Đây là khung định hướng, bao gồm những định hướng lớn, quan điểm phát triển làm cơ sở để các
ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động;
đồng thời xác định những tồn tại, thách thức mà Đăk Nông phải đối mặt, đề xuất những chủ trương và
những lĩnh vực hoạt động ưu tiên để thực hiện mục tiêu PTBV tỉnh Đăk Nông trong thế kỷ 21. CTNS 21
này không thay thế các Chiến lược, Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Đăk Nông đến năm
2020 hiện có mà nó là căn cứ để cụ thể hóa các quy hoạch, kế hoạch của tỉnh cần tập trung vào những
hoạt động ưu tiên để lựa chọn và triển khai thực hiện trong 5 - 10 năm trước mắt và tầm nhìn dài hơn,
hướng tới PTBV của tỉnh trong 10 - 15 năm tới.
Văn kiện Chiến lược PTBV tỉnh Đăk Nông gồm có 7 chương: Chương I: Thực trạng PTBV ở Đăk Nông
thời gian qua.
Chương II: Các vấn đề liên quan đến PTBV trong bối cảnh hội nhập.
Chương III: Định hướng, mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc hoạt động trong PTBV.
Chương IV: Những lĩnh vực kinh tế ưu tiên nhằm PTBV. Chương V: Những lĩnh vực xã hội ưu tiên
nhằm PTBV.
Chương VI: Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, BVMT và kiểm soát ô nhiễm ưu tiên nhằm
PTBV.
Chương VII: Tổ chức thực hiện PTBV.
Chương I:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở ĐĂK NÔNG THỜI GIAN QUA
(từ năm 2004 đến năm 2007)
Nền kinh tế tỉnh đã có bước phát triển nhanh, tổng vốn đầu tư phát triển tăng mạnh, giá trị sản xuất
ngành công nghiệp - xây dựng tăng gấp đôi, ngành dịch vụ tăng 1,3 lần, đời sống nhân dân được cải
thiện. Cơ cấu các ngành kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng tăng dần khu vực công nghiệp và dịch
vụ đồng bộ với chuyển dịch cơ cấu lao động, tỉnh đã chủ động hội nhập kinh tế. Các thành phần kinh tế
đóng góp tích cực với sự tham gia ngày càng tăng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Năng lực đầu
tư phát triển của tỉnh đã có mức tăng đáng kể.
Bảo vệ môi trường đã bước đầu được quan tâm trong xây dựng chiến lược, quy hoạch, lập chương
trình, dự án phát triển, giám sát thực hiện cam kết môi trường trong sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu
ứng dụng khoa học công nghệ đã tham gia hỗ trợ phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế tiềm ẩn yếu tố thiếu bền vững, đầu tư chủ yếu ở quy mô nhỏ, đầu tư nước ngoài còn hạn chế,
thu ngân sách chiếm tỷ lệ nhỏ so với yêu cầu chi ngân sách cho phát triển, các kết quả phát triển kinh
tế xã hội chưa cải thiện được nhiều đối với người dân vùng sâu, xa, các quy định luật pháp về bảo vệ
tài nguyên môi trường chưa được thực thi triệt để.
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Những thành tựu
1.1. Về tăng trưởng kinh tế
Tỉnh được chính thức thành lập từ năm 2004, tách ra từ một phần của tỉnh Đăk Lăk, thực hiện nhiệm
vụ phát triển KT - XH trong bối cảnh quốc tế, trong nước và trong tỉnh có nhiều biến đổi quan trọng.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế
đất nước và vùng Tây Nguyên nhưng cũng đưa lại không ít thách thức đối với nền kinh tế còn sản xuất
nhỏ là phổ biến như ở nước ta cũng như ở Đăk Nông nói riêng. Ở trong nước bên cạnh sự ổn định về
chính trị là yếu tố hàng đầu cho sự phát triển, chúng ta phải luôn coi trọng đảm bảo an ninh quốc
phòng, với tỉnh có biên giới dài và nhiều dân tộc chung sống như Đăk Nông.
Trong 4 năm qua (2004 - 2007), từ mức tăng trưởng kinh tế chưa cao, nhưng với sự chỉ đạo kịp thời về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường đầu tư cho công nghiệp và sự nỗ
lực của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh nền kinh tế đã đạt mức tăng trưởng khá, năm sau
cao hơn năm trước, chất lượng tăng trưởng dần được cải thiện thể hiện qua tốc độ, cơ cấu và triển
vọng giai đọan tiếp theo. Năng lực cạnh tranh của tỉnh cũng có bước tiến bộ đáng kể.
Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 15,4%/năm, đạt xấp xỉ so với mục tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm
2006 - 2010 bình quân là 16%/năm; trong đó, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006 đạt 15,32%, năm
2007 đạt 15,74%. Mức tăng chủ yếu nhờ sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp - xây dựng, tăng
bình quân 60%/năm; tiếp đến là giá trị gia tăng ngành dịch vụ cũng khá, tăng bình quân 14,7%/năm; giá
trị nông lâm nghiệp tăng 9%/năm.
- Thu nhập bình quân đầu người tăng khá, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện đáng kể, từ
4,53 triệu đồng (năm 2004) lên 9,9 triệu đồng (năm 2007), tương đương 616 USD. Tuy nhiên do chỉ số
giá tăng, nên thực chất việc cải thiện đời sống nhân dân thấp hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu
người.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu thành phần kinh tế
- Cơ cấu các ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Trong 4 năm (2004 - 2007), cơ cấu
kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ tăng dần tỷ trọng công nghiệp theo hướng thị
trường. Tỷ trọng khu vực I giảm từ 62,86% năm 2004, xuống còn 55,83% năm 2007; khu vực II từ
11,38% tăng lên 21,61% và khu vực III có giảm từ 25,76% xuống còn 22,57%. Nét nổi bật của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế thời gian qua là phát triển đa dạng ngành, nghề, cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục
chuyển dịch mạnh theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tỷ lệ tham gia trong chuỗi giá trị, đáp ứng
nhu cầu thị trường, phát huy lợi thế của từng vùng sản xuất. Công nghiệp chế biến nông sản, cây công
nghiệp, lâm sản và các ngành dịch vụ được chú trọng đầu tư và tăng dần trong cơ cấu kinh tế. Các
ngành dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, khu du lịch phát triển khá nhanh. Đặc biệt là một số ngành
dịch vụ có tỷ lệ chi phí trung gian thấp như ngân hàng, bảo hiểm…đã phát triển khá nhanh, góp phần
làm cho giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ tăng cao.
- Cơ cấu lao động đã chuyển dịch theo hướng tích cực cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do điều
kiện đặc thù của tỉnh, kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ lực nên tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo
nhóm ngành kinh tế diễn ra chậm. Trong những năm gần đây trồng cây công nghiệp phát triển mạnh
nhưng sự chuyển dịch chủ yếu vẫn là trong nội bộ ngành nông nghiệp. Sự chuyển dịch theo hướng
công nghiệp, dịch vụ vẫn còn hạn chế. Lao động nông nghiệp giảm dần để chuyển sang các ngành
công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; lao động khu vực I từ 84,02% năm 2004 giảm còn 79,31%; lao
động khu vực II từ 1,37% tăng lên 2,71% và lao động khu vực III từ 14,61% tăng lên 17,98% năm
2007. Điều này cho thấy, kinh tế của tỉnh đang phát triển theo hướng tăng dần về chất, tạo thêm việc
làm ngày càng nhiều, giảm bớt lao động nông nhàn ở nông thôn.
- Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế: Trong 4 năm qua, cơ chế chính sách của Đảng và Chính
phủ nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển như Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương
5, Luật Doanh nghiệp và Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp và du lịch, ưu đãi đầu tư
của tỉnh đã thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế ngoài quốc
doanh đã phát triển mạnh, bước đầu phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần của tỉnh đã có sự dịch chuyển theo hướng sắp xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế nhà
nước; phát huy tiềm năng, nguồn lực của thành phần kinh tế dân doanh, kinh tế hợp tác và các thành
phần kinh tế khác. Đến cuối năm 2007, cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP của tỉnh: Kinh tế nhà
nước chiếm 16,64%; kinh tế ngoài quốc doanh 81,73%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1,63%.
1.3. Phát triển các ngành kinh tế
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: giai đoạn 2004 - 2007 đạt 6.528 tỷ đồng, tăng bình quân hàng
năm 54% (bình quân 1.632 tỷ đồng/năm); trong đó, nguồn vốn trong nước chiếm 96,4%, vốn nước
ngoài chiếm 3,6%. Trong tổng nguồn vốn trong nước, vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
ước đạt 2.400 tỷ đồng (bình quân 600 tỷ đồng/năm); vốn tín dụng đầu tư trong kế hoạch chiếm 2,4%;
vốn doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 4,3%; vốn doanh nghiệp dân doanh chiếm 17%. Vốn
Trung ương đầu tư trên địa bàn chiếm 10% và vốn đầu tư trong dân cư chiếm 40%. Đặc biệt, nguồn
vốn hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu của Trung ương chiếm 70% trong tổng nguồn ngân sách nhà nước do
địa phương quản lý. Tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt 69,4%.
- Cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng khai thác tốt tiềm năng và lợi
thế của từng vùng sinh thái, ngày càng đi vào chiều sâu về hiệu quả, chất lượng và gắn với thị trường
tiêu thụ, phát triển theo hướng bền vững, từng bước hình thành và củng cố các ngành nghề truyền
thống ở nông thôn. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 93,34% năm 2004, xuống còn 92,24% năm 2007;
ngành chăn nuôi tăng từ 5,25% tăng lên 6,08% và dịch vụ nông lâm nghiệp tăng từ 1,24% lên 1,6%.
Công tác nghiên cứu và áp dụng các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và hiệu quả cao đã
được chú trọng, các mô hình trồng xen, nuôi xen trong vườn cà phê, cao su, tiêu được áp dụng rộng
rãi góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác.
- Cơ cấu sản xuất ngành công nghiệp đã được chuyển dịch theo hướng gắn sản xuất với thị trường
tiêu thụ, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, tập trung chế biến các sản phẩm từ thế mạnh của tỉnh
là cây công nghiệp, để nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến năm
2007 đạt 699,3 tỷ đồng, tăng gấp 2,6 lần so năm 2004. Nét nổi bật là tỉnh đã thành công trong việc thu
hút đầu tư phát triển ngành chế biến lâm sản, tạo ra những sản phẩm có giá trị xuất khẩu, nhờ đó đã
giải quyết tốt đầu ra cho phát triển cây công nghiệp, lâm sản, đem lại hiệu quả và nâng cao thu nhập
cho doanh nghiệp và người lao động. Khu công nghiệp Tâm Thắng đã có 11 nhà máy đang hoạt động,
5 nhà máy đang đầu tư xây dựng cơ bản, 16 dự án đăng ký đầu tư, tỷ lệ lấp đầy chiếm 65,5%. Trong
đó nhiều cơ sở sản xuất có công nghệ hiện đại, đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và
thu nhập lao động nông thôn được cải thiện. Đang triển khai xây dựng các cụm công nghiệp Nhân Cơ
(Đăk R’Lấp), Thuận An (Đăk Mil), Đăk Ha, (thị xã Gia Nghĩa), đã khởi công dự án khai khoáng bô xít và
luyện Alumin công suất 600 ngàn tấn/năm. Tiềm năng thuỷ điện đang được đầu tư khai thác, đang
triển khai xây dựng nhà máy thuỷ điện Buôn Tua Srah, công suất 84 MW, thủy điện Đăk Tih, công suất
144 MW và một số dự án thủy điện nhỏ, dự kiến đến năm 2010 hòa lưới điện quốc gia khoảng 1,5 tỷ
KWh.
- Cơ cấu các ngành thương mại dịch vụ có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đáp ứng tốt hơn
nhu cầu ngày càng đa dạng về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư như thương mại dịch
vụ, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm Giá trị sản xuất các ngành
dịch vụ bình quân 4 năm (2004 - 2007) tăng 22%, trong đó doanh thu ngành du lịch năm 2007 đạt 7 tỷ
đồng. Ngành thương mại ngày càng hoạt động sôi động, khối lượng hàng hóa lưu thông tăng liên tục.
Mặt hàng ngày càng phong phú, đa dạng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của sản xuất, tiêu dùng trong
tỉnh. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ năm 2007 đạt 2.301 tỷ đồng, giai đoạn 2004 - 2007 tăng
bình quân hàng năm khoảng 31,63%. Phương thức kinh doanh ngày càng đa dạng, mạng lưới kinh
doanh được mở rộng cả 3 địa bàn: đô thị, nông thôn, vùng sâu vùng xa. Các hợp tác xã đang từng
bước phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp. Thương mại tư nhân phát triển với nhịp độ cao, góp
phần vào thu mua và tiêu thụ nông sản hàng hóa, nhất là khu vực nông thôn.
Lĩnh vực bưu chính, viễn thông phát triển mạnh và được đầu tư hiện đại, cơ bản đã đáp ứng được nhu
cầu về thông tin liên lạc của các cấp, các ngành và nhân dân trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2007 đã có
193 điểm phục vụ (trong đó 12 bưu cục, 42 bưu điện văn hóa xã, 139 đại lý bưu điện và đa dịch vụ),
bán kính phục vụ bình quân của 1 điểm phục vụ là 3,3km, số dân bình quân được phục vụ 38.576 thuê
bao, đạt mật độ 8,85 máy/100dân, số thuê bao điện thoại cố định 236.524 thuê bao, đạt mật độ 0,54
thuê bao/100dân. Bước phát triển này đã tạo điều kiện phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, dịch
vụ tài chính, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.
1.4. Hội nhập và phát triển
- Về hội nhập của tỉnh Đăk Nông trong giai đoạn 2004 - 2007 đã có bước tiến khá vững chắc trong quá
trình hội nhập kinh tế trong khu vực, cả nước đã từng bước vươn ra thị trường quốc tế, nhất là tìm
kiếm thị trường, xúc tiến thương mại và đầu tư, xuất khẩu các sản phẩm chế biến chủ lực của tỉnh là
nông sản (sản phầm từ cây công nghiệp, hoa màu và lâm sản).
Để cải thiện môi trường đầu tư, tỉnh Đăk Nông chủ động rà soát các văn bản qui phạm pháp luật, ban
hành các chính sách phát triển công nghiệp và du lịch thông thoáng tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa
các thành phần kinh tế và đặc biệt trong thu hút vốn đầu tư ngoài tỉnh và nước ngoài. Từ năm 2004
đến nay, đã có 199 dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, với tổng vốn đầu tư trên 4.542 tỷ đồng;
trong đó có 89 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp, 82 dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp
và 30 dự án đầu tư vào lĩnh vực thương mại - du lịch. Đặc biệt năm 2007 số vốn đăng ký tăng gấp đôi
năm 2006. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn có 05 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với mức vốn đăng
ký đầu tư 17,5 triệu USD, thuộc các lĩnh vực: chăn nuôi heo, trồng và chế biến trà xuất khẩu, kinh
doanh các dịch vụ khách sạn. Tỉnh đã ban hành chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế và
đang triển khai đến các cấp chính quyền và doanh nghiệp. Tỉnh đã có kế hoạch xây dựng danh mục
các mặt hàng chủ yếu có khả năng cạnh tranh và chiến lược để xâm nhập thị trường trong nước và
quốc tế, xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình hội nhập, kể cả cho cán bộ
quản lý Nhà nước và cho doanh nghiệp.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, tổng kim ngạch xuất khẩu 4 năm 2004 – 2007 đạt 424 triệu USD,
tăng bình quân 45,4%/năm; với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm từ cây công nghiệp, lâm
sản, nông nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu từng bước khai thác được thế mạnh
của tỉnh, tạo ra những sản phẩm có giá trị xuất khẩu; cơ cấu hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch mạnh
theo hướng tích cực, tỷ trọng hàng CN - TTCN tăng nhanh và tỷ trọng hàng nông sản giảm mạnh phù
hợp với xu hướng phát triển. Thị trường xuất khẩu ngày càng phát triển, hiện tại hàng hóa của tỉnh đã
xuất khẩu sang các thị trường lớn, truyền thống như: Trung Quốc, Nhật, EU, Hàn Quốc ; thị trường
trung gian từng bước giảm mạnh, thị trường trực tiếp phát triển, đã tạo lập được thêm nhiều thị trường
mới (Trung Đông, Nam Mỹ, Đông Âu…).
1.5. Năng lực đầu tư và phát triển của tỉnh
Thu ngân sách tăng nhanh, đảm bảo được chi ngân sách trong cân đối ngân sách TW, huy động được
nhiều nguồn vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư cho phát triển.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2004 đạt 155 tỷ đồng, năm 2007 thu 311 tỷ đồng,
tăng gấp 2 lần so với năm 2004, tổng thu ngân sách nhà nước 4 năm (2004 - 2007) tăng bình quân
hàng năm khoảng 26,1%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tính chung trong 4 năm, tổng thu
ngân sách nhà nước đạt 864 tỷ đồng.
- Tổng chi ngân sách địa phương 4 năm là 4.414 tỷ đồng, tăng bình quân 21,5%/năm; trong đó, chi đầu
tư phát triển 2.171 tỷ đồng, tăng bình quân 29,3%/năm, chiếm 49,2% trong tổng ngân sách địa
phương; chi thường xuyên 2.243 tỷ đồng, tăng bình quân 18%/năm, chiếm 50,8% trong tổng ngân sách
địa phương. Ngân sách nhà nước tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng tích cực và hiệu quả hơn với
việc thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với quản lý nhà nước, đoàn thể, các
đơn vị quản lý nhà nước cấp xã phường và các đơn vị sự nghiệp có thu.
Có thể thấy dù tốc độ thu ngân sách tăng khá so với kế hoạch đề ra, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu
chi, chính vì vậy vẫn còn có sự mất cân bằng thu - chi. Đến cuối năm 2007, mức thiếu hụt thu - chi
ngân sách khoảng 1.300 tỷ đồng, tức thu ngân sách chỉ mới đảm bảo đáp ứng khoảng 19% tổng chi
ngân sách địa phương. Để bổ sung phần thiếu hụt này, tỉnh phải tranh thủ nguồn trợ cấp từ trung ương
và tranh thủ từ một số nguồn vốn khác.
Bảng 1: Thu - chi ngân sách 2004 - 2007
ĐVT: tỷ đồng
Thu - chi ngân sách/năm 2004 2005 2006 2007
Tổng thu ngân sách trên địa bàn
Tổng chi ngân sách
155
800
177
808
221
1.121
311
1.685
- Chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư trong, ngoài nước của tỉnh được triển khai và đạt kết quả
khá khả quan. Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội 4 năm 2004 – 2007 ước đạt khoảng 6.528 tỷ đồng,
tăng bình quân 44%/năm, so với mục tiêu 5 năm tăng 42%; trong đó: vốn ngân sách nhà nước chiếm
30% và vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân chiếm 57% trong tổng vốn đầu tư, nguồn vốn đầu
tư nước ngoài tăng 3%.
Đã huy động được nhiều nguồn vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư cho phát triển KT - XH; việc phân bổ vốn
đầu tư từ nguồn ngân sách được tập trung hơn, cơ cấu vốn đầu tư đã hướng vào các mục tiêu thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH, phát triển sản xuất - kinh doanh.
Thông qua sự hỗ trợ tích cực của Trung ương cùng với cân đối ngân sách của địa phương, trong 4
năm qua tỉnh đã xây dựng được nhiều công trình kết cấu hạ tầng và sản xuất - kinh doanh quan trọng
trên địa bàn như: Hệ thống cơ sở hạ tầng khu, cụm công nghiệp, các công trình thủy lợi vừa và nhỏ,
nâng cấp và mở rộng QL14 (đoạn qua thị xã Gia Nghĩa), QL 28 và cầu Đăk Nông, các tuyến đường
tỉnh lộ 2; 4; 6, đường đến trung tâm xã và nhiều dự án, công trình quan trọng khác.
- Huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đọan năm 2004 - 2007 khoảng 14,6 triệu USD và
chiếm 3,6% so với tổng vốn đầu tư xã hội toàn tỉnh. Điều đó cho thấy trong 4 năm qua việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài vào tỉnh còn hạn chế do nhiều yếu tố, trong đó có sự bất lợi về vị trí địa lý, hạ tầng,
chất lượng nguồn nhân lực….
1.6. Khoa học - công nghệ và bảo vệ tài nguyên môi trường có những chuyển biến tích cực
Công tác nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, cải tiến, đổi mới công nghệ và
xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ được chú trọng đầu tư; cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
từng bước được đổi mới; công tác BVMT theo quan điểm bền vững được nhận thức đầy đủ hơn; hoạt
động sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng đã hỗ trợ cho phát triển sản xuất, nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm.
Việc triển khai các đề tài khoa học về chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý. Công tác quản lý, khai thác
tài nguyên ngày được chú trọng, tạo ý thức cho các cơ sở sản xuất - kinh doanh và nhân dân trong
việc phát triển kinh tế gắn với BVMT. Đây là cơ sở để huy động các cơ quan quản lý môi trường,
doanh nghiệp, các tổ chức quần chúng và cộng đồng tham gia tích cực bảo vệ môi trường trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội.
2. Những tồn tại
2.1. Tăng trưởng chưa thật sự vững chắc; chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp,
chậm được cải thiện.
Tăng trưởng kinh tế mới xấp xỉ đạt mức kế hoạch đề ra. Sự tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, phụ
thuộc vào nông nghiệp, khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều nguyên liệu thô, chất lượng tăng trưởng
chưa cao, năng suất lao động thấp. Đóng góp vào tăng trưởng vẫn là yếu tố vốn, nguyên liệu thô, tài
nguyên và lao động thông thường, yếu tố về khoa học công nghệ chỉ mới ứng dụng các thành tựu khoa
học và tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp như ứng dụng các giống mới, các giống lai, công nghệ sinh
học, các biện pháp kỹ thuật canh tác. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của địa phương. Quy mô nền kinh tế của tỉnh còn nhỏ và phát triển chưa thực sự bền vững. Gần
đây do ảnh hưởng của lạm phát và tăng giá, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có nguy cơ bị chậm
hơn nữa. Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Chỉ số cạnh
tranh của tỉnh năm 2006 đứng thứ 64/64 tỉnh, thành phố trong cả nước. Hiện tại tỉnh Đăk Nông vẫn còn
xếp vào tỉnh nghèo và kém phát triển so với các tỉnh trong khu vực và của cả nước, với 11,9% diện
tích, 8,7% dân số; chiếm 9,8 % GDP (đứng thứ 4 trong 5 tỉnh Tây Nguyên, sau các tỉnh: Đăk Lăk, Lâm
Đồng, Gia Lai).
Chất lượng tăng trưởng thấp hiện nay thể hiện ở 3 mặt: về kinh tế, sức cạnh tranh của sản phẩm còn
hạn chế và yếu kém, chưa có sản phẩm chủ lực, chưa tham gia nhiều vào hệ thống phân công sản
xuất trong nước và quốc tế.
Về xã hội, tiến bộ về xã hội chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế, đời sống người dân chậm được
cải thiện, thu nhập tăng nhưng tỷ lệ nghèo tương đối có xu hướng tăng, tệ nạn xã hội chưa giảm rõ rệt.
Về môi trường sinh thái, việc phát triển kinh tế nông nghiệp và công nghiệp, phát triển hạ tầng thiếu quy
hoạch theo hướng bền vững đã làm giảm diện tích, chất lượng rừng, lãng phí tài nguyên, suy giảm
ĐDSH, ở nhiều nơi bị rừng tàn phá nghiêm trọng, chưa có các giải pháp hữu hiệu trong giải quyết vấn
đề môi trường.
Trong nông nghiệp: các phương thức canh tác bền vững chậm được áp dụng trên diện rộng, chi phí
trung gian trong các ngành sản xuất và dịch vụ còn khá lớn, khối lượng giá trị sản xuất tăng cao nhưng
giá trị gia tăng còn hạn chế, quy mô sản xuất được mở rộng nhưng tự phát không theo quy hoạch. Sự
chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của
tỉnh. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ chậm và ít được đầu tư thâm canh nên giá
trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác mới đạt khoảng 24 triệu đồng (năm 2007), thấp hơn bình quân chung
của cả nước, thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày (cà phê, tiêu, điều) và chăn nuôi nhất là chăn nuôi
gia súc ăn cỏ chưa tạo ra được một xu hướng rõ rệt để bứt phá để trở thành ngành quan trọng; chưa
hình thành được các vùng nguyên liệu ổn định cho công nghiệp, cho chế biến xuất khẩu, thị trường tiêu
thụ nông sản không ổn định.
Sản xuất lâm nghiệp hầu như không phát triển, do việc khai thác gỗ hàng năm giảm, diện tích trồng
rừng tăng chậm. Tình trạng đốt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép còn diễn biến phức tạp, việc
ngăn chặn chưa có hiệu quả, mô hình sản xuất lâm nghiệp còn lúng túng, chưa gắn đựợc trách nhịêm
và quyền lợi của các chủ rừng, hiệu quả kinh doanh rừng thấp, tình trạng xâm canh trên đất rừng khá
phổ bíến, đã làm giảm nghiêm trọng chất lượng và diện tích rừng.
Cơ sở hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn. Sản xuất chưa gắn kết được 4 “nhà”: nhà nông, nhà kinh doanh, nhà khoa học và nhà
nước, đặc biệt là khâu tiêu thụ theo hợp đồng sản phẩm chưa được áp dụng rộng rãi, dịch vụ cung cấp
đầu vào, đầu ra chưa được tổ chức tốt trong nhiều trường hợp đã gây khó khăn cho doanh nghiệp và
người dân.
Các ngành công nghiệp: tuy có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng và hiệu quả toàn ngành
chưa được cải thiện, công nghệ, thiết bị còn lạc hậu. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp 4 năm (2004 -
2007) tăng bình quân 59,2%/năm, nhưng giá trị gia tăng chưa tương xứng (bình quân chỉ tăng
52%/năm). Hầu hết thiết bị, công nghệ chậm được đổi mới, trình độ kỹ thuật sản xuất nhìn chung còn
thấp, sản phẩm chủ yếu là sơ chế, sức cạnh tranh kém, giá thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh
thấp với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên và cả nước. Khu công nghiệp Tâm Thắng chưa tạo ra
động lực mạnh cho tăng trưởng kinh tế, quá trình đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư còn gặp nhiều khó
khăn và chậm so với yêu cầu phát triển. Sự phát triển công nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, khu vực nông
thôn chủ yếu phục vụ tại chỗ, tích lũy thấp.
Các ngành dịch vụ tuy có mức tăng trưởng nhanh, nhưng tỷ trọng còn nhỏ trong cơ cấu kinh tế. Phát
triển du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Trong ngành dịch vụ, tài chính, ngân
hàng, và bảo hiểm là những ngành dịch vụ quan trọng có khả năng tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh
nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ. Năng lực tiếp cận thị trường
của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh còn yếu, thị trường xuất khẩu thiếu bền vững, chưa có nhiều
sản phẩm xuất khẩu chủ lực, tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương tuy đã tăng nhanh nhưng so
với tiềm năng còn thấp, mặt hàng chủ yếu vẫn là nông - lâm sản. Tích luỹ từ nội bộ để tái đầu tư còn
rất hạn chế, thu hút đầu tư vốn từ bên ngoài chưa đáng kể.
2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm do cơ sở hạ tầng còn lạc hậu
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành chưa thật sự diễn ra theo một chiến lược tổng thể định hướng
bền vững, được quy hoạch với tầm nhìn xa theo một lộ trình hợp lý, nhìn chung trong 4 năm qua phần
nhiều là tự phát, chủ yếu vẫn được định hướng bởi các quy hoạch mang tính cục bộ của riêng các
ngành và địa phương.
Việc chuyển dịch cơ cấu ngành chỉ chú trọng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, chưa chú ý nhiều
tới mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững thông qua hiện đại hóa, áp dụng công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong các ngành, lĩnh vực chủ yếu. Hệ quả là việc phát triển một số cơ sở công
nghiệp có công nghệ lạc hậu, chi phí lớn, hiệu quả kinh tế thấp, điều này có nguy cơ làm giảm khả
năng cạnh tranh trong tương lai của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ cấu kinh tế
vẫn nằm trong tình trạng lạc hậu, ngành nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 55,25% GDP. Trong khi đó
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông lâm nghiệp còn chậm, chưa tương xứng với tiềm
năng thế mạnh của tỉnh. Đến năm 2007 tỷ trọng ngành chăn nuôi mới chiếm 6,1%, ngành dịch vụ
chiếm 1,7% giá trị sản xuất nông nghiệp. Sản xuất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 1,9% giá trị sản xuất nông
lâm nghiệp. Tình trạng đốt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép còn diễn biến phức tạp, việc ngăn
chặn chưa có hiệu quả.
Các thành phần kinh tế vận hành kém hiệu quả: do cơ chế, chính sách phát triển các thành phần kinh
tế chưa được triển khai thực hiện đầy đủ. Việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nước, nhất là cổ phần hóa doanh nghiệp còn lúng túng, tiến hành chậm. Kinh tế tập thể tuy được
quan tâm chỉ đạo nhưng phát triển chậm, phần lớn các hợp tác xã hoạt động cầm chừng, thiếu vững
chắc, kém hiệu quả, chưa tạo được nhiều mô hình tốt để nhân rộng. Kinh tế tư nhân tuy được khuyến
khích phát triển, nhưng vẫn còn hạn chế về mức đầu tư và tiềm lực chưa được khai thác đầy đủ, chủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp.
Cơ cấu lao động chậm chuyển dịch so với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng ngành: Sự chuyển
dịch cơ cấu lao động còn mang nặng tính tự phát, đáp ứng tức thời với những lao động đơn giản, chưa
đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chất lượng
nguồn nhân lực thấp đã ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp
và dịch vụ. Tình trạng lao động phổ thông dôi dư nhưng lại thiếu lao động có kỹ thuật do tỷ lệ lao động
qua đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu tiếp cận công nghệ tiên tiến đang là vấn đề nan giải của
không ít doanh nghiệp. Trong 4 năm (2004 - 2007), tỷ trọng lao động ngành nông lâm nghiệp giảm từ
84%, xuống còn 79,3%; tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ 1,4% lên 2,7%, các ngành dịch vụ tăng từ
14,6% lên 18%.
2.3. Công tác quy hoạch, quản lý đất đai chưa theo kịp quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa
Công tác quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của tỉnh, quy hoạch phát triển các ngành giao thông,
thuỷ lợi, thương mại, du lịch, công nghiệp, điện đã được xây dựng theo hướng gắn sản xuất với nhu
cầu thị trường, coi trọng mối quan hệ liên ngành, liên vùng. Tuy nhiên, chất lượng quy hoạch nhìn
chung chưa theo kịp yêu cầu phát triển KT - XH của tỉnh; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm
công tác quản lý quy hoạch còn hạn chế; công tác quản lý đất đai còn lỏng lẻo; quy hoạch và quản lý
quy hoạch khu dân cư nông thôn chưa được quan tâm đúng mức, các điểm dân cư hình thành tự phát
và phân tán, dân di cư tự do tăng đột biến, gây khó khăn cho công tác bảo vệ rừng cũng như việc đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng KT - XH.
Công tác đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm: Đến nay đã thống kê đo đạc bản
đồ hoàn thành 643.495 ha, đạt 98,7% diện tích cần đo vẽ. Quy hoạch sử dụng đất được 6/8 huyện và
thị xã Gia Nghĩa. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, năm 2007 mới được
32% cho các tổ chức, 67% cho các cá nhân và hộ gia đình. Ảnh hưởng đến việc sử dụng hợp pháp đất
đai, trong việc giao dịch dân sự về đất đai của các tổ chức và cá nhân.
2.4. Trình độ khoa học và công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu, chậm được đổi
mới
Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém: Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu, đặc biệt là
thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao, cán bộ cho vùng sâu, vùng xa. Cơ cấu nhân lực
KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý, nên khó khăn cho quá trình chuyển giao
công nghệ. Cơ chế tài chính vẫn mang nặng tính hành chính, bao cấp chưa phù hợp với đặc thù của
hoạt động khoa học công nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường.
Hoạt động KHCN chưa thật sự gắn bó với sản xuất và đời sống, chưa xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi
thực tế của sản xuất. Kết quả nhiều công trình, đề tài chậm được đưa vào ứng dụng gây lãng phí tiền
của của nhà nước.
Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn rất thấp và lạc hậu. Nhiều doanh nghiệp và cơ sở
sản xuất chưa quan tâm đến đổi mới công nghệ, và áp dụng quản lý chất lượng theo hệ thống tiêu
chuẩn quốc tế ISO 9000. Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến phần nhiều chưa quan tâm đến BVMT
và PTBV. Việc áp dụng tiêu chuẩn môi trường ISO 14000 cũng hầu như chưa được quan tâm. Các
doanh nghiệp quan tâm đầu tư ứng dụng và đổi mới công nghệ còn chưa được tạo điều kiện.
Trong khi hệ thống giáo dục đào tạo của tỉnh chưa đủ khả năng cung cấp được nhân lực chất lượng
cao, thì cơ chế, chính sách đầu tư và phát triển KHCN chưa đủ mạnh và thu hút được các nhà khoa
học đến Đăk Nông công tác cũng như nghiên cứu.
Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp.
Trang thiết bị phục vụ các công trình nghiên cứu nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so
với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành.
Có thể nói, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung KH&CN tỉnh Đăk Nông
còn nhiều mặt yếu kém, còn có khoảng cách khá xa so với cả nước và khu vực Tây Nguyên, chưa đáp
ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển KT - XH.
2.5. Cơ sở hạ tầng kinh tế chậm phát triển, có khó khăn do điều kiện địa hình, thời tiết
- Hệ thống giao thông: đến nay 3 tuyến quốc lộ vẫn còn lại 30% là đường đất, đường tỉnh lộ có 6 tuyến,
nhựa hóa được 58%, còn lại 42% là đường đất, đường cấp phối. Hệ thống đường huyện dài 501 km,
nhựa hóa được 44%, còn lại 56% là đường đất, đường tạm. Hệ thống đường đô thị dài 123 km mới
nhựa hóa được 63%, nhưng chưa đạt cấp đường đô thị. Đường xã, thôn, bon dài 2.162 km, mới nhựa
hóa được 8%, còn 17 xã đi lại lưu thông trong mùa mưa còn gặp nhiều khó khăn.
- Thuỷ lợi: Toàn tỉnh có 194 công trình thuỷ lợi, chủ yếu là các công trình có quy mô nhỏ, mới đáp ứng
được gần 36% nhu cầu tưới.
- Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: Tổng số người dân của tỉnh được cấp nước
hợp vệ sinh của tỉnh khoảng 56,1%, trong đó khu vực nông thôn chiếm 45,58%. Nhiều hộ vẫn còn sử
dụng nước khe suối không hợp vệ sinh.
- Hệ thống cấp điện, đến nay còn 13% số hộ chưa có điện.
2.6. Các vấn đề xã hội, tài nguyên và môi trường sinh thái chưa thực sự được quan tâm đúng mức và
giải quyết hiệu quả
- Trong những năm qua, khi mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo được đặt lên hàng đầu,
nhiều vấn đề xã hội, môi trường chưa được cân nhắc đầy đủ trong các quy họach, kế hoạch của các
ngành và địa phương. Chính vì vậy, các tác động tiêu cực từ quá trình phát triển đã không được đề
cập, giải quyết và hạn chế đến thành quả phát triển kinh tế - xã hội.
- Công tác BVMT chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay chất lượng nước ở các sông, suối chính
cho thấy hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn chất lượng nước mặt loại A tại cầu Đăk Nông từ
3 - 11 lần. Các chỉ tiêu chất hữu cơ tại một số điểm ở trung tâm đô thị cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ
2 - 2,5 lần. Chất lượng không khí tại thị xã Gia Nghĩa, các thị trấn Kiến Đức, và Đăk Mil đều vượt tiêu
chuẩn cho phép từ 1,1- 1,3 lần. Công tác vệ sinh trong các trường học, trạm xá, gia đình còn hạn chế,
hiện tại toàn tỉnh có 28% hộ gia đình chưa có nhà vệ sinh, 35% hộ gia đình có hố xí không hợp vệ sinh.
Việc thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Đăk Nông còn rất yếu kém. Tình hình sử
dụng phân bón còn ở mức thấp (dưới 200kg NPK/ha), song các vùng trồng cà phê tỷ lệ bón phân
không cân đối. Việc kinh doanh phân bón và chất lượng phân bón không đảm bảo yêu cầu cũng gây
ảnh hưởng đến môi trường, làm suy thoái chất lượng đất. Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV)
được sử dụng rất đa dạng về chủng loại và không ngừng gia tăng về số lượng (ở những vùng trồng
cây cà phê). Các cơ sở sản xuất công nghiệp chưa chú trọng xử lý chất thải, các nhà máy chế biến
sắn, mía đường đã gây ô nhiễm môi trường, Khu công nghiệp Tâm Thắng cũng chưa có hệ thống xử lý
nước thải. Tài nguyên rừng suy giảm nghiêm trọng, môi trường sinh thái đang suy thoái. Tình trạng đốt
phá rừng, khai thác lâm sản trái phép chưa được ngăn chặn có hiệu quả, mỗi năm có hàng trăm ha
rừng bị phá và bị cháy.
- Theo quy hoạch phát triển, các nguồn tài nguyên sẽ được khai thác, trong đó quặng bôxít sẽ được
khai thác chế biến quy mô lớn, bên cạnh những lợi ích thu được trong phát triển kinh tế, tạo việc làm,
tăng thu ngân sách, nâng cao thu nhập cho người dân, các tác động tiêu cực có thể ảnh hưởng đến an
sinh xã hội, sinh kế, tập quán văn hóa, sinh họat của người dân do di dân giải phóng mặt bằng, thi
công. Khai thác trên diện tích lớn còn gây phá vỡ cảnh quan, ô nhiễm môi trường trong khai thác, chế
biến thực sự là thách thức lớn đối với Đăk Nông. Chế biến quặng bô xít tiêu thụ một lượng điện năng
và nước khổng lồ, tạo ra lượng phế thải lớn, có thể làm đảo lộn cân bằng môi trường nước và xung đột
sử dụng cho nhu cầu sinh họat, nông nghiệp, chế biến bôxít và các nhu cầu khác. Phát triển thủy điện
cũng có thể gây ra ô nhiễm và phá hủy cạn kiện mô trường sinh thái.
- Hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) đã bắt đầu có ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu của Đăk Nông,
tuy nhiên tỉnh chưa có điều kiện quan trắc và chưa thực sự chú trọng đến việc tìm kiếm giải pháp giảm
thiểu và thích ứng. Tác động của BĐKH có thể chưa thấy rõ trong tương lai gần, nhưng có nguy cơ gây
thiệt hại lớn vào khoảng 2020.
Vì vậy, vấn đề BĐKH cần được chú ý đúng mức.
II. PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1. Những thành tựu
1.1. Nguồn nhân lực
a) Trình độ và cơ cấu lao động:
Sau hơn bốn năm thành lập, với những thành tựu ban đầu đạt được, Đăk Nông đã chứng tỏ được khả
năng của mình trong việc tận dụng các thời cơ để phát triển một cách năng động và bền vững. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Đăk Nông đang phải tiếp tục vượt qua nhiều thách thức ngày
càng trở nên gay gắt mà một trong số đó là phải xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu phát
triển của tỉnh và của đất nước đang trong quá trình đổi mới và hội nhập khu vực, quốc tế sâu rộng hơn.
Về tỷ lệ, Đăk Nông hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào, tương đương với bình quân chung của
cả nước. Đến hết năm 2007, tỉnh Đăk Nông có 223.348 lao động trên tổng số 430.668 dân, đạt 51,86%
(chỉ tiêu này của cả nước là 51,76%); tỷ lệ lao động theo cơ cấu nhóm ngành kinh tế là: công nghiệp -
xây dựng 6,0%, nông - lâm - ngư nghiệp: 77,5%, thương mại - dịch vụ: 16,5%; sức trẻ là đặc điểm nổi
trội của tiềm năng nguồn nhân lực Đăk Nông, với 66,34% số dân trong độ tuổi từ 15 - 60 (độ tuổi lao
động), đây là yếu tố rất thuận lợi để phát triển KT - XH.
Người lao động Đăk Nông nói riêng và Việt Nam nói chung có những phẩm chất quý giá như: thông
minh, cần cù, chịu khó, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc biệt là kỹ năng sử dụng các công
nghệ hiện đại tương đối nhanh. Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của nguồn nhân lực nước nhà
trong quá trình hội nhập và tham gia thị trường lao động quốc tế.
b) Sử dụng và đào tạo nguồn nhân lực:
Trong bốn năm qua tỉnh đã chú trọng đến công tác đào tạo nghề và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến
thức cho đội ngũ cán bộ công chức, nhất là ở cấp xã, phường/thị trấn và người đồng bào dân tộc thiểu
số. Kết quả đã đào tạo nghề cho 11.000 lao động; trong đó ngắn hạn 99,5% và dài hạn 0,5%. Tiến
hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường/thị trấn cho 3.024 người; trong đó tỷ lệ nữ
17%, dân tộc thiểu số 21%.
Về tỷ lệ đào tạo: chuyên môn nghiệp vụ 68%, quản lý nhà nước 20%, lý luận chính trị 12%. Đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh, huyện/thị xã: tổng số 1.174 người; trong đó tỷ lệ nữ 16%, đồng bào
dân tộc thiểu số 4%. Về tỷ lệ đào tạo: chuyên môn nghiệp vụ 18%, quản lý nhà nước 10%, lý luận
chính trị 57% và bồi dưỡng đại biểu HĐND 16%.
c) Quản lý nhà nước và cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh:
Thời gian qua cơ sở công tác phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đã có nhiều biến chuyển tích cực, tỉnh
đã thu hút được một lượng lớn cán bộ có trình độ chuyên môn về công tác. Tỉnh có các chính sách hỗ
trợ riêng đối với học sinh, sinh viên, lao động học nghề là người đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách
hỗ trợ cho bác sỹ, giáo viên về công tác ở vùng khó khăn cũng đã được ban hành. Tỉnh cũng đã ban
hành các quyết định về đào tạo cán bộ ngành giáo dục, y tế đạt trình độ trên đại học. Trên cơ sở Nghị
quyết 90/CP, chủ trương xã hội hóa (XHH) của Đảng và Nhà nước, UBND tỉnh đã xây dựng Quy hoạch
về phát triển XHH các hoạt động động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Các yếu tố đó đã tác
động đến chất lượng nguồn nhân lực như: đối với giáo dục trong những năm qua đã được tuyên
truyền rộng rãi trong xã hội, nhận thức về XHH giáo dục trong các tầng lớp nhân dân ngày càng chuyển
biến, sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội và đông đảo nhân dân
đối với nhà trường, học sinh ngày càng sát sao, cụ thể và hiệu quả hơn. Đối với lĩnh vực y tế đã có sự
chuyển biến tích cực, các dịch vụ y tế ngoài công lập được hình thành và củng cố tạo điều kiện cho
người dân có thể tự lựa chọn các dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu. Đối với lĩnh vực văn hóa đã
có những phát triển mới và đạt những kết quả đáng khích lệ, các thành phần kinh tế, nhất là tư nhân đã
có những đầu tư vào hoạt động kinh doanh và dịch vụ văn hóa, phong trào văn nghệ, công tác bảo tồn
văn hóa truyền thống…
1.2. Công tác lao động, việc làm và xóa đói, giảm nghèo
Lao động và việc làm vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề xã hội nhân văn và chính trị. Văn kiện Đại hội
X của Đảng đã nêu rõ: Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định
và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của
nhân dân
Trong 4 năm, tỉnh đã giải quyết việc làm cho khoảng 46.000 người, trong đó đã đưa được gần 1.200
người đi làm việc ở nước ngoài theo triển khai đề án xuất khẩu lao động. Có chính sách ưu tiên cho lao
động vùng nông thôn, là con em dân tộc có hoàn cảnh khó khăn. Công tác đào tạo nghề đã giúp người
lao động có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn, bình quân mỗi năm có 3.100 lao động được đào tạo, đã
góp phần giải quyết vấn đề nông nhàn ở nông thôn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 12% năm 2004
lên
19,36% năm 2007. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 83,78% năm 2004 tăng lên 84,5%
vào năm 2007. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị đến cuối năm 2007 giảm còn 1,2%.
Trong công tác thực hiện các chính sách xã hội, qua 4 năm tỉnh đã triển khai xây dựng được gần được
394 căn nhà tình nghĩa với số tiền 5 tỷ đồng. Công tác XĐGN đã đem lại những thành công vượt bậc,
qua 4 năm đã có 13.614 hộ thoát nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo hiện nay xuống còn 14%.
1.3. Các dịch vụ cơ bản
a) Giáo dục - đào tạo: Tiếp tục phát triển cả về qui mô và chất lượng, năm học 2007 - 2008 toàn tỉnh có
268 trường, với 133.164 học sinh, tăng 4.234 học sinh, trong đó có 44.910 học sinh là người dân tộc
thiểu số, chiếm 33%; 26 trường có thư viện, chiếm 10,61%; 21 trường được công nhận đạt chuẩn quốc
gia (02 trường mầm non, 16 trường tiểu học, 3 trường THCS); 50/71 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập
THCS, đạt 70,42%. Tổng số học sinh THPT đỗ tốt nghiệp 2 đợt là 2.652/4.061 em, đạt 65,3%, trong đó
hệ bổ túc THPT đỗ tốt nghiệp 238/616 em, đạt 38,6%. Số cán bộ, giáo viên, nhân viên trong toàn
ngành là 6.982 người; trong đó có 6.473 cán bộ quản lý, giáo viên (4.626 nữ, chiếm 71,5%; 398 người
dân tộc, chiếm 6,15%).
Công tác xây dựng trường lớp và trang thiết bị dạy học từng bước đáp ứng yêu cầu, không còn tình
trạng học 3 ca. Phần lớn các trường đã được xây dựng mới theo hướng kiên cố hóa. Đến nay, đã có
62/71 xã, phường, thị trấn có trường mầm non với 69 trường; 61/71 xã, phường, thị trấn có trường
THCS. Số trường THPT chỉ có 6 (2003 - 2004) tăng lên 16 trường (2007 - 2008) (01 trường THPT dân
tộc nội trú tỉnh). Năm học 2007 - 2008, toàn tỉnh đã phát triển thêm 31 trường so với năm học 2006 -
2007, 5 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, 3 cơ sở dạy nghề đi vào hoạt động là Trường Kỹ
Số 01 ngày 01 - 01 – 2009 thuật Công nghệ và Dạy nghề thanh niên dân tộc, Trường Dạy nghề số 8
(Bộ Quốc phòng), Trung tâm dạy nghề tư thục Đại lợi và 02 trung tâm dịch vụ việc làm có chức năng
dạy nghề là Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Trung tâm giới
thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ.
b) Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Ngành Y tế trong 4 năm qua đã tập trung mọi nguồn lực để triển khai các hoạt động phòng, chống các
dịch bệnh lây lan như sốt rét, sốt xuất huyết, cúm gia cầm, SARS, tiêu chảy cấp… Công tác tiêm chủng
vắc xin cho trẻ dưới 1 tuổi được triển khai tích cực. 10 dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về
y tế đang được thực hiện góp phần giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng từ 36% năm 2004 xuống còn 31,9%
năm 2007. Tỉnh tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở khám chữa bệnh cũng như chuẩn
hóa đội ngũ y bác sĩ để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Kết quả đến cuối năm
2007, có 26/71 xã có bác sĩ, chiếm 36,6%; 65/71 xã/phường/thị trấn có trạm y tế, chiếm 91,54%; đạt
12,07 giường bệnh/1 vạn dân (không tính tuyến xã). Tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 1 tuổi giảm xuống còn
47,4%. Về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ: 85% phụ nữ có thai được quản lý; 67% số phụ nữ đẻ được
khám thai 3 lần trở lên; 78% phụ nữ đẻ tại các cơ sở y tế; 84% phụ nữ đẻ do cán bộ y tế đỡ.
Tỉnh đã thực hiện tốt công tác khám và chữa trị cho bệnh nhân nghèo theo Quyết định 139/2002/QĐ-
TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Công tác XHH các dịch vụ về y tế dần được hình
thành và củng cố, đến nay toàn tỉnh có 02 công ty dược - vật tư y tế tư nhân, 127 nhà thuốc và đại lý,
33 phòng khám tư nhân ngoài giờ và 30 cơ sở dịch vụ y tế tư nhân khác.
1.4. Văn hóa, thể thao và du lịch
Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao có nhiều tiến bộ. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển rộng
khắp, hình thức, nội dung ngày càng phong phú, góp phần nâng cao dân trí và nhu cầu hưởng thụ văn
hóa của nhân dân. Đến cuối năm 2007 có 90% số hộ được xem truyền hình Việt Nam và 90% hộ được
nghe đài tiếng nói Việt Nam. Công tác bảo tồn, bảo tàng được quan tâm, nhiều di tích văn hóa lịch sử
đã được xây dựng và đưa vào sử dụng như: 35 đền thờ, 15 nhà chùa và nhiều khu di tích lịch sử
khác góp phần gìn giữ, giáo dục và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương.
Văn hóa cơ sở, văn hóa cộng đồng và gia đình đã được quan tâm duy trì, phát triển. Phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp
nhân dân. Đến cuối năm 2007, có 01 xã, phường, thị trấn và trên 47.000 gia đình đạt chuẩn văn hóa.
Kết quả của phong trào đã góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy KT - XH
phát triển.
Lễ hội văn hóa truyền thống hàng năm của tỉnh được tổ chức nhân ngày 23/3 giải phóng Gia Nghĩa -
Đăk Nông Một số lễ hội khác mang tính dân gian như Lễ hội sum họp cộng đồng các dân tộc tỉnh
Đăk Nông, lễ hội của người M’Nông, Mạ, Êđê và một số lễ hội đặc trưng của các dân tộc. Đặc biệt,
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Tỉnh hiện có 3 di tích văn hóa và lịch sử được công nhận ở cấp quốc gia (Di tích ngục Đăk Mil, Khu căn
cứ kháng chiến Nâm Nung và Khu căn cứ khởi nghĩa Nơ Trang Lơng). Hiện nay, các khu di tích được
cải tạo và bảo quản khá tốt. Hàng năm tỉnh đều dành ngân sách cho công tác quản lý và trùng tu các di
tích văn hóa và lịch sử.
Các hạ tầng văn hóa, thể thao: bảo tàng, nhà văn hóa, nhà hát, thư viện, công viên, khu vui chơi giải
trí, nhà thi đấu đã bước đầu được quy hoạch, đầu tư phát triển.
Tóm lại, giai đoạn 2004 - 2007 tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhưng với sự nỗ lực
phấn đấu rất cao của các cấp, các ngành, các địa phương vì vậy các mặt văn hóa, xã hội đều có bước
phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên, bộ mặt thành thị và nông thôn có nhiều khởi sắc, đã góp
phần tạo ra động lực mới thúc đẩy kinh tế phát triển và đảm bảo ổn định an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội trên địa bàn.
2. Những tồn tại
- Lĩnh vực lao động và giải quyết việc làm còn nhiều tồn tại như chất lượng lao động kém, năng suất
thấp, tỷ lệ lao động chuyên môn kỹ thuật trong tổng số lực lượng lao động xã hội còn thấp, đặc biệt là
lao động có trình độ cao. Cụ thể, năm 2007, trong tổng số 223.348 lao động có 180.108 lao động chưa
qua đào tạo (80,64%), 23.693 lao động qua đào tạo nghề (7,85%), 17.325 lao động có trình độ trung
cấp (5,74%), 5.886 lao động có trình độ cao đẳng (1,95%) 11.379 lao động có trình độ đại học (3,77%).
Như vậy, với yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng
sâu rộng thì chất lượng nguồn nhân lực hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Cơ cấu ngành nghề
chưa hợp lý. Sự chuyển dịch lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn rất chậm. Tỷ
trọng lao động trong nông nghiệp chiếm rất cao (77,5% tổng số lao động). Tình hình phân bổ và sử
dụng nguồn nhân lực của tỉnh trong thời gian qua chưa hợp lý giữa các cấp quản lý hành chính nhà
nước, giữa khu vực thành thị và nông thôn, đặc biệt là cấp quản lý cơ sở xã, phường, thị trấn vẫn còn
một số cán bộ công chức chưa đạt trình độ chuẩn theo quy định trong khi số học sinh sinh viên tốt
nghiệp ra trường có trình độ chuyên môn, quản lý lại không được tiếp nhận hoặc không muốn vào làm
việc. Hiện tượng lao động trong các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp bố trí việc làm không
đúng chuyên môn nghiệp vụ đào tạo vẫn còn xảy ra nên không phát huy được năng lực, sở trường,
ảnh hưởng không ít đến hiệu quả công tác. Chưa có chính sách cụ thể và môi trường làm việc tốt để
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét