Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHIẾU NẠI VÀ TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN VỚI VẤN ĐỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHIẾU NẠI VÀ TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
VỚI VẤN ĐỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA
PGS. NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG LỤC
Học viện Hành chính quốc gia
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, từ lâu
dã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật, trước hết là Hiến pháp - đạo
luật cơ bản của nước ta.
Nhìn lại quá trình lập hiến và lập pháp của nước ta, quyềnkhiếu nại, tố
cáo của công dân luôn luôn giữ một vị trí quan trọng trong chế định quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân. Và quyền đó đã được nhấn mạnh với tư cách là
một bộ phận đặc biệt quan trọng trong cấu thành quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, có mối liên hệ chặt chẽ, trực tiếp với các quyền và nghĩa vụ
khác; được nhìn nhận như là một tỏng những cơ sở, điều kiện để hiệnt hực
hoá các quyền và nghĩa vụ khác cảu công dân. Chúng ta có thể nói rằng việc
mở rộng và bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân chính là mở rộng
và củng cố các điều kiện cần thiếy, bảo đảm cho công dân thực hiện tọn vẹn
quyền và nghĩa vụ cảu mình trong đời sống xã hội.
Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng việc mở rộng và bảo đảm các quyền
của công dân, trước hết là quyền khiếu nại và tố cáo, là sự phản ánh một cách
khách quan, đầy đủ hiện thực nền dân chủ. Nói cách khác, đây chính là thước
đo giá trị nền dân chủ của chúng ta,
Việc mở rộng và bảo đảm các quyền công dân – bao gồm quyền khiếu
nại, tố cáo – không phải được dựa trên ý muốn chủ quan, mà nó được dựa trên
điều kiện, khả năng của bộ mày nhà nước, dựa trên hiệu lực thực tế trong hoạt
động quản lý của Nhà nước chúng ta. Và hơn hết, nó phản ánh một cách
khách quan, đầy đủ bản chất giai cấp của Nhà nước ta.
Trong mối liên hệ đó, việc nghiên cứu quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân, cả trên phương diện lý luânj và cả trên phương diện vận dụng vào đời
sống thực tế, đang trở nên hết sức bức thiết, một mạt nhằm bảo vệ một cách
có hiệu quả thực tế quyền khiéu nại, tố cáo cảu công dân. Mặt khác, góp phần
trực tiếp vào việc lập lại trật tự, kỷ cương của xã hội.
Khiếu nại và tố cáo là hai phạm trù khác nhau song nó lại có quan hệ
gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất đó là “quyền” khiếu nại, tố
cáo.
Ở đay, trong nghiên cứu, chúng tôi tạm thời tách ra và lần lượt nghiên
cứu các phạm trù đó.
I. KHIẾU NẠI
1. Khái niệm
Như chúng ta đã biết, Đảng và Nhà nước ta, bằng đường lối và bằng
nhiều chính sách cụ thể đã và đang cố gắng xây dựng, củng cố và phát triển
nền dân xã hội chủ nghĩa. Thông qua đó không ngừng tạo khả năng và điều
kiện để quần chúng tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đócủa chúng ta được thực hiện dưới hai hình
thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân chính là một tỏng
những biểu hiện cụ thể của dân chủ trực tiếp; bởi vì, bằng việc thực hiện
quyền khiếu nại của mình, nhân dân đã trực tiếp giám sát và tham gia trực tiếp
vào hoạt động cảu bộ máy nhà nước.
Công dân thực hiện quyền khiếu nại của mình bằng cách gưỉư đơn hoặc
trực tiếp đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế
hay người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đó để trình bày ý kiến, nguyện vọng
và những đề nghị cụ thể của mình. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân
thực hiện quyền khiếu nại chính là hướng dư luận xã hội vào mục đích vì sự
công bằng cảu xã hội.
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong số các quyền chính
trị cơ bản tồn tại cùng với các quyền tham gia quản lý công việc của Nhà
nước và xã hội, quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước;
quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội…Các
quyền đó chính xác chỗ đứng, diện mạo, vai trò chính trị của mỗi cá nhân
trong xã hội, thể hiện sâu sá bản chất giai cấp, bản chất chế độ xã hội, trong
đó cá nhân tồn tại với tư cách là thành viên, là công dân.
Trong số các quyền chính trị, quyền khiếu nại cũng như quyền tố cáo
mang đặc trưng riêng biệt; quyềnnày một mặt tồn tại ngang hàng với các
quyền khác, mặt khác lại đóng vai trò là một bảo đảm pháp lý để giữ cho các
quyền khác không bi xâm phạm và trong trường hợp bị xâm phạm thì cóthể
đựoc phục hồi.
Vậy quyền khiếu nại là gì và đặc điểm của quyền đó ra sao?
Có thể nói rằng, quyền khiếu nại của công dân là một khái niệm pháp
lý thể hiện qua việc công dân có thể tự định đoạt việc đưa kiến nghị, khiếu nại
đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Và đến lượt mình, các cơ quan đó phải
có trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại tuân theo một
trình tự và thời hạn luật định
Như vậy, quyền khiếu nại chỉ xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình
thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
2. Đặc điểm, tính chất và mục đích của việc thực hiện quyền khiếu nại
của công dân
Công dân thực hiện quyền khiếu nại cảu mình bằng việc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền xem xét một việc mà mình không đồng ý, cho là trái
phép hay không hợp lý. Nói một cách đơn giản hơn, khiếu nại là đề nghị xét
lại một sự việc hoặc một quyết định mà mình không đồng ý. Qua đây, chúng
ta thấy rõ một điều là: công dân thực hiện quyền khiếu nại thường xuất phát
từ nhận thức chủ quan. Bởi vì sự “không đồng ý” của công dân trước một việc
làm hay một quyết định của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội…là cơ sở để công dân sử dụng quyền khiếu nại. Do đó, quyền khiếu nại
của công dân cần được nhìn nhận nhận như một phương tiện hữu hiệu để
công dân tự bảo vệ mình.
Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của người thực hiện quyền khiếu nại là
mong muốn được cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết sự việc theo ý
nguyện của mình một cách nhanh chóng, từ đó chủ thể của quyền khiếu nại đã
cố gắng chứng minh sự vi phạm của phía có việc làm, quyết định sai trái –
theo nhận thức chủ quan của họ. Chính vì thế, quá trình công dân thực hiện
quyền khiếu nại là quá trình cung cấp tài liệu, chứng cứ về sự vi phạm lợi ích
của chủ thể của quyền khiếu nại. Và đến lượt mình, các cơ quan, cấp có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, một mặt sử dụng tài liệu, chứng cứ tiếp nhận từ
chủ thể của quyền khiếu nại, mặt khác thu thập tài liệu, chứng cứ từ những
nguồn khác nhau để làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại một cách khách
quan, chính xác.
Chứng cứ trong khiếu nại - hiểu theo một nghĩa hạn chế - đóng vai tò
rất quan trọng - nếu không muốn nói là quyết định - đối với hiệu quả xét, giải
quyết khiếu nại. Từ đây vấn đề đặt ra là trong khi giải quyết khiếu nại, việc
thu thập tài liệu, chứng cứ một cách đầy đủ được coi như là biện pháp hàng
đầu để bảo đảm tính khách quan, đúng đắntrong giải quyết khiếu nại.
Ở khía cạnh khác, từ thực tiễn của việc giải quyết khiếu nại, chúng ta
thấy rằng: trong khi thực hiện quyền khiếu nạicủa công dân, trừ một số ít
trường hợp có biểu hiện tiêu cực, còn tuyệt đại đa số đã phản ánh một cách
chính xác, đầy đủ những vi phạm của cơ quan lý, của các tổ chức kinh tế, các
tổ chức xã hội, giúp cho các cơ quan, các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại có biện pháp tích cực trong việc ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất
hậu quả do những vi phạm đó gây ra đối với công dân và xã hội. Trong mối
liên hệ đó, có thể nói rằng, hoạt động khiếu nại - cả từ hai phía – luôn luôn là
hoạt động mang tính phòng ngừa tích cực. Chính đặc điểm này đã làm cho
hoạt động khiếu nại có nội dung nhân đạo.
Như chúng ta đã thấy, hoạt động khiếu nại của công dân đóng một vai
trò rất quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Chính vì
thế, mọi hành vi vi phạm đến các quyền của công dân, hay bất cứ hành vi nào
trái với chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều có thể dẫn đến sự
khiếu nại của công dân. Hành vi khiếu nại của công dân có mối liên hệ trực
tiếp với trình độ nhận thức của chủ thể. Và không ít trường hợp, hành vi khiếu
nại còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của tính vụ lợi của chủ thể. Chính vì thế,
trong khi giải quyết khiếu nại, các cơ quan có thẩm quyền cần có sự phân loại
tính chất của các đơn khiếu nại làm cơ sở cho việc giải quyết được nhanh
chóng và đúng đắn.
Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng, sự tồn tại với tư cách là quyền chủ
thể và việc công dân thực hiện quyền khiếu nại của mình đồng thời làm nảy
sinh nghĩa vụ tương đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước hữu quan. Do vậy,
tính hiện thực, mức độ bảo đảm thực thi quyền khiếu nại của công dân tuỳ
thuộc rất nhiều vào khả năng nghiên cứu giải quyết thực tế những vấn đề nảy
sinh từ khiếu nại. Xuất phát từ đây, một vấn đề đặt ra là hiệu qủ xét, giải
quyết khiếu nại của công dân phải đặt trong mối liên hệ với một cơ chế bắt
buộc, hợp lý và hữu hiệu. Chừng nào chưa giải quyết được vấn đề đó thì công
tác xét, giải quyết khiếu nại của công dân khó tránh khỏi sự trì trệ, tắc trách,
kém hiệu quả, xâm phạm đến quyền khiếu dân chủ của nhân dân.
Công dân thực hiện quyền khiếu nại trước hết là nhằm mục đích bảo vệ
lợi ích của mình, của Nhà nước và của xã hội khỏi bị xâm hại bởi những việc
làm, những quyết định chính sách, trái pháp luật cảu các cơ quan, nhân viên
nhà nước và tổ chức xã hội. Điều đó cũng có nghĩa rằng, bằng việc thực hiện
quyền khiếu nại của mình, công dân đã tham gia một cách trực tiếp và thiết
thực vào công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Đến lượt mình, các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các
khiếu nại của quần chúng trước hết là nhằm bảo về lợi ích chính đáng của
công dân, bằng cách đó, trực tiếp góp phần quan trọng vào việc xây dựng và
củng cố lòng tin của quần chúng đối với Đảng, đối với Nhà nước, đối với chế
độ. Điều đó càng trở nên có ý nghĩa khi mà chủ nghĩa xã hội đang trải quan
thời kỳ đầy biến động phức tạp, khi mà chúng đang cố gắng thiết lập một trật
tự xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng. Chính vì vậy đòi hỏi phải có nỗ
lực từ cả hai phía để bảo đảm tình khách quan, kịp thời và có hiệu qủa trong
việc thực hiện quyền khiếu nại và giải quyết khiếu nại.
3. Nội dung của hoạt động khiếu nại
Hoạt động khiếu nại được thực hiện bởi chủ thể của quyền khiếu nại và
cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Một hoạt động khiếu nại bao giờ cũng bắt đầu bằng việc thực hiện
quyền khiếu nại của chủ thể và sau đó được kết thúc bởi sự kết luận, giải
quyết khiếu nại đó của cơ quan, cấp có thẩm quyền. Do đó, nghiên cứu nội
dung của hoạt động khiếu nại chính là nghiên cứu nội dung hoạt động từ hai
phía đó.
a) Chủ thể của quyền khiếu nại:
Chủ thể của quyền khiếu nại được xác định ở đây là bao gồm tất cả
công dân Việt Nam có đủ năng lực hành vi và công dân nước ngoài đang
sống, làm việc tại Việt Nam trong trường hợp quyền của họ đã được pháp luật
Việt Nam xác định là bị vi phạm.
Đối với chủ thể của quyền khiếu nại: nội dung khiếu nại gắn liền với
việc bảo về lợi ích của chính mình hay cảu một nhóm người; một tổ chức
hoặc có liên quan đến lợi ích của toàn xã hội.
Trước hết, chủ thể của quyền khiếu nại sử dụng quyền khiếu nại của
mình để chuyển tải một lượng thông tin nhất định đến cơ quan, cấp có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại với những mức độ khác nhau – thông báo, phản
kháng, yêu cầu…tuỳ theo mức độ sự việc dưới các hình thức khác nhau: bằng
văn bản, bằng sự trực tiếp gặp cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết để trình
bày.
Đối với những trường hợp quyền lợi của chủ thể cảu quyền khiếu nại
có khả năng bị xâm phạm bởi một việc làm, một quyết định cảu cơ quan, tổ
chức… nào đó, chủ thể của quyền khiếu nại thông báo về nội dung, khả năng
thực tế cảu sự xâm phạm và đề nghị cơ quan, tổ chức… đó khắc phục, thay
đổi quyết định để tránh hậu quả xảy ra. Trong trường hợp này, chủ thể của
quyền khiếu naị dựa vào các văn bản của Nhà nước – bao gồm và chủ yếu là
văn bản pháp luật - để làm căn cứ so sánh, đối chiếu với việc làm, quyết định
của cơ quan, tổ chức…, đồng thưòi đưa ra các tài liệu, chứng cứ khác để
chứng minh cho khả năng xâm phạm đến quyền lợi cảu mình và đưa ra những
đề nghị cụ thể để ngăn chặn. Hoạt động này của chủ thể của quyền khiếu nại
diễn ra trong tình thế chủ động mang tính tích cực, cho nên được gọi là khiếu
nại chủ động.
Đối với trường hợp quyền lợi của mình thực tế đã bị xâm phạm thì chủ
thể của quyền khiếu nại sử dụng hình thức phản kháng để yêu cầu cơ quan, tổ
chức có việc làm, quyết định…vi phạm phải có biện pháp khắc phục hậu quả,
khôi phục quyền lợi cho mình. Trong trường hợp này, chủ thể của quyền
khiếu nại phải đưa ra được các nội dung cơ bản như: cơ sở pháp lý để xác
định sự vi phạm; mức độ thiệt hại - hậu quả; hình thức và biện pháp phục hồi
quyền lợi v.v…
Trong trường hợp này, hoạt động khiếu nại của chủ thể của quyền
khiếu nại diễn ra trong tình thế bị động, cho nên gọi là khiếu nại thụ động.
Về bình diện của hoạt động khiếu nại: Hoạt động khiếu nại được diễn
ra trên trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Có thể nói
rằng, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong mọi hoạt động của
các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… đều tiềm ẩn khả
năng hoạt động khiếu nại. thưc tế đó đặt ra cho các cơ quan nhà nước, các tổ
chức kinh tế, các tổ chức xã hội và cho cả từng công dân phải tuân thủ pháp
luật, phải giữ nghiêm phép nước trong hoạt động và cách thức xử sự.
về dạng thức vi phạm để dẫn đến hạot động khiếu nại: Có thể nói, việc
vi phạm để dẫn đến hoạt động khiếu nại diễn ra dưới nhiều dạng thức khác
nhau như:
- Vi phạm các quyền của công dân và thoái thác nghĩa vụ được bảo
đảm và quy định bằng pháp luật;
- Áp dụng sai các quy định pháp luật;
- Vận dụng sai đường lối, chính sáh cảu Đảng và Nhà nước…
b) cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại::
Hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước, các cấp có
thẩm quyền diễn ra dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau. Nhưng có
thể nêu lên một cách một cách tổng quát như sau:
- Các cơ quan, các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nghiên cứu
hồ sơ, tài liệu do chủ thể của quyền khiếu nại và cơ quan, tổ chức… bị khiếu
nại gửi đến. Và trên cơ sở đó, đối chiế, vận dụng theo văn bản pháp luật để
giải quyết.
- Các cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trực tiếp gặp chủ
thể của quyền khiếu nại, cơ quan, tổ chức bị khiếu nại để thu thập, bổ sung,
xác minh, thẩm tra tài liệu để làm cơ sở đưa ra kết luận và biện pháp giải
quyết.
- Trong khi giải quyết khiếu nại, cơ quan, cấp có thẩm quyền có thể bác
bỏ những yêu cầu của chủ thể của quyền khiếu nại - nếu hoạt động khiếu nại
của họ không đúng - bằng văn bản hoặc bằng trả lời trực tiếp. Trong trường
hợp hoạt động khiếu nại của chủ thể cảu quyền khiếu nại là đúng thì cơ quan,
cấp có thẩm quyền yêu cầu phía bị khiếu nại thực hiện các hình thức, biện
pháp để khắc phục hậu quả và phục hồi quyền lợi cho chủ thể của quyền
khiếu nại trên cơ sở quy định của pháp luật. Mặt khác trong trường hợp cần
thiết và nghiêm trọng, cơ quan, cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đề
nghị lên cấp trên hay cơ quan chức năng giải quyết theo đúng quy định của
pháp luật.
Hoạt động của cơ quan, các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chủ
yếu dựa trên các quan hệ pháp lý này sinh giữa công dân với các cơ quan nhà
nước, giữa công dân với các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội. Bằng hoạt
động của mình, các cơ quan, các cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã
làm cho việc vi phạm pháp luật đựoc khắc phục. và hoạt động đó được tiến
hành dựa trên các biện pháp thuyếtphục và cưỡng chế, tuỳ theo các tình
huống cụ thể.
4. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại tức là quyền xem xét để kếtluận vấn
đề mà chủ thể của quyền khiếu nại đưa ra.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại là một vấn đề khá phức tạp, tồn tại từ
trước đến nay trong quá trình giải quýet khiếu nại vì vấn đề này liên quan và
tác động trực tiếp đến hiệu quả của việc xem xét và giải quyết khiếu nại.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều
74) đã quy định: “…việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem
xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định…”.
Quy định trên đây của Hiến pháp cho chúng ta thấy rằng:
- Các khiếu nại của công dân nhất thiết phải được xem xét, kết luận.
- Các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết các
khiếu nại của nhân dân. Quy định này sẽ là cơ sở để khắc phục tình trạng né
tránh, đùn đẩy giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại của
nhân dân.
- Việc xem xét, giải quyết các trường hợp khiếu nại phải được tiến hành
trong một thời gian nhất định theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề này, Điều 2 Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân cũng
đã ghi rõ: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, có
trách nhiệm giải quyết kịp thời, khách quan khiếu nại, tố cáo của công
dân…”.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của Pháp lệnh khiếu
nại, tố cáo cảu công dân có những nội dung cụ thể như sau:
- Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong trường
hợp nhân viên của cơ quan đó bị khiếu nại và trong trường hợp việc làm,
quyết định cảu chính thủ trưởng cơ quan đó bị khiếu nại.
- Thanh tra là cấp giải quyết có tính chất phúc thẩm đối với việc giải
quyết khiếu nại đối với từng cấp đã được Pháp lệnh quy định cụ thể tại các
Điều 11,12,13,17…
Với những quy định trên đây ta thấy chúng có những đặc điểm sau:
- Phù hợp với nguyên tắc quản lý trong bộ máy hành chính của chúng
ta hiện nay.
- Bảo đảm điều kiện cho việc giải quyết các trường hợp khiếu nại được
nhanh chóng (đối với các trường hợp quy định tại Điều 10).
- Quyền hạn trong giải quyết khiếu nại của cơ quan Thanh tra được
tăng cường có khả năng đáp ứng với yêu cầu thực tế hiện nay.
- Xác định được cấp giải quyết cuối cùng của hoạt động khiếu nại, hạn
chế được tình trạng hoạt động khiếu nại chuyển động theo vòng tròn mà
không có điểm dừng cuối cùng.
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thấy nổi cộm lên một vấn đề là tính khách qua
trong giải quyết khiếu nại – theo quy định trên đây - sẽ bị hạn chế. Bởi vì với
cơ chế đó, khó tránh khỏi sự thiên vị khi thủ trưởng xem xét, giải quyết khiếu
nại đối với cán bộ thuộc quyền và khi thủ trưởng cơ quan lại xem xét, giải
quyết khiếu nại đối với chính mình.
Sự băn khoăn trên đây của chúng tôi không phải không có cơ sở khi mà
chủ nghĩa thành tích, thái độ bảo thủ còn biểu hiện khá nặng ở một số cán bộ
lãnh đạo của một số cơ quan.
Đây sẽ là một trong những nguyên tắc làm hạn chế hiệu qủa của công
tác xét, giải quyết khiếu nại.
II. TỐ CÁO
1. Khái niệm
Như chúng ta đã biết, nếu so sánh giữa khiếu nại và tố cáo thì chúng ta
thấy rằng: khiếu nại bao giờ cũng ở cấp độ thấp hơn so với tố cáo. Công dân
chỉ đưa đơn (thư) khiếu nại khi có lý do để cho rằng một hoặc một số quyền
lợi nào đó của bản thân người khiếu nại hoặc của người khá bị vi phạm.
Người khiếu nại có thể không cần biết hoặc không buộc phải lý giải, phải nêu
đích danh người nào đó, cơ quan nào và do đâu mà vi phạm. Còn tố cáo thì
hoặc có sự kết hợp giữa “khiếu” và “tố” tức là công dân nêu đích danh không
chỉ việc vi phạm mà còn chủ thể của hành vi vi phạm đó, hoặc chỉ phát giác
về người có hành vi vi phạm cho dù hành vi đó đã, đang hoặc sẽ gây thiệt hại
cho ai.
Nếu ở khiếu nại, đối tượng bị khiếu nại vi phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của chủ thể của quyền khiếu nại thì ngược lại ở tố cáo, quyền và lợi
ích hợp pháp của chủ thể của quyền tố cáo có thể hoàn toàn không bị xâm
phạm bởi hành vi của đối tượng bị tố cáo.
Hoạt động tố cáo thường diễn ra dưới nhiều dạng thức khác nhau.
Nhưng chúng ta có thể khái quát lại với những dạng thức chủ yếu sau đây:
- Những tố cáo liên quan đến sự vi phạm lợi ích chung của toàn xã hội.
- Những tố cáo liên quan đến việc lạm dụng quyền hạn, nhiệm vụ…
Đối tượng bị tố cáo cũng rất đa dạng, có thể là người làm việc trong bộ
máy nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và những người ở ngoài cơ
quan và tổ chức đó; là những người có chức vụ, quyền hạn và những người là
nhân viên phục vụ…
2. đặc điểm, tính chất và mục đích cảu hoạt động tố cáo
Khi nghiên cứu đặc điểm, tính chất của hoạt động tố cáo, đòi hỏi chúng
ta phải nghiên cứu vấn đề đó từ cả hai phía: chủ thể của quyền tố cáo và đối
tượng bị tố cáo.
Trước hết, đối với đối tượng bị tố cáo: những hành vi bị tố cáo có thể là
hành động hoặc không hành động. Tính nguy hiểm của hành vi bị tố cáo
thường ở mức độ cao hơn so với hành vi bị khiếu nại. Tính công khai của
hành vi bị tố cáo thường rất thấp bởi sự che đậy, nguỵ trang của đối tượng có
hành vi bị tố cáo, điều này trái ngược rất nhiều so với hành vi bị khiếu nại.
Những tố cáo liên quan trực tiếp đến sự vi phạm quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân hay pháp nhân.
Đối với chủ thể của quyền tố cáo thường bị đặt vào tình thế bất lợi, dễ
bị trả thù bởi đối tượng bị tố cáo. Đặc điểm này hoàn toàn khác so với hoạt
động khiếu nại. Chính điểm này đã dẫn đến việc giải quyết tố cáo thường phải
trải qua nhiều công đoạn rất phức tạp, không ít trường hợp phải sử dụng lực
lượng phối hợp của nhiều ngành, nhiều tổ chức, thậm chí phải sử dụng cả biện
pháp kỹ thuật, nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn để giải quyết.
Về quy mô, so sánh giữa khiếu nại và tố cáo thì chúng ta thấy: khiếu
nại thường thiên về việc giải quyết hậu quả do đối tượng bị khiếu nại gây nên,
nhưng giải quyết tố cáo lại thưòng mang nặng tính chất phòng ngừa, ngăn
chặn hậu quả xảy ra. Đây là đặc điểm khá nổi bật của hoạt động tố cáo. Chính
vì thế mà một trong những mục đích hàng đầu của hoạt động giải quyết tố cáo
là nhằm để hạn chế, ngăn chặn kịp thời mọihành vi xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích của xã hội
không bị xâm phạm.
3. Nội dung của hoạt động giải quyết tố cáo
Hoạt động giải quyết tố cáo được tiến hành bởi nhiều bước khác nhau.
Trước hết là tiếp nhận đơn thư tố cáo hoặc nghe trực tiếp chủ thể của
quyền tố cáo trình bày nội dung sự việc.
Đây là khâu nhận và xử lý tin ban đầu. Trong việc giải quyết tố cáo,
giai đoạn này có một ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
sau này.
Khi nhận đơn thư tố cáo hay nghe báo cáo trực tiếp, phải xác định đựơc
tính chấ, mức độ của hành vi bị tố cáo, trên cơ sở đó, tiến hành công tác thẩm
tra, xác minh, thu thập thêm tài liệu bảo đảm có đủ thông tin cần thiết làm cơ
sở cho việc kết được đúng đắn.
Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong giải quyết tố cáo là
định ra được cách thức, biện pháp khắc phục hậuquả, hay ngăn chặn hậu quả
của hành vi bị tố cáo và hình thức, biện pháp xử lý hành vi đó.
Trong quá trình giải quyết tố cáo, một vấn đề khác cũng cần phải đựơc
chú trọng đúng mức, đó là việc bảo vệ bí mật cho chủ thể của quyền tố cáo.
Đây là một vấn đề liên quan trực tiếp đến việc phát huy tính tích cực của
quần chúng trong đấu tranh bảo vệ trật tự pháp luật.
4. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
Thẩm quyền giải quyết tố cáo là quỳen xem xét, giải quyết sự việc mà
chủ thể của quỳên tố cáo đưa đến.
Theo quy định tại Điều 74 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 thì mọi tố cáo của công dân phải được các cơ quan
nhà nước xem xét, kết luận và giải quyết việc xem xét, giải quyết đó phải
được tiến hành trong thời hạn pháp luật quy định.
Theo quy định tại Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo cảu công dân (tại Điều
29, 30) chúng ta thấy:
- Thủ trưởng cơ quan giải quyết các tố cáo đối với nhân viên thuộc
quyền có nội dung liên quan đến trách nhiệm quản lý của đơn vị.
- Nội dung tố cáo liên quan đến chức năng quản lý cảu cơ quan nào thid
cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
Về vấn đề thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng tương tự như đã trình bày
ở phần thẩm quyền xét,, giải quyết khiếu nại, chúng tôi thấy với cơ chế đó sẽ
hạn chế tính khách quan trong giải quyết tố cáo. Mặt khác, với thẩm quyền
được quy định như vậy sẽ khó bảo vệ được sự bí mật cho chủ thể của quyền
tố cáo. Và điều đó sẽ hạn chế rất nhiều đến tính tích cực của quần chúng trong
việc phát hiện, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật.
Theo suy nghĩ chủ quan, chúng tôi cho rằng việc xác định thẩm quyền
giải quyết tố cáo trên đây mới chỉ dựa vào hệ thống tổ chức hiện có mà thôi,
chưa tính đến bước phát triển về hệ thống tổ chức sau này.
Mặt khác, như chúng ta đã biết, nguyên tắc tố cáo và nguyên tắc giải
quyết tố cáo là tuân theo pháp luật; với việc quy định thẩm quyền giải quyết
tố cáo trên đây chúng tôi thấy nguyên tắc “tuân theo pháp luật” dễ có khả
năng bị vi phạm.
III. SỰ KHACS NHAU GIỮA KHIẾU NẠI VÀ TỐ CÁO
Khiếu nại và tố cáo - giữa hai phạm trù này có sự khác biệt nhau, chính
vì thế Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 đã phân biệt, quyền
khiếu nại và quyền tố cáo cảu công dân (Điều 1). Và đặc biệt, Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam năm 1992, tại Điều 74 đã xác định rõ
khiếu nại và tố cáo là hai quyền khác nhau cảu công dân. Việc xác định đó là
bước phát triển mới. Về tư duy pháp lý, nó phán đúng bản chất của hai phạm
trù khiếu nại và tố cáo, khắc phục được sự nhầm lẫn trước đây cảu chúng ta
về hai phạm trù trên.
Giữa hai khiếu nại và tố cáo, sự khác biệt đầu tiên là ở đối tượng của
chúng.
Đối tượng của khiếu nại là những quyết định hành chính hoặc việc làm
trái pháp luật được thực hiện bởi cơ quan nhà nước, cán bộ, nhân viên nàh
nước. Và hậu quả tác hại do quyết định hành chính hoặc việc làm trái pháp
luật trực tiếp xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể của quyền
khiếu nại.
Còn đối tượng của tố cáo là những việc làm trái pháp luật đã và sẽ gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.
Chính sự khác nhau này dẫn đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục
giải quyết , về quyền và nghĩa vụ của chủ thể của quyền khiếu nại, quyền và
nghĩa vụ của chủ thể của quyền tố cáo, về quyền và ghĩa vụ của người bị
khiếu nại và người bị tố cáo. Trong mối liên hệ đó, trình tự giải quyết cũng có
sự khác nhau.
Sự khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo còn được biểu hiện ở khía cạnh
khác: tuy về bề ngoài thì khiếu nại và tố cáo đều đòi hỏi cơ quan quản lý nhà
nước xem xét, giải quyết về quyền hoặc lợi ích hợp pháp bị vi phạm, nhưng
khiếu nại ở cấp độ thấp hơn so với tố cáo vì công dân đưa đơn (thư) khiếu nại
khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị vi phạm, họ không buộc phải lý giải,
phải nêu đích danh người nào, cơ quan nào, do đâu mà vi phạm, còn tố cáo thì
hoặc có sự kết hợp giữa “khiếu” và “tố” tức là công dân nêu đích danh không
chỉ việc vi phầmm còn nêu cả chủ thể của hành vi vi phạm đó, hoặc chỉ có
cáo giác, phát giác về người có hành vi vi phạm, bất luận hành vi đó đã, đang
và sẽ gây thiệt hại cho ai.
IV.NHỮNG KIẾN NGHỊ THAY CHO KẾT LUẬN
1. Trong thực tế, bên cạnh khái niệm khiếu nại, tố cáo còn tồn tại một
khái niệm khác đó là kiến nghị cảu công dân. Có thể nói, đa số kiến nghị của
công dân được nêu lên dưới dưới dạng khiếu nại. Tuy vậy, một số lượng
không nhỏ kiến nghị liên quan đến việc phải làm, cần làm. Ví dụ: kiến nghị
của công dân về việc xây dựng hệ thống thoát nước để bảo đảm vệ sinh cho
một điểm dân cư nào đó; kiến nghị Nhà nước có biện pháp tích cực hơn để
bảo bảo vệ công trình văn hoá nào đó khỏi bị phá hoại bởi thiên nhiên v.v…
Trong các văn bản pháp luật hiện hành thì loại kiến nghị không thuộc nộidung
của khiếu nại, tố cáo vì chúng không trực tiếp liên quan đến các vi phạm pháp
luật cụ thể. Do không có cơ chế xem xét và những ràng buộc pháp lý chặt chẽ
cho nên hàng loạt ý kiến, kiến nghị tâm huyết, xác đáng của công dân không
được nghiên cứu giải quyết một cách nghiêm túc dẫn đến hậu quả là không
những hoạt động quản lý nhà nước chậm được cải tiến, sửa đổi mà tính tích
cực, chủ động tham gia công việc nhà nước của người dân do đó cũng bị triệt
tiêu. Thiết nghĩ, đây cũng là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu, làm sáng tỏ
và cần được giải quyết bằng các quy định của pháp luật.
2. Những biện pháp cơ bản để bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo
của công dân.
a. Những biện pháp bảo đảm mang tính tổng thể
Như chúng ta đã biết, nhờ có quyền khiếu nại, quyền tố cáo mà công
dân có thể bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi bị xâm
phạm bởi các hành vi quản lý, đến lượt mình, thông qua việc xem xét, giải
quyết và đánh giá tình hình, Nhà nước vừa bảo vệ được công dân, vừa thấy
được thực trạng của hoạt động quản lý, thấy được một cách đầy đủ cac mặt
non kém trong hoạt động quản lý để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục, sửa
chữa kịp thời
Chúng ta không những ghi nhận vềmặt pháp lý quyền khiếu nại, quyền
tố cáo của công dân mà còn tạo dựng được một hệ thống các ảo đảm cần thiết
để các quyền này có thể thực hiện được trong thực tế. Cũng như các quyền
công dân khác, quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân được bảo đảm
bằng toàn bộ chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ tiến
bộ; cơ cấu giai cấp, quyền lực thực sự của nhân dân lao động thông qua Nhà
nước - một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Từ đó, những
sai lầm, thiếu sót trong hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, xã hội, bằng cách này hay cách khac, đều có tác động trở lại đến
quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân. Thông qua đó ảnh hưởng đến các
quyền dân chủ khác của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận.
Chính vì thế, vấn đề đặt ra là cần phải có một hệ thống các bịên pháp bảo đảm
các quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân. Hệ thống biện pháp đó bao
gồm những biện pháp tổng thể và những biện pháp cụ thể.
Các biện pháp tổng thể bao gồm các biện pháp chiến lược hướng vào
mục tiêu lớn là củng cố và hoàn thiện chế độ kinh tế, chính trị, xã hội của xã
hội chủ nghĩa – cơ sở hàng đầu của quyền công dân, trong đó có quyền khiếu
nại, quyền tố cáo của công dân.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin thì quyền của công dân
không thể cao hơn cơ sở và trình độ kinh tế mà nó lấy làm chỗ dựa.
Một nền kinh tế phát triển sẽ làm triệt tiêu những nguyên nhân dẫn đến
vi phạm – lý do để công dân khiếu nại, tố cáo. Mặt khác, nền kinh tế đó sẽ tạo
ra điều kiện cần và đủ để thành lập cơ chế, thủ tục, bộ máy và trang bị vật
chất để xem xét, giải quyết một cách triệt để đối với mọi khiếu nại, tố cáo của
công dân. Cùng với các biện pháp kinh tế là các biện pháp tổng thể mang tính
chính trị - xã hội. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng mối quan
hệ bình đẳng, bác ái giữa các dân tộc, tăng cường hiệu lực quản lý của bộ mày
nhà nước, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong tiến trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội… vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để thực thi quyền
khiếu nại, quyền tố cáo của công dân. Thực tế của xã hội ta hiện nay có nơi,
có lúc còn có một nghịch cảnh là vừa mất dân chủ, vừa có biểu hiện tự do vô
chính phủ. Khắc phục tình trạng đó không còn cách nào khác là phải giáo dục,
hướng dẫn nhân dân “học làm dân chủ”, mặt khác cố gắng gạt bỏ bất cứ trở
ngại nào thong lãnh đạo, tổ chức và quản lý đang cản trở và vi phạm thô bạo
quyền tự do, dân chủ của công dân. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể giải quyết
tận gốc những khiếu nại, tố cáo do tranh chấp giữa các nhóm người, tập đoàn
người, giữa các địa phương, dân tộc, tôn giáo, giữa các thành phần xã hội với
nhau.
Và sau cùng là biện pháp tư tưởng - tổ chức. Tiến hành biện pháp này
nhằm thiết lập nên mối quan hệ đúng đắn, văn minh giữa các thành viên trong
xã hội, hình thành con người mới, hình thành các thiết chế hợp lý, hữu hiệu…
Ví dụ: hiện tượng thư nặc danh là do nhận thức của tác giả, nhưng mặt khác là

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét