đoạn thanh lý hay đang cần đầu tư
mới?
Có nhiều công cụ và kỹ thuật chuẩn hoá khác nhau có thể sử dụng trong
phân tích báo cáo tài chính. Với mục đích làm nổi bật được thực trạng và triển
vọng của hoạt động tài chính, vạch rõ những mặt tích cực, tồn tại, xác định
nguyên nhân và ảnh hưởng của các yếu tố từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng
cao hơn nữa hiệu quả của doanh nghiệp. Có nhiều phương pháp được sử dụng
trong phân tích báo cáo tài chính, như: phương pháp so sánh, phương pháp đồ
thị, phương pháp nội suy, phương pháp ngoại suy, phương pháp tương quan,…
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu ROE
Tỷ suất thu hồi tài sản ROA Tài sản / Vốn góp
nhân với
Lợi nhuận biên
Vòng quay tổng tài sản
nhân với
Lãi ròng
Doanh thu
Doanh thu Tổng tài sản
cộng vớitrừ đi
chia chochia cho
Tổng chi phíDoanh thu
Khấu
hao
Các chi
phí hoạt
động khác
Tài sản cố định Tài sản lưu động
Lãi
vay
Thuế Tiền mặt và
chứng
khoán dễ
bán
Khoản
phải thu
Hàng
tồn
kho
+ ++ + +
12
Tuy nhiên, trong phân tích báo cáo tài chính chúng ta thường tiến hành theo
phương pháp so sánh là chủ yếu. Phương pháp so sánh tuyệt đối và tương đối
theo chiều ngang hoặc chiều dọc.
- Phân tích so sánh số tuyệt đối cho thấy độ lớn của các chỉ tiêu, các khoản
mục phí chi phí, tài sản công nợ vốn liếng được phản ánh trong các báo cáo tài
chính.
- Phân tích so sánh số tương đối là phân tích dựa vào các tỷ lệ được tính
toán theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc của các báo cáo tài chính.
So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng số,
so sánh theo chiều ngang để thấy được biến động của từng loại.
Cụ thể:
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về mặt tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp
có những biện pháp trong kỳ tới.
+ So sánh số thực hiện kỳ này với số trung bình ngành để thấy được tình
hình tài chính của doanh nghiệp đang ở tình trạng như thế nào so với các doanh
nghiệp khác cùng ngành.
+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy được khả năng hoàn
thành kế hoạch từ đó tìm ra yếu tố ảnh hưởng tới kết quả đạt được.
2.3. Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là công việc đầu tiên, có ý nghĩa quyết định trong
quy trình quản lý tài chính của một tổ chức. Lập kế hoạch tài chính bao gồm các
bước:
- Dự toán thu chi của ngân sách
- Lựa chọn phương án hoạt động tài chính trong tương lai cho tổ chức.
- Ấn định sự kiểm soát đối với các hoạt động trong tổ chức.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
13
2.3.1. Mục đích
- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi tài chính phù hợp với thực tiễn,
với thực tế của tổ chức.
- Bảo đảm việc thực hiện đúng trình tự, thời gian, và hiệu quả các kế hoạch
thu chi của tổ chức.
- Tăng cường hiệu quả quản lý tài chính cho các nhà quản lý tổ chức. Trong
một môi trường với nhiều sự biến đổi khôn lường và sự cạnh tranh khốc liệt,
việc hoạch định tài chính, lên kế hoạch về tài chính sẽ giúp cho nhà quản lý dự
đoán, đối phó được những rủi ro biến động của môi trường. Từ đó xác định
được các nhu cầu tài chính, các nhà quản lý có thể nắm vững được những yếu tố
tác động của môi trường và có phản ứng linh hoạt trước những tác động đó.
2.3.2. Nội dung của hoạch định tài chính
- Dựa vào mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức, xác định
mục đích, nhiệm vụ của việc lập dự toán. Từ đó, có chính sách phân phối, sử
dụng ngân sách một cách hiệu quả.
- Việc lập kế hoạch tài chính phải căn cứ vào kết quả phân tích tình hình
thực hiện các kế hoạch dự toán tài chính của tổ chức trong năm trước, dựa vào
khả năng tài chính, diễn biến thị trường, các thành tựu về khoa học công nghệ,
chính sách Nhà nước, và các yếu tố về kinh tế, chính trị trong và ngoài nước có
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của tổ chức. Từ đó rút ra những thông tin
bổ sung cần thiết cho việc lập dự toán thu chi trong kỳ kế hoạch.
- Xác định khả năng, mức độ, lĩnh vực cần khai thác nguồn thu, đồng thời
xác định được nhu cầu lĩnh vực cần phân phối đầu tư. Việc lập kế hoạch phải
dựa vào hệ thống chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức thu chi, lấy đó làm
căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý.
SV: Nguyễn Ngọc Minh Lớp: K42/11.02
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét