Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Biện pháp hạn chế và xử lý nợ khó đòi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải - chi nhánh HN

Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
Đối với ngân hàng thơng mại:
Có thể thấy rằng trong bất kỳ ngân hàng nào, bất kỳ thời kỳ nào thì tín dụng ngân
hàng cũng là hoạt động cơ bản và chiến tỷ trọng lớn nhất trong khoản mục tài sản
nợ của ngân hàng và mang lại nguồn thu nhập lớn nhất trong các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thơng mại. ở các nớc Âu - Mỹ, tín dụng ngân hàng chiếm
60% - 70% tổng tài sản nợ của ngân hàng thơng mại và mang lại 60% - 65% tổng
thu nhập của các ngân hàng thơng mại. Còn ở nớc ta, tín dụng ngân hàng chiếm
70% - 85% tổng tài sản nợ của ngân hàng thơng mại và mang lại 70% - 80% tổng
thu nhập của các ngân hàng thơng mại. Hoạt động tín dụng tạo công ăn việc làm
cho cán bộ công nhân viên ngân hàng, gắn chặt mối quan hệ giữa ngân hàng với
các hoạt động trong nền kinh tế.Do vậy, tín dụng ngân hàng là hoạt động cơ bản
và quan trọng nhất trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại.
Đối với nền kinh tế:
Tín dụng ngân hàng thúc đầy nền kinh tế phát triển. Tín dụng ngân hàng cung
cấp vốn cho nền kinh tế nhờ đó các doanh nghiệp, các hộ sản suất mở rộng hoạt
động sản suất kinh doanh, duy trì sự hoạt động sản xuất liên tục, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế. Qua đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò
quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho ngời lao
động, đem lại thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân.
Mặt khác, khi cấp bất kỳ khoản tín dụng nào thì các ngân hàng đều phải lựa
chọn, thẩm định một cách chặt chẽ theo những phơng pháp quy trình nhất định.
Nhờ đó mà loại bỏ đợc những dự án sản xuất kimh doanh không hiệu quả, những
gian lận kinh tế và lựa chọn đợc những dự án sản suất kinh doanh khả thi đem lại
hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động
của nền kinh tế, góp phần tạo nên sự phát triển ổn định lâu dài của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trờng sự cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng gay gắt
và khốc liệt, đã có những doanh nghiệp bị loại hoặc sắp bị loại khỏi vòng quay
của nền kinh tế, chính lúc này vai trò của tín dụng ngân hàng đợc thể hiện và bộc
lộ rõ nét nhất; tín dụng ngân hàng là ngời góp sức để vực nên một số doanh
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
nghiệp có khả năng kinh doanh nhng còn thiếu vốn. Nhờ có hoạt động tín dụng
ngân hàng mà sự cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng mạnh mẽ, thúc đẩy lỗ
lực của từng thành phần trong nền kinh tế đi lên.
Tín dụng ngân hàng là công cụ ghóp khần tăng cờng chế độ hạch toán kinh tế
của các đơn vị kinh tế. Một đặc trng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận
chuyển trên cơ sở hoàn trả có lợi tức. Vì thế mà tín dụng phần nào phản ánh đợc
kết quả sản xuất kinh của đơn vị.
Hoạt động tín dụng ngân hàng đã và đang thúc đẩy nền kinh tế đi lên. Việc
tăng nhanh vòng quay tiền trong một chu kỳ kinh tế rất lớn đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Tín dụng ngân hàng cung cấp vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt
kịp thời, giúp các hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, tăng nhanh vòng quay
luân chuyển vốn, luân chuyển sản xuất hàng hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động
của nền kinh tế. Để "công nghiệp hoá hiện đại hoá" đất nớc theo đúng mục tiêu
của Đảng và nhà nớc đặt ra, ngân hàng cần huy động thêm nhiều nguồn vốn cả
trong và ngoài nớc. Thông qua hoạt động tín dụng, nhà nớc ta cần mở rộng hơn
nữa quan hệ vay mợn nớc ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ
để qua đó thu hút thêm nguồn vốn đầu t. Nh vậy tín dụng ngân hàng là hoạt động
quan trọng và không thể thiếu đối với nền kinh tế.
1.1.3 Nguyên tắc cấp tín dụng ngân hàng.
Với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều có rủi ro tồn tại trong đó.
Đối với ngân hàng thơng mại cũng không ngoại lệ, nhất là trong hoạt động kinh
doanh tín dụng. Đây là hoạt động rất quan trọng của ngân hàng thơng mại, đem
lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng thơng mại nhng tồn tại nhiều rủi ro. Do
vậy đối với bất kỳ một khoản vay nào đều đợc Ngân hàng kiểm tra, xem xét, tuân
thủ đúng nguyên tắc, quy trình nghiệp vụ tín dụng.
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành
quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì khách hàng vay vốn
của ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp dồng tín dụng với
Ngân hàng. Đây là một trong các yếu tố mang tính quan trọng vì nó quyết định
đến tính chất của khoản vay và phần lợi nhuận Ngân hàng thu về. Và là điều
khoản quan trọng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng.
- Ngời vay phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn. Việc trả tiền vay đúng
thời hạn là yếu tố thể hiện khoản vay chất lợng tốt. Để đánh giá khả năng trả nợ
của ngời vay Ngân hàng đánh giá theo các chỉ tiêu sau:
+ Thông qua ngiên cứu hồ sơ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trớc đây.
+ Thông qua nghiên cứu đề án sản xuất kinh doanh của ngời vay trình ngân
hàng.
+ Xem xét các kế hoạch trả nợ gốc và lãi khoản vay cho phù hợp với hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngời vay sau khi ngân hàng giải ngân để đặt ra các
điều khoản hoàn trả phù hợp hơn.
+ các chỉ tiêu khác
- Hình thức bảo đảm phù hợp. Thông qua các hình thức bảo đảm Ngân hàng
hạn chế đợc các rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Hình thức bảo đảm có thể bằng tài
sản thế chấp hay uy tín của ngời vay, trong một số trờng hợp có thể Ngân hàng
không cần có hình thức bảo đảm mà thay vào đó Ngân hàng đặt ra các điều khoản
ràng buộc tăng cờng các việc kiểm soát của Ngân hàng đối với ngời vay vốn.
1.1.4 Rủi ro tín dụng ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng nên nó cũng
nh các doanh nghiệp khác đều có thể gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
mình.
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
Rủi ro ngân hàng có thể là những biến cố không mong đợi xảy ra gây mất
mát, thiệt hại về tài sản cho Ngân hàng. Đặc biệt do hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thờng phải đối mặt với rủi ro, nhiều nhất là rủi ro tín dụng. Đó là tình
trạng ngời đi vay hoàn trả không đúng hạn hay không có khả năng hoàn trả một
phần hay toàn bộ khoản vay Ngân hàng bao gồm cả gốc lẫn lãi. Ngoài những rủi
ro nh các ngành kinh tế, Ngân hàng còn chịu rủi ro khi các đơn vị kinh tế vay vốn
Ngân hàng gặp rủi ro do làm ăn thua lỗ, không trả đợc vốn vay cho Ngân hàng.
Tất cả các khoản vay, đầu t chứng khoán, tín dụng tơng tự đều có khả năng gây
rủi ro cho Ngân hàng. Ngay cả các hoạt động ngoài bảng quyết toán nh các giao
dịch hối đoái, bảo lãnh tín dụng, hợp đồng trao đổi lãi suất cũng không nằm
ngoài tác động gây rủi ro cho hoạt động Ngân hàng. Tất cả các khoản tín dụng
này, nếu đến kỳ hạn mà khách hàng không trả đợc nợ đều gây ra rủi ro tín dụng
cho Ngân hàng, hình thành các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi gây ảnh hởng
nghiêm trọng tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Các khoản nợ quá hạn
( Nếu trong thời hạn nhất định mà khách hàng không thể trả đợc nợ dẫn tới các
khoản nợ khó đòi) sẽ buộc ngân hàng phải đa ra các biện pháp hữu hiệu để thu hồi
các khỏn vốn này.
Rủi ro tín dụng thờng có 2 loại:
- Rủi ro sai hẹn là do khách hàng không trả đúng hạn.
- Rủi ro mất vốn là do khách hàng không trả đợc tiền vay
Cho dù với bất cứ loại rủi ro nào thì các Ngân hàng cũng luôn tìm mọi cách để
hạn chế rủi ro xảy ra và một khi xảy ra sẽ có thể xử lý đợc nó. Một trong các biện
pháp chính là bảo đảm an toàn tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
1.2 nợ khó đòi và nguyên nhân
1.2.1 Nợ khó đòi
Nợ khó đòi là khoản nợ mà khách hàng không có khả năng chi trả cho Ngân
hàng sau một thời gian kết thúc hợp đồng tín dụng.
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
Theo luật Ngân hàng hiện nay, nợ khó đòi hay còn gọi là nợ xấu là khoản nợ
đã quá hạn 360 ngày và d nợ tiền vay tuy cha quá hạn vay nhng đã xác định là bị
mất (ngời vay chết, mất tích, doanh nghiệp phá sản, bị giải thể, bị khách hàng lừa
đảo ). Ngoài ra, một bộ phận của khoản nợ quá hạn mà Ngân hàng phải trả nợ
thay cho khách hàng trong các khoản bảo lãnh mở thế chấp nhập hàng trả chậm
cũng coi là nợ khó đòi. Đối với những khoản nợ mà Ngân hàng phát hiện ngời vay
không tuân thủ các hợp đồng tín dụng, có ý lừa đảo chiếm dụng vốn Ngân hàng
trong thời gian sử dụng vốn thì cũng coi nh nợ khó đòi.
Những dấu hiệu nhận biết một khoản vay có vấn đề có thể dẫn tới nợ khó đòi:
- Kỳ hạn của khoản vay bị thay đổi liên tục.
- Tỷ lệ đòn bẩy (nợ) trên vốn cổ phần tăng.
- Thất lạc các tài liệu
- Tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn.
- Không có báo cáo hay dự đoán về dòng tiền, trì hoãn trong việc cung cấp
các thông tin cho Ngân hàng.
- Độ lệch giữa doanh thu dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách
hàng xin vay.
- Khách hàng hoạt dộng thua lỗ trong một hoặc nhiều năm, đặc biệt thể hiện
trên các chỉ số ROA, ROE, EBIT.
- Những thay đổi bất thờng, ngoài dự kiến và không đợc giải thích trong số
d tiền gửi của khách hàng.
- Sự gia tăng của tài sản tồn kho, các khoản chịu cha thu tiền, tài khoản ở
ngân hàng luôn rút quá số d.
- Các dấu hiệu khác.
Từ việc nhận biết các đấu hiệu trên, Ngân hàng cần thực hiện các biện pháp
kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm hạn chế tối đa khả năng rủi ro có thể xảy ra. Khi
phát hiện các khoản vay có vấn đề có thể phát sinh nợ khó đòi, Ngân hàng sẽ giao
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
việc thu hồi nợ cho những chuyên gia thu hồi nợ. Những ngời này sẽ điều tra tìm
ra nguyên nhân và tìm các giện pháp xử lý thích hợp nhằm thu hồi vốn đến mức
tối đa có thể.
1.2.2 Phân loại nợ khó đòi.
Nợ khó đòi là điều kiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng
của các NHTM, báo hiệu sự rủi ro đối với khách hàng và Ngân hàng.
Nợ khó đòi có nhiều hình thức khác nhau, căn cứ vào các tiêu thức khác nhau
ta có thể phân chúng thành các loại sau:
Căn cứ vào khả năng thu hồi:
- Nợ khó đòi có khả năng thu hồi 100%(rất ít).
- Nợ khó đòi thu hồi đợc một phần.
- Nợ khó đòi mất trắng hoàn toàn.
Căn cứ vào mức độ đảm bảo:
- Nợ khó đòi đợc bảo đảm một phần: giá trị TSTC, cầm cố còn một phần giá
trị.
- Nợ khó đòi không đợc đảm bảo: không có tài sản đảm bảo, ngời vay chết,
mất tích, doanh nghiệp phá sản, giải thể
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng để từ đó đề ra các biện pháp xử lý
phù hợp.
1.2.3 Nguyên ngân gây nên nợ khó đòi.
Nguyên nhân gây nợ khó đòi trong kinh doanh tín dụng rất nhiều, rất đa dạng,
song nhìn chung chúng có thể đợc xếp vào các nguyên nhân chính sau:
Vốn tín dụng ngân hàng bao cấp cho doanh ngiệp
Nhiều doanh ngiệp hoạt động bằng vốn vay NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong
vốn lu động. Chúng ta biết rằng vốn tín dụng NHTM, bản thân nó mang tính chất
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
ứng trớc cho doanh nghiệp hạt động liên tục và chỉ mang tính bổ xung, nhng tính
ứng trớc càng trực tiếp, số tiền ứng trớc càng lớn thì rủi ro vốn vay càng nhiều. Có
thể nói, hầu nh các chi phí sản xuất hoặc dự trữ hàng hoá , dịch vụ của doanh
nghiệp không tiêu thụ đợc, NHTM cho vay vốn sẽ không thu hồi đợc nợ. Vốn
ngân hàng bị đọng, thế rồi giãn nợ, khoanh nợ, miễn giảm lãi suất Ngân sách
giảm, NHTM phải trích dự phòng rủi ro, vừa giảm cho thu nhập cho cán bộ ngân
hàng, vừa giảm thuế thu nhập cho ngân sách Nhà nớc.Tính bao cấp thể hiện rất rõ
ở chỗ này.
NHTM sử dụng vốn huy động không hợp
Nhiều NHTM nhất là NHTM quốc doanh dùng vốn huy động ngắn hạn để cho
vay trung và dài hạn cả các doanh nghiệp quốc doanh lẫn các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh. Nhiều NHTM còn cho vay trung và dài hạn bằng ngoại tệ huy động
ngắn hạn. Doanh nghiệp sử dụng khoản vay này để nhập thiết bị máy móc lạc hậu
hoặc giá quá cao. Dẫn tới việc nhiều doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân
hàng, tất nhiên phải xỷ lý tình thế, nên thời hạn nợ càng bị kéo dài hơn, trong khi
đó có một phần nợ là vốn huy động ngắn hạn. Do đó gây tiềm ẩn rủi ro thanh
khoản cho NHTM.
NHTM cho vay nhận TSTC là bất động sản
Hầu hết các NHTM khi cho vay đều nhận TSTC là bất động sản là quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất ( nhà xởng, công trình, ). Tuy nhiên khi phát
sinh nợ quá hạn buộc phải xử lý TSTC thì việc phát mại xử lý gặp khó khăn nhiều
khi không thể giải quyết đợc do:
+ Thủ tục pháp lý rất phức tạp tốn nhiều thời gian.
+ Hồ sơ giấy tờ TSTC là quyền sử dụng đất không rõ ràng; nhiều mảnh đất
không phân biệt rõ ràng giữa ngời sở hữu, chủ quản với ngời quản lý sử dụng, rất
nhiều mảnh đất có giấy tờ xác minh không rõ ràng (có trờng hợp mảnh đất đã
đem thế chấp vay vốn Ngân hàng với giấy tờ pháp lý đầy đủ, song ngời vay vẫn
bán đợc mảnh đất đó, khi Ngân hàng tiến hành điều tra thì chủ mới vẫn có giấy tờ
về quyền sử dụng đất hoàn toàn hợp lệ. )
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
+ Giá trị đánh giá tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quá cao; sự sụt giảm
giá đất . Điều này dẫn tới việc khi khách hàng không có khả năng trả nợ Ngân
hàng buộc Ngân hàng phải phát mãi TSTC thì không thể thu hồi đủ vốn, hoặc
không bán Ngân hàng không có khả năng kinh doanh. Nếu nhận lại tài sản thế
chấp là bất động sản, NHTM không có nguồn vốn để hạch toán mua tài sản thì nợ
quá hạn tăng vì không thể hạnh toán kế toán nội bảng đợc
+ Trong một số trờng hợp NHTM cho vay với TSTC là giấy chứng nhận
quyền sử dụng ruộng đất. Trong trờng hợp ngời vay không trả nợ Ngân hàng thì
Ngân hàng không thể thu hồi đợc vốn bằng việc quản lý mảnh đất đó, hoặc đến
một thời gian sau đó chia lại rộng đất thì có thể Ngân hàng mất trắng quyền quản
lý mảnh đất đó.
Cho vay có giá trị vật t tơng đơng.
Các NHTM cho vay còn lấy giá trị vật t, tài sản hình thành từ vốn vay để làm
tài sản đảm bảo tiền vay. Đây là một trong những nguyên nhân tạo nên nợ khó đòi
cho NHTM, vì giá cả luôn luôn có xu hớng biến động giảm, do cạnh tranh về mẫu
mã và tính năng của hàng hoá luôn đợc nâng cao
Cho vay, nhận TSTC mà pháp luật cấm
Điều này ít khi xảy ra nhng không phải là không có. Nguyên nhân chính là do
năng lực của cán bộ tín dụng ngân hàng kém. Trong một số trờng hợp các doanh
nghiệp nhà nớc đem tài sản của Nhà nớc ra cầm cố thế chấp vay vốn Ngân hàng
(nh các mảnh đất thuộc sở hữu nhà nớc) thì Ngân hàng không có quyền quản lý sử
dụng mảnh đất đó khi khách hàng không có khả năng trả nợ. Luật pháp nớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: "Tài sản của Đảng cộng sản Việt
Nam là tài sản bất khả xâm phạm".
1.2.4 Tác hại của nợ khó đòi.
Đối với NHTM
Một khi ở NHTM có các khoản nợ khó đòi chiếm tỷ lệ cao sẽ làm ảnh hởng
rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Từ những khoản vay mà không
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
đòi lại đợc sẽ dẫn tới tình trạng mất vốn, giảm lợi nhuận, huy động tiền gửi sẽ tụt
giảm nhanh. Khi có nợ khó đòi xảy ra sẽ làm Ngân hàng không thu hồi đợc vốn,
vòng quay vốn tín dụng chậm, tốc độ chu chuyển vốn giảm sẽ dẫn tới giảm hiệu
quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh. Nợ khó đòi còn làm Ngân hàng phải
tăng chi phí, mất nhiều thời gian công sức để xử lý, giải quyết và quan trọng hơn
là giảm khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Những khoản nợ khó đòi không thể
thu hồi đợc ngân hàng phải trích vốn chủ sở hữu ra để bù lỗ, vì thế làm giảm vốn
chủ sở hữu của Ngân hàng. Nợ khó đòi phát sinh làm giảm tỷ trọng vốn chủ sở
hữu của Ngân hàng trong tổng nguồn vốn, Ngân hàng không đáp ứng đợc tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu cho hoạt động kinh doanh do phải trích dự phòng rủi ro. Điều
này dẫn tới tình trạng Ngân hàng kinh doanh trong vòng nguy hiểm. Trong nhiều
trờng hợp nợ khó đòi là nguyên nhân chính dẫn tới sự phá sản của không ít
NHTM. Rủi ro tín dụng mà cụ thể là do nợ khó đòi gây nên là rủi ro chính dẫn tới
sự phá sản ngân hàng.
Đối với nền kinh tế
Nền kinh tế gồm nhiều các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ buôn bán Khi
vốn tín dụng đến tay họ nếu sử dụng không tốt sẽ làm giảm lợi nhuận gây nợ quá
hạn, trong nhiều trờng hợp gây nên nợ khó đòi. Một khi xảy ra tình trạng này sẽ
làm cho nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế nói riêng có
các tác động xấu: Làm giảm hiệu quả điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nớc,
ngăn cản NHTM thực hiện chức năng trung gian và cung cấp vốn cho nền kinh tế,
gây tình trạng rối loạn lu thông tiền tệ.
Một ngân hàng có tỷ trọng nợ khó đòi lớn có thể dẫn tới sự sụp đổ của Ngân
hàng đó. Sự sụp đổ của một NHTM trong hệ thống các NHTM tác động đe doạ sự
tồn tại của các NHTM khác nhiều khi có thể kéo theo sự sụp đổ dây truyền của
nhiều NHTM trong cùng hệ thống. Sự sụp đổ này sẽ làm rối loạn lu thông tiền tệ,
dẫn tới đình trệ sản xuất kinh doanh, gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Sự tác
động này không chỉ ảnh hởng tới phạm vi quốc gia mà nó còn ảnh hởng tới nền
kinh tế các quốc gia có liên quan, ảnh hởng tới nền tài chính thế giới.
Trần Lê Tân - NHD - K41
Biện pháp xử lý và hạn chế nợ khó đòi tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Hà nội.
______________________________________________________________
1.3 Một số phơng pháp xử lý nợ khó đòi
1.3. ý nghĩa của việc xử lý nợ khó đòi.
Đối với ngân hàng : Xử lý nợ khó đòi sẽ giúp các NHTM khơi thông đợc
nguồn vốn, tạo điều kiện cho nguồn vốn bị ứ đọng phát huy đợc tác dụng của nó,
mang lại lợi ích cho Ngân hàng. Việc xử lý nợ khó đòi sẽ giúp các Ngân hàng thu
hồi đợc một phần lợng vốn đã mất do khách hàng không trả đợc nợ và giảm đợc
chi phí cho nguồn vốn cho vay không thu lãi nhng vẫn trả lãi cho phần tiền gửi
của dân chúng, các nguồn vốn này có thể đầu t vào các dự án khác mang lại lợi
nhuận cho Ngân hàng. Hơn nữa xử lý nợ khó đòi hay nói cách khác là xử lý các
tài sản thế chấp giúp các Ngân hàng thơng mại giảm đợc chi phí do việc bảo quản,
bảo dỡng tài sản thế chấp khi các tài sản này phải ngừng hoạt động để đa vào thu
nợ. Việc xử lý đợc các khoản nợ khó đòi là một biện pháp tạo đà đẩy nhanh tiến
trình lành mạnh hóa hoạt động tài chính của các tổ chức tín dụng. Đối với những
khoản nợ khó đòi không có khả năng thu hồi, thì Ngân hàng loại ra khỏi bảng
tổng cân đối tài sản và trích dự phòng rủi ro ra để bù đắp, qua đó làm giảm tỷ lệ
nợ quá hạn, nợ khó đòi và là điều kiện cần thiết giúp Ngân hàng duy trì hoạt động
kinh doanh một cách bình thờng.
Đối với khách hàng
Tâm lý khách hàng vay vốn Ngân hàng đều muốn kinh doanh có hiệu quả, thu
đợc lợi nhuận để trả nợ Ngân hàng. Không ai muốn rủi ro để phải trở thành con nợ
vay vốn Ngân hàng không có khả năng trả nợ. Ngân hàng xử lý đợc nợ khó đòi sẽ
giúp khách hàng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của mình, qua đó giảm nghĩa vụ trả
nợ Ngân hàng. Và điều quan tọng hơn giúp các khách hàng tránh phải ra hầu toà
do không trả nợ đợc Ngân hàng. Nh vậy khách hàng vẫn giữ đợc uy tín, đặc biệt là
các khách hàng lớn. Trong kinh doanh uy tín là điều tối quan trọng và là tài sản vô
hình phải mất nhiều thời gian công sức mới tạo nên đợc.
1.3.2 Tài sản đảm bảo, vai trò của tài sản đảm bảo.
Trần Lê Tân - NHD - K41

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét