Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VPBank

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cùng với huy động vốn, cho vay là hoạt động quan trọng và mang tính
truyền thống của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, khó có thể đưa ra một
định nghĩa rõ ràng về hoạt động cho vay. Tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu
mà ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Khi xem xét cho vay như là một phương thức tài trợ cho hoạt động tín
dụng, thì “cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian
nhất định theo thoả thuận, với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi” (theo điều 3
quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước).
Hoạt động cho vay một mặt mang lại thu nhập chính cho ngân hàng, mặt
khác chứa đựng rủi ro cho ngân hàng. Nếu cho vay một cách có hiệu quả sẽ
bù đắp được chi phí huy động vốn và thu được lợi nhuận. Ngược lại, sẽ ảnh
hưởng đến khả năng thanh khoản và tính chất an toàn của hệ thống ngân
hàng. Do vậy, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải xây dựng, thực hiện các
chính sách tín dụng đúng đắn và không ngừng đa dạng hoá các loại hình cho
vay. Chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu các hình thức cho vay khác nhau của
ngân hàng thương mại ở phần sau của chuyên đề này.
1.1.1.3. Các hoạt động khác
 Mua bán ngoại tệ
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua, bán) ngoại tệ. Tức là, một ngân hàng đã đứng ra để mua và bán một
loại tiền này (chẳng hạn USD, EURO…) để lấy một loại tiền khác (như VND,
Yên Nhật…) và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi này có vai trò rất quan trọng,
nhất là đối với khách du lịch, vì họ sẽ cảm thấy thuận lợi hơn rất nhiều khi có
trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố mà họ đến. Tuy nhiên, mức
độ rủi ro của những giao dịch này rất cao, đồng thời nó cũng đòi hỏi một trình
độ chuyên môn nhất định. Do vậy, ngày nay việc mua bán ngoại tệ mới chỉ
được thực hiện tại các ngân hàng thương mại lớn.
5
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Bảo lãnh
Đây là hoạt động mà ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về
việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có
ba bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh
của ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh; khách hàng của ngân hàng
là người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình để phát hành
chứng khoán, mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, vay vốn của các tổ chức tín
dụng khác… Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ở các ngân hàng
ngày càng đa dạng và phát triển mạnh.
 Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều khách hàng. Với kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong
việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý
ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty
kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các
chứng khoán sinh lợi, tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt
để thanh toán.
 Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các vật có giá khác cho
khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ
biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất
cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như
tiền, dùng để thanh toán khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng
phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay
cho kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy
giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó chính là hình thức đầu tiên của giấy bạc
6
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải
trả phí bảo quản.
 Cho thuê tài sản
Cho thuê tài sản của ngân hàng là hoạt động trong đó ngân hàng mua tài
sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu đủ giá trị
của tài sản cho thuê cộng lãi (thời hạn khoảng 80% - 90% đời sống kinh tế
của tài sản). Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó. Ngân hàng
cũng phải đối đầu với nhiều rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu
quả, không trả được tiền thuê đầy đủ và đúng hạn. Cho thuê của ngân hàng
cũng có nhiều điểm giống cho vay, nó được xếp vào tín dụng trung và dài
hạn.
 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường
là cấp bách, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản vay của
ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho
Chính phủ vì rủi ro cao, Chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi
lấy các khoản vay của những ngân hàng lớn. Khi ngân hàng Trung ương
thành lập, Chính phủ đều tìm cách tham dự, hoặc trực tiếp can thiệp để có
được các khoản tín dụng lớn.
Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các
ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ
phải cam kết thực hiện ở mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài
trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ
lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được hoặc phải
cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
 Cung cấp các hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến
7
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho
khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà
không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường
hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới
chứng khoán.
 Cung cấp các dịch vụ uỷ thác tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân
hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát
triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác đầu tư, uỷ thác phát
hành… Thậm chí, các ngân hàng còn đóng vai trò là người được uỷ thác trong
di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,
bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng coi ngân hàng như một chuyên
gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính,
về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp…
 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều
đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay
gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng cũng không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Các ngân hàng, thường là ngân hàng lớn đã cung
cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như phát hành hộ, thanh
toán hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.1.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay là hoạt động mang tính truyền thống của ngân hàng
thương mại. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu về vốn ngày
càng gia tăng và dẫn tới hoạt động cho vay ngày càng phát triển và đóng góp
quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế.
8
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay, hoạt động cho vay được phân theo nhiều loại khác nhau tuỳ
theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là
một số cách phân loại.
1.1.2.1. Căn cứ vào kỳ hạn cho vay
 Cho vay ngắn hạn
Là hình thức cấp tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và mục đích chủ yếu
là bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán tiền hàng hóa,
tài trợ cho vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn
của cá nhân.
 Cho vay trung hạn
Đây là hình thức cấp tín dụng thường có thời hạn từ 12 tháng đến 60
tháng và thường được áp dụng cho vay các trường hợp đổi mới trang thiết bị,
mua sắm máy móc mà thời gian khấu hao thường không quá dài để có thể
hoàn trả vốn đúng hạn cho ngân hàng.
 Cho vay dài hạn
Cho vay dài hạn có thời hạn từ 60 tháng trở lên và sử dụng chủ yếu để
đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải
có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Phân loại các khoản vay theo kỳ hạn là phổ biến ở các ngân hàng thương
mại. Tuy nhiên, trong thực tế có những khoản vay không xác định trước thời
hạn như cho vay luân chuyển. Khách hàng thoả thuận với ngân hàng về việc
ngân hàng được quyền trích trên tài khoản tiền gửi thanh toán để thu nợ khi
tài khoản có tiền. Việc xác định trước thời hạn thu nợ trong trường hợp này có
thể gây khó khăn cho khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm.
1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
 Cho vay tiêu dùng
Là loại hình cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu
dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo
điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn. Thông thường quy
9
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mô của những khoản vay này nhỏ, rủi ro cao nên lãi suất của cho vay tiêu
dùng thường cao. Tuy nhiên cho vay tiêu dùng là hình thức đem lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Đối tượng được vay là các cá nhân và hộ gia đình vay để
phục vụ cho mục đích mua nhà, mua ô tô, du học, du lịch…
 Cho vay kinh doanh
Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho
vay công nghiệp, cho vay thương mại, cho vay nông nghiệp. Các khoản vay
này thường được sử dụng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, tài trợ cho vốn
lưu động… Lãi suất của chúng thường thấp hơn trong hệ thống lãi suất và đối
tượng khách hàng chủ yếu của loại hình cho vay này là các doanh nghiệp.
1.1.2.3. Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay
 Cho vay có tài sản bảo đảm
Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như cầm cố, thế chấp hoặc
phải có bảo lãnh của bên thứ ba. Việc cho vay có bảo đảm nhằm hạn chế rủi
ro cho ngân hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán khi đến hạn. Ngân
hàng có thể phát mại tài sản nếu khách hàng không có khả năng chi trả khi đã
áp dụng các biện pháp cần thiết. Giá trị của tài sản bảo đảm thông thường cao
hơn giá trị của khoản vay nhằm đề phòng sự mất mát, hao hụt, trượt giá… và
chi phí quản lý.
 Cho vay không có tài sản bảo đảm
Việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà
không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Cho vay
không có tài sản bảo đảm thông thường dành cho các khách hàng có uy tín
cao, khách hàng truyền thống, tình hình tài chính lành mạnh, thường xuyên có
lãi… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các ngân
hàng. Ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay.
1.1.2.4. Căn cứ vào phương thức cho vay
 Cho vay từng lần
10
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các
khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên. Mỗi lần vay khách hàng
phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ
phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời
hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món
vay được tách biệt thành các hồ sơ khác nhau.
 Cho vay theo hạn mức tín dụng
Ngân hàng và khách hàng ký kết một hợp đồng tín dụng trong đó quy
định giá trị tối đa mà khách hàng được vay trong một thời gian cố định. Trong
kỳ khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được
vượt quá hạn mức tín dụng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những
khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá
trình sản xuất kinh doanh.
 Cho vay hợp vốn
Là hình thức cho vay gồm một nhóm các tổ chức tín dụng cùng cho vay
đối với một dự án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng
làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Các tổ chức tín
dụng phải ký kết với nhau về việc hợp vốn trên và khách hàng vay vốn có thể
không biết được điều đó. Hiện nay ở Việt Nam hình thức này tương đối phát
triển, nguyên nhân là do nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn nhưng các
ngân hàng bị giới hạn bởi “luật các tổ chức tín dụng” quy định mỗi ngân hàng
không được cho vay đối với mỗi khách hàng vượt quá 15% vốn điều lệ.
 Cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho khách hàng vay để thực hiện dự án đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Ngân hàng có
thể giải ngân theo từng hạng mục mà dự án đang thực hiện khi khách hàng
cung cấp đủ các tài liệu, chứng từ ngân hàng yêu cầu cho lần giải ngân đó.
 Cho vay luân chuyển
11
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Loại hình cho vay này dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, khi đó ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay luân chuyển rất
thuận tiện cho các khách hàng, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho
nhiều lần vay. Loại hình cho vay này thường được áp dụng đối với các doanh
nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn
ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
 Cho vay thấu chi
Là nghiệp vụ cho vay theo đó ngân hàng cho phép người vay được chi
vượt số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng
không phù hợp về thời gian và quy mô. Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng
đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
1.1.2.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
 Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Nhờ vậy việc hoàn trả
không phải là một lần duy nhất như trong trường hợp khoản cho vay trả một
lần. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với khoản vay trung và dài
hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc tài sản lâu bền. Số tiền và thời gian hoàn
trả được tính sao cho phù hợp với khả năng hoàn trả của khách hàng. Trong
cho vay trả góp đối tượng cho vay thông thường là người có thu nhập ổn định,
phù hợp với mỗi lần họ hoàn trả cho ngân hàng.
 Cho vay phi trả góp (cho vay trả một lần)
Là những khoản cho vay mà trong hợp đồng tín dụng thoả thuận khách
hàng hoàn trả toàn bộ số tiền gốc một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng, lãi
trả hàng tháng.
 Cho vay tuần hoàn
12
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng vay và
trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng bằng cách sử
dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản
vãng lai.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRẢ GÓP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.2.1. Khái niệm cho vay trả góp
Cho vay trả góp là một loại hình cho vay tương đối phổ biến hiện nay
tại các ngân hàng thương mại. Đây là hình thức tín dụng rất hữu ích đối với
ngành ngân hàng nói riêng và trong nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ nhu
cầu thực tế là nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng không đến cùng
một lúc. Ngân hàng có thể thoả thuận để cho khách hàng chi trả một khoản
tiền nhất định hàng tháng sao cho phù hợp với khả năng thanh toán của khách
hàng và quy định của ngân hàng. Ta có thể định nghĩa “Cho vay trả góp là
hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc và lãi
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận”.
Cho vay trả góp bao gồm cả hoạt động cho vay kinh doanh và cho vay
tiêu dùng. Tuy nhiên do đặc điểm của hoạt động cho vay kinh doanh cần tiền
quay vòng vốn trong sản xuất nên thường áp dụng cách vay theo món, trả gốc
một lần vào cuối kỳ khi kết thúc chu kỳ sản xuất và thu được lợi nhuận. Do
vậy, cho vay trả góp được áp dụng chủ yếu cho các món vay tiêu dùng, đáp
ứng các nhu cầu chi tiêu trước mắt vượt quá khả năng thanh toán hiện tại của
khách hàng. Phương thức cho vay trả góp này thường được áp dụng cho các
khoản vay lớn như cho vay mua nhà, mua ô tô…
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ theo phương
thức trả góp có thể được tính bằng một trong những phương pháp sau đây:
Trả đều: Ngân hàng tính toán một cách phù hợp rồi thống nhất với khách
hàng hàng tháng phải trả cho ngân hàng một khoản cố định đến hết thời gian
vay. Như vậy, khách hàng luôn luôn phải trả một khoản tiền cố định từ đợt trả
13
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đầu tiên cho đến lần cuối cùng. Để làm được điều trên, ngân hàng căn cứ vào
mức lãi suất, thời gian cho vay và số tiền cho vay để đưa ra cụ thể số tiền mà
mỗi tháng người vay phải nộp.
Trả không đều: Phương thức thanh toán này bao gồm nhiều hình thức
khác nhau. Ví dụ như thanh toán nợ gốc từng kỳ, lãi trả hàng tháng; trả đều
nhưng lãi suất thanh toán vào đầu mỗi kỳ; gốc và lãi trả hàng tháng…Lãi ở
đây được tính trên số dư nợ thực tế của khoản vay. Thực chất các hình thức
trả khác nhau này chỉ là thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng sao cho
phù hợp với khả năng trả nợ của người vay.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay trả góp
 Đối tượng
Trước hết đối tượng cho vay của ngân hàng phải là những cá nhân, tổ
chức có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Xuất phát từ nhu
cầu đi vay của các chủ thể mà đối tượng của cho vay trả góp tập trung chủ
yếu là các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập cao hoặc các hãng kinh doanh có
tình hình tài chính lành mạnh.
 Mục đích
Hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng xuất hiện nhằm mục đích đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng khi mà thu nhập và nhu cầu không xuất
hiện cùng một lúc. Nhu cầu chi tiêu đó có thể là mua nhà để ở, các cá nhân
mua ô tô phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu
đi lại, công việc, hay đơn giản hơn là mua sắm các đồ dùng gia đình… Mục
đích của những khoản vay này thường rất cụ thể và rõ ràng, do đó nó cũng
được ngân hàng đáp ứng nhanh chóng và dễ dàng hơn các khoản vay khác.
 Quy mô khoản vay
Quy mô của các món vay trả góp thường nhỏ hơn so với các món vay
khác đặc biệt là các món vay phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh. Nguyên
nhân là do các món vay trả góp chủ yếu phục vụ mục đích tiêu dùng, các sản
14
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét