Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
iv
Bảng 2.10: Tốc độ tăng trởng đại lý hàng năm của các doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ ở Việt Nam (2001 - 2005) 100
Bảng 2.11: Cơ cấu đại lý và cơ cấu khai thác theo trình độ học vấn của đại lý
tại Bảo Việt Nhân thọ và Prudential năm 2002 103
Bảng 2.12: Tỉ lệ hoa hồng chi trả cho đại lý theo các năm hợp đồng 103
Bảng 2.13. Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của thị trờng bảo
hiểm nhân thọ Việt Nam (2001-2005) 109
Bảng 2.14. Kết quả khai thác bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam (2001 - 2005) 111
Bảng 2.15. Số lợng và tốc độ tăng của các hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu
lực (2001 - 2005) 113
Bảng 2.16. Số lợng và tốc độ tăng của các hợp đồng bảo hiểm khai thác
mới (2001 - 2005) 115
Bảng 2.17. Chi trả tiền bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 116
Bảng 3.1. Dự báo dân số và phát triển dân số, hai phơng án, giai đoạn
1999-2009 131
Bảng 3.2. So sánh cơ cấu dân số năm 1999 với năm 2024 131
Bảng 3.3. Dự kiến khả năng khai thác bảo hiểm nhân thọ (2006-2010) 137
Bảng 3.4: Kết quả điều tra về tính phổ cập của bảo hiểm nhân thọ 139
Bảng 3.5: Tìm hiểu nhu cầu bảo hiểm nhân thọ thực tế của các đối tợng
đợc điều tra 140
Bảng 3.6: Tìm hiểu nhu cầu bảo hiểm nhân thọ tiềm năng của các đối tợng
đợc điều tra 141
Hình 3.1. Tháp dân số Việt Nam, hai phơng án, năm 1999 và 2024 132
1
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Bảo hiểm nhân thọ đ có mặt từ rất lâu trên thế giới và giữ vai trò
không nhỏ đối với sự ổn định và phát triển của mỗi nền kinh tế nói chung
cũng nh đối với sự an toàn ổn định tài chính của mỗi thành viên trong x
hội nói riêng. Winston Churchill đ từng nói: Nếu có thể, tôi sẽ viết từ
Bảo hiểm trong mỗi nhà và lên trán mỗi ngời. Càng ngày tôi càng tin
chắc rằng, với một giá khiêm tốn, bảo hiểm có thể giải phóng các gia đình
ra khỏi các thảm họa không lờng trớc đợc. Hay theo Henry Ford:
Không có bảo hiểm sẽ không có một nhà t bản nào dám đầu t hàng
triệu bạc để xây các tòa nhà lớn bởi một tàn thuốc lá cũng có thể biến tòa
nhà ấy thành tro dễ dàng.
ở nớc ta, bảo hiểm nhân thọ đ chính thức đi vào hoạt động từ năm
1996 do Công ty Bảo Việt Nhân Thọ đảm nhiệm. Với một số nghiệp vụ bảo
hiểm ít ỏi ban đầu, đến nay thị trờng bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đ phát
triển mạnh mẽ với sự tham gia của 7 doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài
nớc, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đ tơng đối phong phú, đa dạng. Tuy
nhiên, sự phát triển của thị trờng bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn còn rất
hạn chế so với các nớc trong khu vực, tỉ lệ ngời tham gia bảo hiểm nhân
thọ chỉ chiếm 1/300 ngời so với 9/10 ngời của Singapore. Mặt khác sự biến
động của nền kinh tế thế giới nói chung, trong khu vực cũng nh ở Việt Nam
nói riêng trong một số năm gần đây đ ảnh hởng không nhỏ đến sự phát
triển của thị trờng bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng thị trờng bảo hiểm nhân
thọ trong thời gian qua thông qua thực tế hoạt động của các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ, vai trò của Nhà nớc trong việc quản lý điều tiết hoạt
động bảo hiểm nhân thọ, các nhân tố tác động đến sự phát triển của thị
2
trờng bảo hiểm nhân thọ, từ đó có các giải pháp phát triển đồng bộ đúng
đắn là một đòi hỏi hết sức bức xúc hiện nay.
Xuất phát thực tế trên, tác giả chọn đề tài Một số giải pháp phát
triển thị trờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam làm đề tài luận án tiến sĩ
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Luận án nhằm vào ba mục đích chính:
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm nhân
thọ và thị trờng bảo hiểm nhân thọ.
- Phân tích thực trạng thị trờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam trong
thời gian qua, nêu bật các thành quả đạt đợc cũng nh những tồn tại và làm
rõ các nguyên nhân dẫn đến thực trạng của thị trờng bảo hiểm nhân thọ
trong quá trình hình thành và phát triển.
- Dựa vào kết quả phân tích thực trạng thị trờng, những cơ hội và
thách thức, các điều kiện thuận lợi và khó khăn tác động đến sự phát triển
của thị trờng, đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để
phát triển thị trờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam đến năm 2010.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu bám sát mục đích nghiên cứu.
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu thị trờng của một loại hình bảo hiểm là
bảo hiểm nhân thọ.
Phạm vi nghiên cứu của luận án chủ yếu là thị trờng bảo hiểm nhân
thọ ở Việt Nam liên quan đến các nhân tố cấu thành nên thị trờng, nh: các
nhà cung cấp, các kênh phân phối, sản phẩm và khách hàng.
Mặc dù đi vào hoạt động từ năm 1996, tuy nhiên chỉ đến cuối năm
1999 thị trờng bảo hiểm nhân thọ Việt Nam mới thực sự sôi động và phát
triển. Do vậy, luận án đi sâu nghiên cứu những nội dung chủ yếu của thị
3
trờng liên quan đến việc cung cầu sản phẩm trong khoảng thời gian từ 1996
đến 2005, phân tích tiềm năng phát triển và các điều kiện thuận lợi, khó khăn
ảnh hởng đến sự phát triển của thị trờng; đa ra các giải pháp phát triển thị
trờng bảo hiểm nhân thọ trong thời gian tới.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phơng pháp nghiên cứu nh: phơng pháp lôgic,
phơng pháp phân tích thống kê và điều tra x hội học. Ngoài ra luận án còn
đề cập đến các vấn đề theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử và cụ thể
nhằm phân tích một cách sát thực thực trạng phát triển của thị trờng bảo
hiểm nhân thọ ở Việt Nam thời gian qua, đánh giá kết quả đạt đợc cũng nh
những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của chúng.
5. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm nhân thọ,
thị trờng bảo hiểm nhân thọ và các nhân tố ảnh hởng đến thị trờng bảo
hiểm nhân thọ.
- Phân tích một cách hệ thống và khoa học thực trạng thị trờng bảo hiểm
nhân thọ ở Việt Nam trong thời gian qua. Tìm ra những nguyên nhân cơ
bản giải thích cho các tồn tại và hạn chế trong quá trình phát triển thị
trờng.
- Trên cơ sở quan điểm và mục tiêu của Đảng và Nhà nớc về phát triển thị
trờng bảo hiểm nhân thọ đến năm 2010, đề xuất các giải pháp có tính
khoa học và thực tiễn nhằm phát triển thị trờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt
Nam đến năm 2010.
6. Kết cấu của luận án
Tên luận án: Một số giải pháp phát triển thị trờng bảo hiểm
nhân thọ ở Việt Nam.
4
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận án đợc chia thành 3 chơng:
- Chơng 1: Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ và thị trờng bảo hiểm
nhân thọ
- Chơng 2: Thực trạng thị trờng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam trong thời
gian qua
- Chơng 3: Một số giải pháp chủ yếu phát triển thị trờng bảo hiểm nhân
thọ ở Việt Nam đến năm 2010.
5
Chơng 1
Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ và
thị trờng bảo hiểm nhân thọ
1.1. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
1.1.1.1. Khái niệm
Sự ra đời của các quỹ bảo hiểm nhân thọ xuất hiện cùng thời với các
hình thức bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hải. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
đầu tiên trên thế giới hiện còn lu giữ đợc là hợp đồng bảo hiểm cho ông
William Gybbon năm 1583. Tuy nhiên bảo hiểm con ngời nói chung và bảo
hiểm nhân thọ nói riêng bị cấm hoạt động ở châu Âu bởi các thế lực chính trị
và nhà thờ thiên chúa giáo cho đến tận thế kỷ thứ 18. Các thế lực chính trị khi
ấy cho rằng bảo hiểm nhân thọ đẩy con ngời nhanh đến cái chết, là
những hoạt động chống lại thuần phong mỹ tục và bảo hiểm nhân thọ bị
pháp luật nghiêm cấm. Các nhà thờ thiên chúa giáo cũng kịch liệt lên án việc
bảo hiểm cuộc sống con ngời vì họ cho rằng cuộc sống con ngời là do
Chúa tạo ra và chỉ thuộc về Chúa.
Vào thế kỷ 17 hai nhà toán học Pascal và Fermat đ tìm ra phơng pháp
tính xác suất, dựa trên cơ sở phát kiến này vào thế kỷ 18 nhà toán học Johahn
Dewit và nhạc trởng John Graunt đ lập ra bảng tỉ lệ tử vong. Đây chính là
cơ sở khoa học để thực hiện hoạt động bảo hiểm nhân thọ.
Mặc dù ra đời từ khá lâu, song cho đến nay vẫn có nhiều khái niệm khác
nhau về bảo hiểm nhân thọ. Các khái niệm này đợc đa ra trên các phơng
diện khác nhau:
Theo cuốn Từ điển bảo hiểm của tác giả C. Bennett, do nhà xuất bản
Pitman phát hành, bảo hiểm nhân thọ là thuật ngữ đợc áp dụng để chỉ việc
bảo hiểm cho cuộc sống của con ngời [28].
6
Tiến sĩ David Bland, Tổng Giám đốc Học viện Bảo hiểm Hoàng gia
Anh, cho rằng: bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm mà rủi ro liên quan
đến mạng sống của ngời đợc bảo hiểm [14].
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của nớc Cộng hòa X hội Chủ nghĩa
Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm cho trờng hợp ngời
đợc bảo hiểm sống hoặc chết [1].
Cả ba khái niệm này đều có điểm chung là nhấn mạnh vào đối tợng
của bảo hiểm nhân thọ: tuổi thọ của con ngời, sự kiện sống hoặc tử vong
của ngời đợc bảo hiểm. Thực chất các khái niệm này đợc đa ra trên
phơng diện kỹ thuật bảo hiểm và nhấn mạnh vào phạm vi bảo hiểm truyền
thống sơ khai của bảo hiểm nhân thọ: sự kiện sống hoặc tử vong
Tuy nhiên, một số nhà chuyên môn lại đa ra khái niệm về bảo hiểm
nhân thọ trên phơng diện pháp lý. Ví dụ: Bảo hiểm nhân thọ là bản hợp
đồng trong đó để nhận đợc phí bảo hiểm của ngời tham gia bảo hiểm
(ngời ký kết hợp đồng), ngời bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều
ngời thụ hởng bảo hiểm một số tiền nhất định (số tiền bảo hiểm hoặc các
khoản trợ cấp định kỳ) trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm tử vong hoặc
ngời đợc bảo hiểm sống đến một thời điểm đ đợc ghi rõ trên hợp
đồng[16].
Thực chất đây là khái niệm về hợp đồng bảo hiểm, thể hiện mối quan hệ
giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên khái niệm này
cũng thể hiện tính kỹ thuật bảo hiểm khi đề cập đến điều kiện phát sinh trách
nhiệm của ngời bảo hiểm.
Cùng với sự phát triển về kinh tế và x hội, yếu tố cạnh tranh của thị
trờng và đặc biệt là sự đòi hỏi rộng hơn về phạm vi bảo hiểm của ngời
tham gia bảo hiểm, hiện nay các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không chỉ bảo
hiểm cho sự kiện sống hoặc tử vong mà còn bảo hiểm cho những sự kiện liên
quan đến tình trạng sức khỏe của ngời đợc bảo hiểm (ví dụ: sự kiện thơng
tật toàn bộ vĩnh viễn, mất khả năng lao động,v.v.).
7
Trên cơ sở phân tích có thể đa ra một khái niệm chung sau: bảo hiểm
nhân thọ là hình thức bảo hiểm những rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc
sống và tuổi thọ của ngời đợc Bảo hiểm. Khái niệm này rộng và phù hợp
hơn với tình hình thực tế triển khai bảo hiểm nhân thọ hiện nay tại tất cả các
thị trờng truyền thống cũng nh các thị trờng mới sơ khai.
1.1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Để hiểu rõ đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ cần xem xét trên hai khía
cạnh, đó là đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ và đặc điểm của sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ.
- Đặc điểm bảo hiểm nhân thọ:
+ Hầu hết các hình thức bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm tử kỳ)
thờng là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, có thể có chia li hoặc
không chia li. Việc chi trả quyền lợi bảo hiểm của các hình thức bảo hiểm
nhân thọ kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm chắc chắn xảy ra do trong bảo
hiểm nhân thọ bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngợc nhau: sống hoặc tử vong.
+ Bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm dài hạn. Khác với bảo
hiểm phi nhân thọ, thời hạn bảo hiểm thờng là 1 năm hoặc ngắn hơn, thời
hạn bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm nhân thọ thờng kéo dài, có thể là
hàng chục năm. Điều này làm cho việc quản lý trong kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ trở nên phức tạp và khó khăn.
+ Việc tính phí bảo hiểm nhân thọ rất phức tạp. Do hầu hết các sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm dài hạn, nên khi định phí bảo
hiểm, các doanh nghiệp phải tính toán một cách chính xác mức li suất kỹ
thuật, tỉ lệ tử vong, cân nhắc đến các yếu tố tác động của nền kinh tế nh lạm
phát, suy thoái, để đảm bảo tính hấp dẫn của sản phẩm cũng nh sự ổn định
trong kinh doanh.
- Đặc điểm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ: Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vô
cùng đa dạng và phong phú, mỗi loại sản phẩm có những đặc điểm riêng nhng
đồng thời cũng có những đặc điểm chung thể hiện khá rõ nét:
8
+ Trong cùng một sản phẩm có thể bảo hiểm cho hai sự kiện trái
ngợc nhau, đó là sống hoặc tử vong. Khác với các sản phẩm bảo hiểm phi
nhân thọ, chỉ bảo hiểm cho rủi ro, trong bảo hiểm nhân thọ sự kiện đợc bảo
hiểm có thể là rủi ro hoặc một sự kiện nào đó liên quan đến cuộc sống của
ngời đợc bảo hiểm. Đặc biệt, hợp đồng bảo hiểm thờng đợc ký kết để
bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngợc nhau là sống hoặc tử vong của ngời
đợc bảo hiểm.
+ Hầu hết các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đều có tính đa mục đích,
phục vụ cho nhiều nhu cầu khác nhau của ngời tham gia bảo hiểm. Ngời
tham gia bảo hiểm có thể sử dụng bảo hiểm nhân thọ phục vụ cho kế hoạch
tài chính trong gia đình của mình nh lập quỹ giáo dục cho con cái, trang trải
các khoản chi tiêu cuối cùng, tạo dựng quỹ đầu t trong tơng lai, hoặc cũng
có thể tham gia bảo hiểm nhân thọ để giảm bớt các gánh nặng cho con cái hỗ
trợ thêm cho các khoản phúc lợi x hội đợc nhận,v.v.
Ngoài các tính chất riêng đặc thù, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng
mang đầy đủ tính chất của sản phẩm bảo hiểm nói chung:
+ Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ dễ bắt chớc và không có bảo hộ độc
quyền. Điều này có nghĩa là sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm
thờng gần giống nhau. Đặc điểm này tạo ra áp lực cho các doanh nghiệp
bảo hiểm trong việc phải tăng cờng chất lợng dịch vụ để tạo ra sự khác biệt
và có lợi cho ngời tham gia bảo hiểm.
+ Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm vô hình. Khi mua các sản
phẩm hàng hóa, khách hàng có thể cảm nhận đợc sản phẩm thông qua các
giác quan của mình, thậm chí họ có thể thử độ bền hoặc tính ứng dụng của
sản phẩm. Tuy nhiên, khi mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, ngời mua chỉ
nhận đợc một bản hợp đồng giao kết giữa hai bên chứ không thể cảm nhận
đợc giá trị sử dụng của sản phẩm bảo hiểm bằng các giác quan của mình.
+ Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có hiệu quả xê dịch. Do chu kỳ sống
9
dài và liên quan đến rủi ro nên doanh nghiệp bảo hiểm khó có thể xác định
chính xác hiệu quả kinh doanh vào thời điểm bán sản phẩm. Tơng tự nh
vậy, khách hàng tham gia bảo hiểm thờng không nhận đợc lợi ích ngay khi
mua sản phẩm mà phụ thuộc vào thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm và các
điều kiện, điều khoản ký kết trên hợp đồng. Đặc biệt với sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ, ngời tham gia có thể đợc nhận thêm một khoản li từ kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm.
+ Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm có chu trình kinh doanh
đảo ngợc. Trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả của sản phẩm đợc
xác định trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh, còn trong lĩnh vực bảo hiểm giá
cả của sản phẩm đợc xác định trên cơ sở các số liệu ớc tính về các chi phí
có thể phát sinh trong tơng lai (ví dụ: chi phí chi trả bảo hiểm, chi hoa hồng,
chi tái bảo hiểm, chi phí hoạt động,v.v.). Chính vì vậy, nếu các số liệu ớc tính
quá sai lệch sẽ ảnh hởng rất lớn đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ
1.1.2.1. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ đối với nền kinh tế, xã hội
Các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ
nói riêng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ nền kinh tế
quốc dân nào, đặc biệt là trong các nền kinh tế đ và đang phát triển. Điều
này thể hiện ở chỗ:
- Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ huy động và cung cấp vốn đầu t
cho nền kinh tế: Có thể nói rằng các doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là các nhà đầu t lớn cung cấp nguồn vốn
đầu t cho nền kinh tế. Với tính chất kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ngoài chức năng bảo hiểm họ còn có thể
huy động tiền nhàn rỗi trong dân c và các tổ chức để hình thành nên nguồn
quỹ đầu t lớn đầu t phát triển kinh tế x hội.
- Tạo công ăn việc làm cho ngời lao động: Cũng nh các doanh nghiệp,
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét