Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

Năm Vốn cổ phần Vốn cho vay
Thiết lập và mở rông
cơ sơ sản xuất
Tổng số
1990 83527
1991 37129 19097 636 56862
1992 28158 15663 465 44313
1993 27525 13690 299 41514
1994 29694 12710 404 42808
1995 33749 14881 938 49568
1996 40515 12430 1149 54094
1997 50348 15176 705 66229
1998 32632 19079 457 52169
1999 62991 11170 299 74390
2000 53690
Nguồn :JBIC Review. No-2,november,2000;Japan in Figures 2002,tr.36
QUY MÔ VÀ XU HƯỚNG FDI CỦA NHẬT BẢN
1. Duy trì thị trường truyền thống ,tích cực khai thác thị trường mới đặc
biệt chú trọng vào thị trường châu Á
a. Thị trường châu Mỹ vẫn là thị trường truyền thống chủ yếu về đầu tư
của Nhật Bản
Cố thể thấy nguồn vốn FDI của Nhật Bản chủ yếu tập trung ở Bắc Mỹ ,Châu Âu
và châu Á .Bắc Mỹ (đặc biệt là Mỹ )là thi trường thu hút FDI lớn nhất của Nhật Bản
.theo số liệu thống kê tỷ phần FDI vào khu vực này chiếm trung bình 35%cho đến giữa
thập kỷ 80.Sau năm 1985 FDIcủa Nhật Bản vào khu vực này có sự gia tăng mạnh và đạt
đỉnh điểm vào năm 1989 với tỷ lệ khoảng 50% tổng vốn FDI của Nhật Bản ra nước
ngoài .Thời kỳ nửa đầu những năm 90 FID của Nhật Bản vào Bắc Mỹ chiếm trung bình
40-45 % sau đó có sự giảm sút mạnh trong năm 97-98 ,riêng năm 98 giảm 46,6%so với
năm trước .Sau khi phục hồi vào năm 1999 ,mức FDI của Nhật Bản liên tục giảm sút
trong các năm 2000 và 2001do sự giảm sút kinh tế trong khu vực và nhất là kinh tế
Mỹlàm giảm nhu cầu đầu tư của các công ty Nhật Bản .Trong khu vực Bắc Mỹ FDI của
Nhật Bản phần lớn chảy vào Mỹ .Chẳng hạn năm 97,FDI vào Bắc Mỹ chiếm 39,6%
tổng FDI của Nhật Bản ra nước ngoài riêng Mỹ chiếm tới 38,5% .Trong các namư 98 và
99 con số này tương ứng là :Bắc Mỹ 26,6% ,Mỹ 25,3% ;Bắc Mỹ 37,1%% và Mỹ
33,4% .Như vậy Mỹ vẫn là thị trường chủ yếu trong đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản
trong thập kỷ 90 vừa qua,tuy vậy mức đầu tư vào khu vực này trong thời gian qua không
ổn định và nếu xét về xu hướng có sự giảm sút tỷ trọng trong tổng FDI của Nhật Bản ra
nước ngoài
b.Duy trì đầu tư ổn định với thị trờng EU
Đầu tư của Nhật Bản vào EU trong thập kỷ qua chia thành hai giai đoạn ,giai
đoạn đầu những năm 90 mức FDI vào EU giảm rõ rệt ngược hẳn với xu thế gia tăng
trong những năm 80.Giai đoạn thứ hai ,nữa sau những năm 90 lại có xu hướng gia
tăng.Riêng năm 97 tăng 65,6% so với năm trước ,năm 98 tăng 30,5% mức tăng này đã
đưa tỷ phần FDI của Nhật Bản vào EU cao hơn hẳn Bắc Mỹ(B ắc Mỹ là 26,9%,còn EU
làd 34,4%).Namư 1999 Fdi vào EU tieeps tục tăng mạnh tới 60,5% so với năm trước
đưa tỷ lệ FDI Nhật Bản vào đây lên tới 38,7% tiếp tục cao hơn tỷ phần FDI của Nhật
Bản vào Bắc Mỹ (37,1%).Sự gia tăng dòng FDI của Nhật Bản vào khu vực này gắn liền
với môi trường kinh doanh của EU khá ổn định trong thời gian qua.Với sự thay đổi này
trong chính sách đầu tư của Nhật Bản cho thấy vai trò của EU với tư cách là thị trường
đầu tư của các công ty Nhật Bản ngày càng gia tăng
c.Châu Á nhất là ASEAN có tầm quan trọng trong đầu tư của Nhật Bản
thị trường châu Á là một thị trường dành sự chú ý của cac scông ty Nhật Bản ,có
thể thấy vào những năm 70,80 các công ty Nhật Bản phần lớn tập trung ở Bắc Mỹ và
Châu Âu nhằm sản xuất phục vụ nhucầu tại chỗ .Nhưng từ cuối những năm 80 trở lại
đây các công ty Nhật Bản đã điều chỉnh trong chính sách thị trường,hướng tới tập trung
vào khu vực Châu Á nhất là ASEAN và Trung Quốc .Cuối thập kỷ 70 và đầu 80 FDI
Nhật Bản vào Châu Á chủ yếu là thị trường ASEAN và NICs 1986-1989 FDI vàohai
khu vực này tăng mạnh.Sau năm 92 đầu tư vào nước giảm do sự thay đổi lợi thế so sánh
trong các ngành công nghiệp chế tạo cần nhiều lao động trong khu vực này .Tuy nhiên
đầu tư vào Malaysia ,Thái Lan ,InđônêxiaTăng rất mạnh cho đến tận năm 90 và chững
lại năm 92 .Sau đợt giảm vào năm 93 đầu tư Nhật Bản vào ASEAN tăng lên là 4 tỷ USD
vào năm 95,năm 97 FDI vào ASEAN tăng 87,1% so với năm 96 .Trong khuh vực Châu
Á FDI vào thị trường Trung Quốc có sự gia tăng vào nữa đầu những năm 90 và đạt
4473 triệu USD vào năm 95 .SỰ gia tăng này gắn liền với chi phí thấp và mối quan hệ
Nhật –Trung ngày một cải thiện
Sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực ,đầu tư trực tiếp vào Châu Á giảm mạnh
năm 98 mức FDI vào Châu Á chỉ ngang bằng với FDI vào khu vực Mỹ Latinh.Năm 99
dòng FDI tiếp tục rời khỏi thị trường Châu Á .Namư 2000 tổng FDI vào Châu á chỉ đạt
655,5 tỷ Yên chiếm 12,2% tổng số FDI của Nhật Bản ra nước ngoài
FDI của Nhật Bản vao fkhu vực Mỹ Latinh châu đại dương và vùng châu phi
Trung đông chiếm tỷ trọng không cao .Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệkhu vực ,dòng FDI của Nhật Bản đã có xu hướng chuyển dịch tới khu vực này.Vì vậy
tổng mức đầu tư vào khu vực mỹ Latinh và vùng Caribê đạt ngang bừng với số vốn vào
châu á trong các năm 98-99
FDI của Nhật Bản phân theo vùng
Tóm lại trong cơ cấu thị trờng đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài trong thập kỷ
90 đã có sự thay đổi ,một mặt vẫn chú trọng đến thị trường truyền thống Mỹ và EU, đã
thấy có sự dich chuyeenr vốn sang tập trung vào châu á nhất là đông á .Trong tương lai
gần đây vẫn là một hướng ưu tiên .Đầu tư vào châu á hiện nay trước hết nhằm mở rộng
thị trường ,tận dụng chi phí thấp và tạo nên khách hàng mới
2.Đầu tư vào các ngànhmới tích cực khai thác thị trường phần mềm ở châu
Á
Trong nhiều lĩnh vực mới như công nghệ thông tin,tin hcọ.Nhật Bản còn kém xa
Mỹ.Do đó việc mở rộng đầu tư ra bên ngoài ở các lĩnh vực nói trên của Nhật Bản vẫn
còn hạn chế .Nhật Bản đã sớm nhận ra yếu kém này,chính vì vậy mà những năm gần
đây Nhật Bản đã tăng cường nổ lực để khắc phục sự chậm trễ này bằng việc tăng nhập
khẩu thiết bị công nghệ hiện đại, đồng thời tăng nghiên cứu khoa học kỹ thuật nhằm rút
ngắn khoảng cách so với Mỹ với sự gia tăng đầu tư đó Nhật Bản hy vọng trong thời
gian sắp tới sẽ chiếm lĩnh 1 số lĩnh vực công nghệ cao:viễn thông tin học chính người
Nhật Bản cũng không giấu giếm điều đó khi dự định xây dựng một xã hội tin học hoá
trên cơ sở dịch vụ tin học trong thế kỷ 21. Điều này cũng chính là cơ sở cần thiết để
Nhật Bản có thể khai thác thị trường phân fmềm ở châu á .Ngoài ra hướng mới của đầu
tư Nhật Bản là tập trung vào vấn đề năng lượng mới và môi trường ở châu á
Cơ cấu đầu tư của Nhật Bản thời kỳ 1990-2000
FDI phân bố theo lĩnh vực
ĐVT:Triệu USD
1985 1990 1999 2000
1.Tổng vốn 12217 8352,7 5216,9 5369,0
Chế tạo 2352 2271,8 158,6 1291,1
Phi chế tạo 93536 5964,2 2696,8 4050,2
2.Châu Á 1435 1034,3 798,9 655,5
Chế tạo 460 449,6 489,2 404,8
Phi chế tạo 957 570,8 298,3 225,7
3.Bắc Mỹ 5495 3995,8 2762,9 1356,2
Chế tạo 1223 991,8 2183,5 440,6
Phi chế tạo 4056 2997,8 579,3 914,3
4.Trung và Nam Mỹ 2616 528,9 578,3
Chế tạo 324 95,4 67,1
Phi chế tạo 2291 433,4 511,2
5.Châu Âu 1930 2097,5 2878,2 2697,4
Chế Tạo 323 678,9 1784,3 358,0
Phi chế tạo 1545 1336,7 1129,2 2337,9
Nguồn:Facts and Figures tr.49;Facts and Figures 2001,tr.27 ;
Japan Almanac 2002,tr.93
Nhật Bản đã có sự điều chỉnh trong chính sách cơ cấu ngành nguồn vốn đầu tư
trong phạm vi toàn cầu cũng như trong phạm vi khu vực
Nhìn chung đầu tư vào khu vực chế tạo có xu hướng giảm so vớid đầu tư vào lĩnh
vực phi chế tạo trong thập kỷ 90.Năm 1999 đầu tư vào khu vực chế tạo có sự gia tăng
đột biến ,chiếm 63% tổng FDI ra nước ngoài .Khi đó đầu tư vào khu vực phi chế tạo lại
giảm nhât slà giảm phần vào bảo hiểm tài chính,chỉ còn 14,8% so với 40% năm 90.Sang
năm 2000 tuy đầu tư vào phi sản xuất phục hồiđạt 75% tổng mức FDI ra nước ngoài
vốn vào tài chính bảo hiểm tăng không đáng kể .Tuy vậy nhìn chung trong cơ cấu vốn
vao lĩnh vực phi chế tạo chiếm tỷ lệ cao khoảng 2/3 tổng FDI của Nhật Bản ra nước
ngoài
Cơ cấu thay đổi đầu tư luôn gắn với thị trường cụ thể.Trong lĩnh vực chế tạo xét
trong tỷ trọng vốn đầu tư thì đầu tư vào lĩnh vực này giảm mạnhtrên thị trường Bắc
Mỹ.trong khi đó lại có sự gia tăng mạnh trên thị trường châu á . Điều này do đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hoá ở khu vực này.Xu hướng chung của dòng FDI trong lĩnh vực
chế tạo cũng giảm sút mạnh,từ 30% năm 90 xuống trên 10% năm 97. Điều này trái với
xu hướng gia tăng trong thập kỷ 80.Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
dong FDI vào EU trong lĩnh vực chế tạo atưng vọt,nhưng lại giảm trên thị trường châu á
trong xu hướng giảm chung của dòng FDI vào châu á
Đối với khu vực Bắc Mỹ trong lĩnh vực chế tạo,phần FDI của Nhật Bản chủ yếu
đầu tư vào lĩnh vực điện tử ,thiết bị giao thông và hoá chất.Năm 1995 FDI của Nhật Bản
vào công nghiệp điện tử là 33%,năm 97 là 47% và năm 99 lên 73% tổng FDI của Nhật
Bản vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo ở kjhu vực này.Trong khi đó máy móc thiết bị lại
giảm xuốngkhá mạnh.FDI vaò lĩnh vực hoá chất và thiết bị giao thông cũng có sự gia
tưang đáng kể trên thị trường ASEAN –4 trước khủng hoảng tài chính .Từ 1981 –1996
đầu tư vào ASEAN 4 được phân bổ như sau: điện tử 20%,công nghiệp chế tạo kim loại
và phi kim loại 20%,hoá chất 16%,dệt 11%,thiết bị giao thông vận tải 9% ,thực phẩm
5% các ngành khác 21%
FDI vào khu vực chế tạo ở EU sau khủng hoảng tài chính gia tăng mạnh,năm
1997 tăng 65,5% so với năm trước chieems 20,8%tổng FDI của Nhật Bản vào khu vực
này .Năm 1998 tăng 30,5% chiếm 34,4% và năm 1999tăng 60,55 chiếm 38,7% FDI vào
khu vực chế tạo.Sự gia tăng này chủ yếu vào lĩnh vực chế biến thực phẩm,hoá chất,thiết
bị giao thông
sự chuyển hướng lĩnh vực đầu tư như trên nằm trong chủ trương điều chỉnh chính
sách kinh tế đối ngoài của Nhật Bản cho phù hợp với sự phát triển cơ sở sản xuất của
nên kinh tế toàn cầu, Đối với những lĩnh vực phát triển đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực dịch
vụ và những ngành kinh tế đại diện cho nền kinh tế tri thức.Ngược lại đối với những
khu vực còn đang công nghiệp hoá hay kinh tế chưa phát triển thì đầu tư chú trọng đến
các ngành công nghiệp chế tạo,các ngành khai thác tài nguyên
Trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ,thời gian qua Nhật Bản tiếp tục gia tăng hoạt
động kinh doanh bên ngoài dựa trên các chương trình đầu tư khác nhau.Ngoài Mỹ- Eu là
hai thị trường trọng yếu thì vốn của Nhật Bản cũng đang ngày càng hướng mạnh đến
châu Á
FDI của Nhật Bản phân theo vùng
ĐVT :Triệu USD
Bắc Mỹ Châu Á EU
Mỹ
Latinh
Châu phi và
Trung Đông
Châu đạI
Dương
Tổng số
1990 27192 7054 14294 3628 578 4166 56911
1991 18823 5936 9371 3337 837 3278 41584
1992 14572 6425 7061 2726 947 2406 34138
1993 15287 6637 7940 3370 756 2035 36025
1994 17823 9699 6230 5231 636 1423 41051
1995 22761 12264 8470 3877 527 2795 50694
1996 23021 11614 7372 4446 669 897 48019
1997 21389 12181 11024 6336 803 2058 53972
1998 10943 6528 14010 6463 590 2213 40747
1999 24770 7162 25804 7437 628 894 66694
2000 11803 5704 23476 5033 696 641 47727
Nguồn;Facts and Figures 1997 ,tr.49 ;Facts and Figures 2001 ,tr.77;
Japan Almannac 2002 ,tr.93
VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN ODA CỦA NHẬT BẢN
Nhật Bản chuyển từ nước nhận viện trợ sang nước cung cấp viện trợ kể từ năm
1950 sau khi nước này tham gia chương trình Comlobo.Tuy nhiên việc thực hiện viện
trợ lúc bấy giờ cơ bản dưới dạng bồi thường chiến tranh cho các nước đang phát triển ở
châu Á .Năm 1969 Nhật Bản thực sự bắt đầu mở rộng cung cấp viện trợ cho các nước
đang phát triển . Đặc biệt từ năm 1992 khi nước này thông qua hiến chương ODA thì
quy mô lĩnh vực viện trợ dần dần mở rộng và Nhật Bản trở thành nước dẫn đầu thế giới
về viện trợ .Với 9,5 tỷ USDnawm 1997 ,10,68 tỷ USD năm 1998 và 10,5 tỷ USD năm
1999.
Cơ sở viện trợ phát triển được nêu trong hiến chương ODA năm 1992:”nhằm
giúp đỡ những cố gắng tự lực cánh sinh của những nước đang phát triển đang muốn tìm
một sự tăng trưởng kinh tế dựa trên triết lý của lý do nhân đạo ,công nhận tính độc lập
của cộng đồng quốc tế và giữ gìn môi trường “.Với mục tiêu đó Nhật Bản tích cực cung
cấp viện trợ để ủng hộ công cuộc dân chủ hoá,tự do hoá kinh tế dựa trên nguyên tắc của
kinh tế thị trường.Do đó những nước châu Á đang phát triển như Việt Nam ,Trung Quốc
…là những nước nhận nhiều viện trợ nhất của Nhật Bản .ODA ưu tiên cho những vấn
đề sau:
- Tăng cường hổ trợ cho các dự án về môi trường và năng lượng .Quan tâm
giúp đỡ nhằm giảm bớt hậu quả xấu do tác động của huỷ hoại môi trường
- Hổ trợ vào mục tiêu lấy con người làm trung tâm .ODA của Nhật Bản sẻ
giúp đỡ các nước nâng cao chất lượng nâng cao đời sống cá nhân con người.
- Tích cực đóng góp vào việc giải quyết các vấn đè toàn cầu :dân số
HIV/AIDS…Để thực hiện sự hổ trợ này Nhật Bản tích cực hợp tác với các tổ chức quốc
tế,các tổ chức phi chính phủ nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của việc sử dụng ODA
Viện trợ ODA được chia làm 4 loại :viện trợ không hoàn lại ,hợp tác kinh tế
(thường là viện trợ khônh hoàn lại song phương),vốn của chính phủ và sự đóng góp cho
các tổ chức quốc tế (dưới dạng hợp tác đa phương).Trong cơ cấu ODA ,vốn cho vay của
chính phủ chiếm tỷ trọng lớn và được cung cấp với lãi suất thấp và thời hạn cho vay dài
với những điều khoản rất linh hoạt.Dạng hợp tác này nhằm trợ giáup cho sự cất cánh
của các nước đã đạt đến một trình độ phát triển kinh tế nhất đinh nào đóvà đóng góp vào
xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội nguồn vốn này thường chiếm 40% tổng vốn ODA
ODA tập trung ưu tiên chủ yếu cho các nước châu Á với khối lượng thường vào
khoảng 50% trong tổng số viện trợ chung (năm 1998)
ODA của Nhật Bản theo hình thức và khu vực
Không hoàn
lại
hợp tác kỹ
thuật
Cho vay Tổng cộng
Châu Á 935,37 1072,52 3364,14 5372,03
ASEAN 397,50 466,27 1510,49 2356,25
Châu Phi 636,38 193,97 119,93 950,24
Mỹ Latinh 215,38 276,16 61,31 552,86
Châu Âu 79,34 62,73 1,46 143,53
Trung Đông 186,49 119,02 86,52 392,03
Nguồn: Japan’s ODA annual Report 1999.Ministry of Foreigh Affairs
III> ĐẦU TƯ CỦA NHẬT BẢN VÀO MỘT SỐ NƯỚC VÀ KHU VỰC
1. Đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN
Từ nửa sau những năm 1980, đầu tư trực tiếp của NHẬT BẢN có xu hướng mở
rộng ,sự mở rộng này giử một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của các nước
ASEAN .Nếu như năm 1986,Mỹ đầu tư khoảng 10 tỷ USD vào ASEAN , đến năm
1989,số lượng đầu tư ở MỸ chỉ khoảng ở mức10tỷ USD thì Nhật Bản cũng trong giai
đoạn đó tăng từ 15 tỷ lên đến25 tỷ USD.Các nước ASEAN đã thật sự trở thành bến đổ
quan trọng trong đầu tư trực tiếp của Nhật Bản .trong giai đoạn 1985-1992, đầu tư trực
tiếp của Nhật Bản ở ASEAN đã tăng 313% . Đó là do một số nguyên nhân sau:
Sự tăng giá đồng YÊN đã làm cho tính cạnh tranh giá cả của hàng hoá Nhật Bản
giảm trên thị trường quốc tế .Các công ty Nhật Bản buộc phảI tìm kiếm hoạt động sản
xuất ở nước khác vớI chi phí sản xuất và tiền lương thấp hơn.
Đầu tư nước ngoài trở nên dể dàng hơn bởI vì giá trị của đồng Yên tăng gấp đôi
nhờ sự giảm giá của đông USD so vớI hai ba năm trước đó .
Đầu tư nước ngoài của Nhật Bản nhận dược nhiều sự khuyến khích của chính
phủ nước ngoài do xu hướng đầu tư đáp ứng được các chính sách hướng ngoạI của các
nước ASEAN .Bên cạnh đó chính sách của chính phủ các nước ASEAN đã thay đổI từ
nhấn mạnh công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu .Cùng
vớI đó là thực hiện chính sách tái điều chỉnh khuyến khích thu hút thêm vốn nước ngoài
và khuyến khích xuất khẩu
Môi trường đầu tư của các nước ASEAN nhìn chng khá tốt FDI của Nhật Bản
vào ASEAN đã và đang mở rộng .Nếu như tỷ lệ đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN năm
1989 là 7% thì đến năm 1997 đạt 14,5%.Đặc biệt đầu tư ở MALAYXIA .THÁI LAN và
INĐÔNÊXIA tăng rất rõ rệt đến năm 1992.SAU khi giảm năm 1993,FDI của Nhật Bản
vào các nước ASEAN lên tớI 5,13 tỷ USD năm 1994,năm 1995 đạt 4 tỷ USD ,năm
1997 tăng 87,1% so vớI năm 1996.từ năm 1998-1999 FDI của Nhật Bản vào các nước
ASEAN giảm
Năm Inđônêxia Philippin Malaixia Thái Lan Xingapore Việt Nam
1990 1105 258 725 1154 840
1991 1193 203 880 807 613
1992 1676 160 704 657 670
1993 813 207 800 578 644
1994 1759 668 742 719 1054 176
1995 1596 718 573 1224 1152
1996 272000 63000 64400 158100 125600 35900
1997 308500 64200 97100 229100 223800 38100
1998 137800 48500 65800 177500 81500 6500
1999 102400 68800 58600 91000 107300 11000
Nguồn :Báo cáo về đầu tư trực tiếp nước ngoài ,bộ tài chính năm 1995 và tổ
chức xúc tiến thương mạI Nhật Bản JETTRO
Sau hiệp ứoc Plaza, đồng Yên tăng giá đã làm cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của Nhật Bản (JDP) tăng mạnh và đạt kỷ lục vào năm 1989 là 9339 tỷ Yên . ĐẦU
những năm 90,nền kinh tế bong bóng tan vỡ kéo theo sự giảm sút của dòng vốn JDP và
tớI mức thấp nhất vào năm 1993 khoảng 4200 tỷ Yên . Đồng Yên tiếp tục tăng mạnh
,song phảI đến năm 1996 đầu tư ra nước ngoài mớI tăng trở lạI .năm 1999 dòng vốn
JDP lên tớI 7393 tỷ Yên đạt mức cao thứ 3 trong lịch sử Nhật Bản .Dòng vốn JDP đổ
vào ASEAN biến đổI tương độc lập vớI dòng JDP toàn cầu cũng như sự biến đổI của
nền kinh tế Nhật Bản .trong thờI gian từ 1990 đến 1994 kinh tế Nhật Bản suy thoái tổng
khốI lượng JDP liên tục giámong JDp vào ASEAN vẫn ổn định .Năm 1998_1999 tổng
khốI lượng JDP tăng mạnh song JDP vào ASEAN lạI giảm một cách dáng kể . Động
thái JDP toàn cầu và JDP vào khu vực ASEAN cùng vớI sự thay đổI của tỷ giá hốI đoái
của đồng Yên Nhật kể tè sau hiệp ước Plaza được minh hoạ trong biểu đồ
Năm 1986 vốn đầu tư của Nhật vào ASEAN chỉ chiếm 3,8%trong tổng số JDP
của toàn cầu ,song tỷ lệ đó lạI tăng lên tớI 6,6% năm 1990.những năm tiếp theo mặc dù
nền kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái ,tổng JDP giảm sút một cách đáng kể nhưng tỷ lệ
JDP vao ASEAN vẫn tiếp tục tăng mạnh và đạt 10,3% và 14% ứng vớicác năm 1995 và
1997.Sau đó do các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Án ,đầu tư
của Nhật Bản vào ASEAN giảm dần từ 9,7% tổng nguồn JDP năm 1998 xuống còn
5,8%,vào năm 1999.
Trước đây ,đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN theo chiến lược công nghiệp hoá
thay thế hàng nhập khẩu ,các dự án đầu tư thường liên quan đến công nghệ lắp ráp (linh
kiện và các bộ phận tách rờI được nhập từ Nhật Bản )phần lớn các dự án đó đều dướI
hình thức liên doanh vớI các đốI tác địa phương .Nhưng từ năm 1985 trở về sau ,cơ cấu
JDP chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp xuất khẩu của các nước ASEAN .TạI
Inđônêxia số dự án đầu tư vào cácnghành công nghiệp xuất khẩu đạt mức trung bình
3,7dự án trong một nămTrong thờI gian từ 1970-1984. Đến thờI kỳ này ,ngoài việc đầu
tư vào ngành công nghiệp khai thác tài nguyên ,nguyên liệu ở các nước ASEAN để xuất
khẩu trở lạI Nhật Bản .JDp còn chú trọng đến việc xây dựng những cơ sở công nghiệp
chế tạo sản phẩm cuốI cùng hoặc cơ sở gia công công nghiệp . Đặc biệt trong các ngành
công nghiệp hướng vào xuất khẩu có khả năng cạnh tranh như điện tử dân dụng ,linh
kiện điện ẻư ,phụ tùng ôtô,xe máy máy móc,chế biến thực phẩm………Các công ty có
cơ sỏ công nghiệp đó hoạt động dướI hình thức vừa và nhỏ tạo nên một mạng lướI công
nghiệp chế tạo rộng khắp khu vực ASEAN .
Cơ cấu của JDp những năm gần đây thể hiện ở bảng sau:
Năm JDP(%) Ngành chế tạo Chếtạo/tổngJDP(%)
1995 ASEAN
thế giớI
10,3
89,7
16,0
84,0
75,0
36,7
1997 ASEAN
thế giớI
14
86
22,0
78,0
67,5
35,8
1998 ASEAN
thế giớI
9,7
92,3
17,7
82,3
54,0
30,0
1999 ASEAN
thế giới
5,8
94,2
5,7
94,3
60,9
63,4
Nguồn: Được trích từ “JBIC Review”No 2/11/2002 tr212
Cho đến nay khu vực ASEAN đã phục hồI sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
.Biểu hiện rõ nhất là tăng trưởng đạt tốc độ dương so vớI sự suy giảm trước đây .Tỷ giá
hốI đoái ổn định tỷ lệ lạm phát ở mức một con số và lãi suất thấp ,nhu cầu của ngườI
tiêu dùng đang tăng lên và nhu cầu của ngành công nghiệp cũng đang tăng. ASEAN đạt
được thành công này nhờ vào chiến lược kinh tế ở tầm vĩ mô ở mỗI quốc gia phần khác
nữa là nhờ vào vai trò quan trọng của Nhật Bản trong khu vực .Trong chiến lược 10 năm
của Nhật Bản (tháng 7/1999) vào khoảng năm 2010quy mô kinh tế của Nhật Bản tương
đương tổng quy mô kinh tế của NICs, ASEAN ,Trung Quốc và Ấn Độ .Khi nền kinh tế
được phục hồi.Nhật Bản sẽ cùng các nước ASEAN thiết lập quan hệ buôn bán và đầu tư
mật thiết hơn .Nhật Bản sẽ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong cung cấp vốn ,kỹ
thuật và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN
2.Đầu tư của Nhật Bản vào Trung Quốc
Nhật Bản bắt đầu đầu tư vào Trung Quốc từ năm 1979.Nhưng thờI kỳ đầu hoạt
động đầu tư của Nhật Bản vào Trung Quốc rơi vào tình trạng trì trệ kém sôi động . Đến
cuốI thập niên 1980 bị tác động bởI đồng Yên lên giá và sự điều chỉnh ngành nghề trong
nền kinh tế Nhật Bản nên các nhà đầu tư mở rộng quy mô đầu tư ra nước ngoài và đăc
biệt chú ý đên sthị trường Trung Quốc .Tuy đưa vốn vào Trung Quốc muộn nhưng nhịp
độ đầu tư khá nhanh nên Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành một trong những nước đầu
tư hàng đầu vào Trung Quốc .Năm 1994 Nhật Bản đứng thứ 3 sau những nhà đầu tư
ngườI HOA ở Hồng Kôngvà Mỹ, đến năm 1996 Nhật Bản đã vượt Mỹ và đứng ở vị trí
thứ 2.tính đến cuốI năm 1996 Nhật Bản đã ký kết đầu tư vào Trung Quốc 15 nghìn hạng
mục ,giá trị thoả thuận hơn 25 tỷ USD,thực tế đã sử dụng 12 tỷ USD.Các doanh nghiệp

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét