Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp công tác quản lý thu thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Thiết lập hàng rào thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp
lý có chọn lọc, hướng dẫn tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân ở trong nước.
* Kiểm soát hoạt động ngoại thương, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Cùng với việc mở rộng quan hệ kinh tế ngoại thương trong điều kiện nền kinh
tế mở, luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng hoá mậu dịch được Quốc hội khoá
VIII thông qua thàng 12 năm 1987 và có hiệu lực thi hành từ năm 1988. Kể từ ngày
đó, luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được sửa đổi, bổ sung vào tháng 7 năm
1993 và tháng 5 năm 1998 (có hiệu lực từ 1/1/1999). Căn cứ vào Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị
Quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp
thứ 10, Luất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được sửa đổi và bổ sung. Hiện nay áp
dụng Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14
tháng 06 năm 2005, có những quy định mới về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu phù
hợp với thời kỳ mới và phù hợp với các quy định của các tổ chức kinh tế khu vực và
thế giới mà Việt Nam tham gia.
1.2.2. Khái niện thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là loại thuế quan đánh vào các loại hàng hoá, dịch vụ nhập
khẩu vào một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Thuế nhập khẩu có thể đánh vào thành
phẩm hoặc đầu vào nhập khẩu (nguyên vật liệu và bán thành phẩm).
Như vậy, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu nhằm các mục tiêu sau:
 Bảo hộ sản xuất trong nước.
 Hướng dẫn tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
 Tăng thu cho ngân sách Nhà nước.
 Kích thích đầu tư sản xuất trong nước, đặc biệt là sản xuất thay thế nhập khẩu.
 Công cụ gia tăng sức mạnh thương lượng với các đối tác.
2. Đặc điểm
2.1. Đặc điểm của thuế
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của
thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển.
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc trưng riêng để phân biệt
với các công cụ tài chính khác như sau:
2.1.1. Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong
xã hội cho Nhà nước mang tính chất bắt buộc phi hình sự
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt
thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách Nhà nước.
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ,
được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động
viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới
hình thức thuế - như một nhà kinh tế định nghĩa – là một phương thức phân phối của
Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế
được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những
quyền nào khác cho người nộp thuế.
Tính chất bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những nguyên
nhân sau:
Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với
lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện
trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nước tất yếu
phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển
giao.
Thứ hai, trong xã hội văn minh, nhu cầu của các thành viên cộng đồng về
.hàng hoá công cộng ngày càng tăng cao. Phần lớn hàng hoá này do Nhà nước sản
xuất và cung cấp. Để duy trì hoạt động đó bù đắp các chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hoá
công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để người sử
dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần. Mặt khác, hàng
hoá công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị
trường để bù đắp các chi phí. Chính vì vậy, trong việc cung cấp hàng hoá công cộng
đã xuất hiện những “người ăn không”, nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc
thụ hưởng hàng hoá công cộng. Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hoá công cộng,
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc “người ăn không” phải
chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công.
Tuy nhiên, tính chất bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là
hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu
hiện phạm pháp, mà hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân.
Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính khác
của ngân sách Nhà nước như phí, lệ phí, công trái, hoặc hình thức phạt bằng tiền.
Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt bằng tiền chỉ xẩy
ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hại đến lợi ích
Nhà nước hoặc cộng đồng.
Hình thức phí, lệ phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính
chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và lệ phí chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thừa
hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp.
2.1.2. Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính
chất hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không
hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá
công cộng do Nhà nước phải cung cấp. Người nộp thuế cũng không đòi hỏi Nhà nước
phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản
chuyển giao thu nhập cho Nhà nước. Mặt khác, mức độ cung cấp dịch vụ công cộng
của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Mức độ
chuyển giao cũng thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước.
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được trả trực
tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẻ nhận được một phần các dịch vụ
công công mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Đặc điểm
này giúp ta phân biệt sực khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí.
2.1.3. Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy
định trước bằng luật pháp
Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản ánh
sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trên những cơ sở pháp
luật nhất định và đã được xác định trước trong luật thuế là: đối tượng chịu thuế, đối
tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thuế suất, thời hạn cụ thể và những chế tài mang
tính cưỡng chế khác.
2.1.4. Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu
sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ
nhất định
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh
tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của ngân
sách Nhà nước…
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của Nhà
nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá, xã hội của dân
tộc …
Do thuế chịu sự ràng buộc các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như vậy nên
người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp.
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội
dung bên trong của thuế, Từ những thuộc tính đó, giúp ta phân biệt thuế với các hình
thức động viên khác của ngân sách Nhà nước trên nhiều phương diện khác nhau.
2.2. Đặc điểm của thuế nhập khẩu
Một là, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu nhằm động viên một phần giá trị
mới nằm trong giá cả hàng hoá trao đổi qua biên giới một nước, người nộp thuế là
các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu, còn người chịu thuế là người tiêu dùng
các hàng hoá đó, họ mua hàng hoá với giá cả trong đó có cả thuế. Với cơ chế này,
người kinh doanh hàng hoá nhập khẩu khi bán hàng hoá cũng là lúc họ thu hộ thuế
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhập khẩu cho Nhà nước (qua giá bán hàng hoá) và nộp khoản thuế nhập khẩu này
cho Nhà nước, tức là nộp hộ người tiêu dùng hàng hoá. Do đó, thuế nhập khẩu cũng
là một loại thuế điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu,
thông qua cơ chế giá hàng hoá và dịch vụ. Thuế nhập khẩu “được che đậy” trong giá
bán hàng hoá nên người chịu thuế (người tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu) ít có cảm
giác mình bị Nhà nước đánh thuế.
Hai là, thuế nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương. Thuế nhập
khẩu là một công cụ quan trọng của nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương
thông qua việc kê khai, kiểm tra, tính thuế đối với các hàng hoá nhập khẩu. Việc đánh
thuế thường căn cứ vào giá trị và chủng loại hàng hoá nhập khẩu. Giá trị của hàng hoá
được xác định làm căn cứ tính thuế nhập khẩu giá trị của hàng hoá tại cửa khẩu nhập đầu
tiên (đối với thuế nhập khẩu). Thuế nhập khẩu thu vào các nhóm hàng, mặt hàng nhập
khẩu. Đối với các loại hàng hoá nhập khẩu khác nhau thì có các mức thuế khác nhau, có
biểu thuế khác nhau và có suất thuế khác nhau và những điều này đã được quy định
rõ trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Các hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu,
biên giới Việt Nam; hàng hoá trao đổi được đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường
trong nước, thì được áp dụng Luật thuế nhập khẩu.
Ba là, thuế nhập khẩu là một khoản thu nhập của ngân sách Nhà nước chịu sự tác
động của các yếu tố về chính trị và xã hội, kinh tế trong những thời kỳ nhất định.
Các yếu tố về chính trị, xã hội tác động đến thuế nhập khẩu như là: thể chế
chính trị của Nhà nước, tập quán tiêu dùng của các lớp dân cư, truyền thống văn hoá,
xã hội của dân tộc
Các yếu tố về kinh tế tác động đến thuế nhập khẩu là: tốc độ tăng trưởng kinh
tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của các
dòng vốn đầu tư nước ngoài
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

3. Vai trò
3.1. Vai trò của thuế
3.1.1. Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực vật chất
cho Nhà nước
Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng các hình
thức khác nhau:
- Phát hành thêm tiền để trang trải các nhu cầu chi tiêu cần thiết của Nhà
nước.
- Phát hành trái phiếu để vay trong và ngoài nước.
- Bán một phần tài sản quốc gia
- Thu thuế
- Hạn chế bớt tính luỹ thoái của một số loại thuế so với thu nhập có được
Phát hành thêm tiền chi tiêu là cách thức đơn giản nhất. Song việc phát hành
thêm tiền để chi tiêu thiếu cơ sở vật chất đảm bảo sẽ dẫn đến hậu quả lạm phát đưa nền
kinh tế đến bên bờ vực thẳm, càng làm khó khăn thêm cho ngân sách Nhà nước.
Phát hành trái phiếu để vay trong và ngoài nước vừa chịu những ràng buộc về
kinh tế và chính trị từ phía người cho vay, vừa phải tìm nguồn để hoàn trả cả gốc lẫn
lãi. Do đó, nói chung ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, để huy động tập
trung nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, vai trò quan trọng
thuộc về thuế. Sử dụng công cụ thuế để huy động sự đóng góp có ưu điểm:
- Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn. Đối tượng
nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh
nguồn thu nhập nộp thuế. Vì thế, thuế đem lại nguồn thu lớn cho Nhà nước.
- Phương thức huy động tập trung nguồn lực của thuế sử dụng phương pháp
chuyển giao thu nhập bắt buộc. Do vậy Nhà nước đảm bảo thực hiện sự công bằng
trong việc phân bổ gánh nặng của các khoản chi tiêu công cộng.
- Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân trong nước tạo ra. Nhờ đó mà một bộ phận đáng kể thu nhập của xã
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hội được tập trung vào trong tay Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho các biện
pháp kinh tế - xã hội. Mặt khác, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách
nhanh chóng, thường xuyên và ổn định.
- Tính ưu thế động viên thông qua thuế so với các công cụ tài chính khác là ở
chổ: Thuế kết hợp giửa phương thức cưỡng bức, được quy định dưới hình thức pháp
luật cao với kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến
chất lượng và hiệu quả kinh doanh.
3.1.2. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những
khuyết tật vốn có. Chính đó là lý do biện minh cho sự can thiệp của Nhà nước vào quá
trình hoạt động của nền kinh tế thị trường. Trong quá trình can thiệp đó, Nhà nước đã sử
dụng các biện pháp hành chính, mang tính chất cưỡng chế và hàng loạt các đòn bẩy kinh
tế, đặc biệt là thuế. Cùng với việc mở rộng chức năng của Nhà nước, thuế trở thành một
công cụ quan trọng để thực hiện điều tiết nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường Nhà nước có khả năng sử dụng thuế để
điều tiết nền kinh tế quốc dân. Điều đó xuất phát từ cơ sở của chức năng điều chỉnh
của thuế. Vì lợi ích của xã hội, Nhà nước có thể tăng hoặc giảm thuế đối với thu nhập
của các tầng lớp dân cư và doanh nghiệp, để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của
các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế.
Thuế có thể được sử dụng để điều tiết việc làm, thất nghiệp và lạm phát. Khi
nền kinh tế có mức thu nhập cao thì cùng với việc mở rộng các khoản chi tiêu của
chính phủ, thuế cần phải được cắt giảm để tăng tổng cầu và việc làm. Trong thời kỳ
nền kinh tế lạm phát thì cùng với việc cắt giảm các khoản chi tiêu của chính phủ, thuế
lại được gia tăng để giảm tổng cầu và hạn chế gia tăng lượng tiền trong lưu thông.
Thuế được sử dụng như một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện chính
sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy sự hoà nhập kinh tế
trong khu vực và thế giới. Thông qua điều chỉnh mức thu thuế xuât nhập khẩu mà gây
nền áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuất
trong nước, từ đó điều chỉnh khối lượng hàng hoá đưa vào để thực hiện bảo hộ nền
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sản xuất trong nước và bảo về lợi ích của thị trường nội địa. Mặt khác, tác động đánh
thuế nhập khẩu cũng gây nên phản ứng của người tiêu dùng trong nước tạo nên sự
lựa chọn của họ trong tiêu dùng. Ngoài ra người ta còn sử dụng công cụ thuế để kích
thích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hay ít nhất là giảm đển mức thấp nhất
tính kèm hiểu quả của sản xuất trong nước. Chẳng hạn, trong trường hợp để hạn chế
xuất khẩu những loại hàng hoá mà giá cả của chúng bị ấn định bởi giá cả bất lợi của
thị trường thế giới, gây thiệt hại cho sản xuất trong nước, thì có thể sử dụng thuế xuất
khẩu để kích thích chuyển các nguồn lực từ sản xuất hang xuất khẩu sang sản xuất
hang hoá tiêu dung nội địa.
3.1.3. Thuế là công cụ để điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
trong phân phối
Một trong những “khiếm khuyết” của nền kinh tế thị trường là sự chênh lệch
ngày càng lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Kinh tế thị trường
càng phát triển thì khoảng cách giàu – nghèo ngày càng có xu hướng gia tăng. Với
những đặc điểm nổi bật của cơ chế thị trường là: sự cởi mở, sự năng động, sự độc lập
tự chủ, thì tình trạng chênh lệch giàu – nghèo là khó tránh khỏi. Sự chênh lệch về thu
nhập và về mức sống giửa các tầng lớp dân cư không chỉ liên quan đến vấn đề đạo
đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các
tầng lớp dân cư, làm mất đi ý nghĩa của sự phát triển kinh tế - xã hội. Trước tình hình
đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, của
cải xã hội. Thuế là một công cụ có tác động trực tiếp vào quá trình này.
Việc điều hoà thu nhập giửa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần
thông qua thuế gián thu, mà điển hình là thuế tiêu thụ đặc biệt. Loại thuế này do đánh
thuế cao vào các hang hoá, dịch vụ cao cấp, đắt tiền, mà chỉ với những người có thu
nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều hơn, qua đó điều tiết bớt phần thu nhập
của họ.
3.1.4. Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt
động sản xuất, kinh doanh
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Vai trò này xuất hiện do quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực
tế. Để thu được thuế và thực hiện đúng các luật thuế đã được ban hành, cơ quan thuế
và các cơ quan có liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, qui mô các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được
phép kinh doanh. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẻ phát hiện những việc làm
sai trái, vi phạm pháp luật của các cá nhân, các đơn vị sản xuất, kinh doanh, hoặc
phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp tháo gỡ.
Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà còn có thể kết hợp kiểm tra, kiểm
soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý
Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
3.2. Vai trò của thuế nhập khẩu
3.2.1. Thuế nhập khẩu góp phần thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong
nước
Thuế nhập khẩu có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước. Bảo hộ là bảo
vệ và trợ giúp các doanh nghiệp trong điều kiện cần thiết, là việc Nhà nước thông qua
các chính sách tạo ra môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi giúp các doanh nghiệp
có điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Trên thực tế, thuế nhập khẩu là một khoản chi phí nằm trong giá gốc của hàng
hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Giá cả là phương tiện
thực hiện cạnh tranh có hiệu quả cao. Giá hàng nhập khẩu cao hay thấp phụ thuộc
nhiều vào chính sách thuế nhập khẩu. Vì vậy, việc đánh thuế nhập khẩu là cần thiết
để bảo hộ sản xuất trong nước.
3.2.2. Thuế nhập khẩu là nguồn thu lớn trong tổng thu ngân sách Nhà
nước
Tại điều 11, Luật Hải quan quy định về nhiệm vụ của ngành Hải quan như
sau: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương
tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ
chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị
chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu,
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu”.
Nhà nước sử dụng công cụ quản lý bằng Hải quan, định ra các chính sách, luật
pháp nhằm điều chỉnh hoạt động nhập khẩu, nhập cảnh, đảm bảo cho việc phát triển
các mối quan hệ quốc tế về kinh tế, văn hoá, góp phần tăng cường sự giao lưu và hơp
tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia.
Quản lý Nhà nước về Hải quan là tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Hải
quan tại biên giới, cửa khẩu và bất cứ nơi nào có hàng hoá nhập khẩu, phương tiện
vận tải nhập cảnh, bao gồm nhiều mặt hoạt động trong đó hai mặt hoạt động chủ yếu
là thu thuế nhập khẩu và chống buôn lậu, gian lận thương mại.
Do vậy, quản lý Nhà nước bằng công cụ Hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu
là yêu cầu tất yếu. Chức năng quản lý đó ở hai mặt: Quản lý bằng chính sách, luật
pháp và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát thông qua thực hiện khai báo thủ tục Hải
quan. Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, thuế nhập khẩu chiếm trên 70%
tổng số thu thuế xuất nhập khẩu. Riêng Việt Nam hiện nay, thuế xuất nhập khẩu
chiếm khoảng 1/3 tổng thu của ngân sách Nhà nước. Việt Nam là một nước có nền
kinh tế dang phát triển, hoạt động nhập khẩu hàng hoá diển ra rất sôi động. Có rất
nhiều mặt hàng, công nghệ, máy móc thiết bị mà Việt Nam chưa sản xuất được,
phải nhập khẩu từ nước ngoài về, đây là một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước.
3.2.3. Thuế nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện nhiệm vụ quản lý
Nhà nước về Hải quan
Khi thực hiện nhiệm vụ thu thuế nhập khẩu, Hải quan đã kiểm tra các hoạt
động nhập khẩu và điều tiết vĩ mô hoạt động nhập khẩu, vừa kích thích nhập khẩu,
vừa hướng dẫn tiêu dùng trong nước.
Trong số các công cụ kinh tế mà Nhà nước sử dụng thì thuế nhập khẩu là một
công cụ linh hoạt và hiệu quả nhất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của
mình. Thuế nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hay hạn chế tiêu dùng thông qua
việc điều chỉnh thuế suất. Với biểu thuế nhập khẩu và chính sách miễn giảm thuế
nhập khẩu, Nhà nước có thể thực hiện kiểm soát và hướng dẫn hoạt động nhập khẩu
Lê Thị Linh Lớp: Thương mại 46B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét