- 5 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIA CÔNG VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIA CÔNG.
1. Các khái niệm.
1.1.Khái niệm về gia công:
Gia công là sự chế tác, lung chảy phế liệu, thành các vật dụng có định
dạng, khuôn mẫu nhất định (1)
1.2Khái niệm về gia công phôi thép
Là sự chế tác, lung chảy phôi thép thành các vật dụng có định dạng khuôn
mẫu nhất định (2)
2. Vai trò của ngành gia công
Ngày nay khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập. Nhu cầu xây dựng cơ
sở hạ tầng là rất lớn. Xã hội rất cần đến lượng sắt thép, tấm lợp Vì vậy ngành
gia công phôi thép có một vai trò quan trọng và đóng góp công lao rất lớn trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cũng như góp một công lao lớn phục vụ
lợi ích, nhu cầu của người dân.
3. Các nhân tố ảnh hưởng và tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của ngành gia công phôi thép.
Có rất nhiều những nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh
doanh của nganh như: nguyên liệu, khách hàng, đội ngũ cán bộ công nhân, đối
thủ cạnh tranh và quy luật cạnh tranh.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 6 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.1.Nguyên liệu.
Nguyên liệu trong kho luân phải đủ, khối lượng lúc nào cũng đáp ứng đủ
nhu cầu sản xuất thì công việc sản xuất kinh doanh sẽ đạt hiệu quả, năng suất
lao động mới cao. Ngược lại nếu như nguyên liệu trong kho không đáp ứng đủ
nhu cầu sản xuất thì năng suất lao động sẽ thấp, hiểu quả sản xuất không cao,
gây tổn thất lớn cho công ty trong việc giữ chân khách hàng, gây lãng phí lao
động,
3.2.Khách hàng.
Khách hàng chính của công ty chủ yếu là các đại lý lớn, các cửa hàng
kinh doanh Do vậy muốn lượng hàng tiêu thụ được nhiều thì cần phải có
nhiều khách hàng là các đại lý, các cửa hàng kinh doanh bán lẻ các sản phẩm
của công ty. Công ty cũng cần có những chính sách hỗ trợ các đại lý, các cửa
trong vấn đề về tài chính, quảng bá thương hiệu, chính sách kinh doanh. Công
ty phải tạo cho khách hàng thấy được chất lượng các sản phẩm của công ty, như
thế khách hàng sẽ yên tâm hơn trong việc sử dụng sản phẩm. Và như thế các
cửa hàng, các đại lý mới gắn bó lâu dài với các sản phẩm của công ty.
3.3.Đội ngũ cán bộ, công nhân.
Công ty có được đội ngũ cán bộ giỏi, công nhân có kinh nghiệm và có tay
nghề cao thì việc sản xuất kinh doanh của công ty sẽ diễn ra thuận lợi, năng suất
lao động nhất định sẽ đạt được ở mức cao. đồng thời công ty sẽ giảm bớt được
các chi phí đào tạo cho cán bộ công nhân, trong quá trình sản xuất công ty sẽ
hạn chế được các sản phẩm là phế phẩm, giúp tiết kiệm nguyện liệu, làm tăng
khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác.
3.4.Đối thủ cạnh tranh.
Đối thủ cạnh tranh của công ty là các cá nhân, các tổ chức gia công phôi
thép ở miền bắc nói chung và trên toàn quốc nói riêng, các loại sản phẩm gia
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 7 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
công nhập ngoại, các tổ chức, các cá nhân cùng gia công ra các loại sản phẩm
giống nhau, sản phẩm của các công ty, các tổ chức cùng tồn tại trong một thị
trường Tuy nhiên để cạnh tranh được với các tổ chức cá nhân này thì đòi hỏi
công ty phải có được sản phẩm chất lượng tốt. Giá cả phải thấp hơn so với các
(1); (2): nguồn tư liệu công ty
đối thủ cạnh tranh khác. Đồng thời sản phẩm cũng phải phong phú, đa dạng hơn
về mẫu mã, chủng loại muốn thế thì công ty ngoài việc phải có một đội ngũ
cán bộ, công nhân chất lượng ra thì máy móc kỹ công nghệ cũng phải tiên tiến,
tránh tình trạng lạc máy móc lạc hậu. Đồng thời cũng phải tối thiểu hóa các chi
phí không cần thiết làm giá thành sản phẩm giảm xuống.
3.5.Quy luật cạnh tranh.
Đó là những quy luật chung: các tổ chức, cá nhân, các chủ thể tham gia
cạnh tranh phải có những biện pháp mở rở rộng thị trường tiêu thụ của mình.
Đồng thời phải giảm chi phí mức lao động cá biệt trong doanh nghiệp dưới mức
chi phí xã hội trung bình tạo ra sản phẩm. Sản phẩm ra đời phải đa dạng về mẫu
mã và chủng loại,chất lượng sản phẩm phải tốt. Các sản phẩm phải đánh vào thị
hiếu của người tiêu dùng. Đồng thời cũng không ngừng quảng bá sản phẩm
cũng như tao dựng thương hiệu của công ty dưới các hình thức.
II. TỔNG QUAN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.Khái niệm về năng suất lao động.
Theo Các Mác thì năng suất lao động là“ sức sản xuất của lao động cụ thể có
ích”(3)
Năng suất lao động thể hiện kết quả hoạt động suản xuất, kinh doanh có ích
của con người trong một lượng đơn vị nhất định: giờ, ngày, tuần, tháng, năm
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 8 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Quan niệm truyền thống về năng suất chủ yếu là tập trung hướng vào các
yếu tố đầu vào như: vốn, lao động mà ở đây chủ yếu là lao động sống. Vì vậy ở
nhiều nơi người ta còn đồng nhất giữa năng suất và năng suất lao động
Theo ủy ban năng suất thuộc hội đồng năng suất châu âu thì“ năng suất là
một trạng thái tư duy. Nó là thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang
tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng con người ngày hôm nay có thể làm việc tốt
hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa, nó đòi hỏi
những cố gắng phi thường, không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế
trong những điều kiện luôn luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và
phương pháp mới. Đó là một tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của
loài người” .( 4)
1.1.Căn cứ vào tính chất, năng suất chia thành ba loại: tổng năng suất,
năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất bộ phận.
1.1.1 Tổng năng suất
Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của tất cả
các yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu này phản ánh trạng thái tổng quát về năng suất mà
không đi sâu phân tích đóng góp từng yếu tố riêng và được tính theo công thức
sau:
Pt =Qt/ (L+C+R+Q)
Trong đó:
Pt: là tổng năng suất
Qt: là tổng đầu ra
L: là nhân tố lao động
C: là nhân tố đầu vào
R: là nguyên liệu thô.
Q: là những hàng hóa và dịch vụ khác
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 9 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.2. Năng suất nhân tố bộ phận
Đây là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng tổng hợp các yếu
tố đầu vào. Về bản chất thì năng suất nhân tố bộ phận được tạo nên do tác động
của các nhân tố vô hình:( thay đổi cơ cấu sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lượng lao động, cải tiến quản lý và cải tiến tổ chức, thay đổi quy chế, cách
thức tôt chức ) thông qua sự biến đổi của các nhân tố hữu hình là lao động và
vốn
(3): C. Mác. Tư bản quyển 1. T
1
. NXB sự thật 1960 - trang 26
(4):tạp chí năng suất la động
Theo quan điểm phát triển thì năng suất nhân tố bộ phận phản ánh hiệu
suất đích thực của nền kinh tế. Một nền kinh tế phát triển khi đạt được tổng mức
đầu ra lớn hơn tổng mức đầu vào. Nếu mức lớn hơn đó chỉ dựa đơn thuồn vào
sự gia tăng của các yếu tố đầu vào thì nền kinh tê đó tuy phát triển song chưa có
hiệu suất. Do đó một nền kinh tế phát triển có hiệu suất khi tổng mức tăng của
đầu ra lớn hơn rất nhiều so với tổng các thành phần của yếu tố đầu vào
1.1.3.Năng suất bộ phận
Chỉ tiêu năng suất bộ phận thường dùng để đánh giá sự đóng góp của
từng nhân tố riêng biệt.
Năng suất bộ phận được tính như sau:
Năng suất bộ phận = đầu ra ( gộp hoặc dòng)/ ( một nhân tố)
Có hai loại năng suất bộ phận quan trọng nhất là năng suất lao động và năng
suất vốn.
1.2. Căn cứ vào phạm vi
1.2.1 năng suất lao động cá biệt
Năng suất lao động cá biệt phản ánh hiệu quả của lao động sống. Và
thường được đo( bằng khối lượng đầu ra) / ( một giờ lao động). Năng suất lao
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 10 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
động cá biệt ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuổn sống và hầu hết các doanh
nghiệp đều chấp nhận trả công lao động theo năng suất cá biệt hoặc theo mức
độ thực hiện của từng cá nhân. Như thế sẽ khuyến khích và phân loại được chất
lượng lao động.
1.2.2 Năng suất của doanh nghiệp
Là tỷ số giữa tổng đầu ra của doanh nghiệp với tổng đầu vào trong đó có
điều chỉnh hệ số lạm phát trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó cạnh
tranh của doanh nghiệp dựa vào chi phí và chất lượng sản phẩm do doanh
nghiệp sản xuất ra. Chi phí thấp, chất lượng sản phẩm tốt sẽ tạo sự cạnh tranh
lớn cho doanh nghiệp. Ngược lại chi phí cao, chất lượng sản phẩm không tăng
hoặc không tốt thì doanh nghiệp sẽ rất khó để cạnh tranh
1.2.3 Năng suất quốc gia
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất của một quốc gia trên
một lao động. Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của quốc gia đó. Và
là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống. Năng suất quốc gia là
chỉ số của nền KTQD nói chung và chỉ số để so sánh các nước với nhau.
2. Năng suất lao động và một số vấn đề liên quan.
2.1. Năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Sự chênh
lệch giữa đầu ra trừ đi đầu vào cành lớn thì hiệu quả cành cao và ngược lại.
Hiệu quả là một phạm trù rộng nó bao trùm mọi vấn đề. Hiệu quả của các hoạt
động kinh tế của doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài
chính mà bao gồm cả các kết quả xã hội mà nó mang lại
Hiện nay, theo khái niệm của các quốc gia, các nước thì khái niệm về
năng suất được hiểu rộng hơn và bao trùm cả hiệu quả. Giờ đây năng suất được
hiểu theo hai mặt: Đó là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức độ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 11 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí, hay hiệu quả của việc khai
thác, huy động, sử dụng các nguồn lực đầu vào
Đối với các doanh nghiệp tăng năng suất là một phạm trù rộng hơn hiệu
quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và
nguồn lực để tăng lợi nhuận cùng với việc tăng khối lượng và chủng loại hàng
hóa,
2.2 Năng suất lao động và khả năng cạnh tranh
Quan hệ giữa năng suất lao động và khả năng cạnh tranh là mối quan hệ
nhân quả tác động qua lại lẫn nhau. Năng suất lao động của doanh nghiệp cao
thì đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và ngược lại
năng suất lao động của một doanh nghiệp thấp thì cũng đồng nghĩa với khả
năng cạnh tranh của doanh nghệp đó thấp. Trong mối quan hệ năng suất và khả
năng cạnh tranh thì năng suất là cơ sở cho cạnh tranh lâu dài và bền vững. Năng
suất có tác động mạnh tới khả năng cạnh tranh bởi vì:
Tài sản cạnh tranh kết hợp với quá trình cạnh tranh tạo ra khả năng cạnh
tranh.
Trước kia người ta coi khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào lợi thế so sánh
về tài nguyên và nguồn nhân lực. Nhưng điều này không thể giải thích được tại
sao những nước nghèo về tài nguyên như Nhật Bản là những nước rất nghèo
về tài nghiên nhưng khả năng cạnh tranh lại rất cao. Do đó khả năng cạnh tranh
cần tạo ra từ năng lực quản lý, sử dụng tối ưu các nguồn lực.
Năng suất lao động và khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại vì thế
khả năng cạnh tranh cũng có tác động ngược trở lại năng suất lao động. Khi tài
sản và cách thức quản lý một cách có hiệu quả, nhờ đó chuyển thành năng suất
cao hơn. Chí phí lao động trên một đơn vị GDP giảm xuống, trong khi sản phẩm
vẫn đạt hoặc vượt mức đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 12 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Khả năng cạnh tranh tăng lên phụ thuộc vào cả hai yếu tố giảm chi phí và tăng
mức thỏa mãn nhu cầu. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh khả năng
cạnh tranh là chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm hoặc trong giá trị gia tăng.
Việc tăng khả năng cạnh tranh lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp mớ
rộng thị phần, tăng quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và trình độ tay nghề
người lao động được nâng cao,làm giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng đầu
tư vào mở rộng sản xuất, các thành phần khác liên quan. Nhờ đó lại tạo điều
kiện cho tăng năng suất và nó lại tiếp tục làm tăng khả năng cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Đây là mối quan hệ trong trạng thái phát triển không ngừng.
2.3 Năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế - việc làm.
Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng năng suất lao động và tăng
việc làm. Mối quan hệ giữa năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế và việc làm
như sau:
GDP
GDP = * việc làm
việc làm
GDP
Vì: = năng suất lao động
việc làm
GDP = năng suất lao động * việc làm
Từ đó có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
2.4 Năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ
bản và là thước đo sử dụng hiệu quả lao động của doanh nghiệp. Về nguyên tắc,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 13 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải lớn hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân bời vì:
2.4.1 Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức chi
phí lao động bình quân cho một sản phẩm gọi tắt là (ULC). Việc nâng cao năng
suất lao động sẽ cho phép giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm.
Tổng chi phí lao động
ULC =
Tổng sản phẩm
Tổng chi phí lao động
Lao động
ULC =
Tổng sản phẩm
Lao động
Mức tiền lương bình quân
ULC =
Năng suất lao động
Từ đó ta có:
Tốc độ tăng mức chi phí lao động / sản phẩm = ( tốc độ tăng tiền lương) -
( tốc độ tăng năng suất lao động)
Để tăng tính cạnh tranh thì( tốc độ tăng chi phí lao động / sản phẩm) phải < 0
Hay tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn tốc độ tăng tiền lương
bình quân. (Tốc độ tăng năng suất lao động - Tốc độ tăng tiền lương phải > 0)
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- 14 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.4.2 Năng suất lao động chỉ là một bộ phận của năng suất chung.
Tăng năng suất lao động có phần đóng góp của người lao động như nâng
cao trình độ lành nghề, nâng cao kiến thức, tổ chức kỷ luật trong lao động, tổ
chức quản lý Tuy nhiên năng suất lao động xã hội và cá nhân còn tăng lên do
các nhân tố khách quan khác như: Áp dụng khoa học kỹ thuật mới, sử dụng hiệu
quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chính vì thế năng suất lao động chỉ là một bộ
phận của năng suất chung.
2.4.3 Do yêu cầu của tích lũy
Để có được tích lũy thì yêu cầu tốc độ tăng tiền lương phải thấp hơn tốc
độ tăng năng suất lao động còn thể hiện mối quan hệ lớn nhất trong xã hội đó là
mối quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng. Đòi hỏi sản phẩm làm ra không phải đem
toàn bộ dùng để nâng cao tiền lương thực tế mà còn phải tích lũy. Tích tũy càng
cao thì tốc độ tăng năng suất lao động càng cao, khả năng cạnh tranh càng lớn.
Cũng thế, số tiền kiếm được không phải chỉ để tiêu dùng mà đòi hỏi phải tích
lũy, đầu tư
Trong phạm vi của một nền kinh tế quốc dân cũng như trong nội bộ của
một doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm và tăng tích lũy thì cần phải
duy trì tốc độ tăng tiền lương bình quân phải thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao
động. Nhưng mối quan hệ giữa tốc độ tăng (∆t) năng suất lao động lớn hơn tốc
độ tăng tiền lương bình quân là hợp lý, lại còn phải phụ thuộc vào một số điều
kiện kinh tế và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và từng
doanh nghiệp cụ thể và được xác định bằng công thức sau đây.
∆t = (I
tl
-1)/ (I
w
– 1)
∆t: là số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% năng suất lao động tăng lên
I
tl:
là chỉ số tiền lương giữa hai thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W:
là chỉ số năng suất giữa hai thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét