Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Lực lượng sản xuất

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Mục lục
Mục lục 1
Lời nói đầu 2
Nội dung 3
I. Lý luận chung 3
1. Thế nào là lực lợng sản xuất? 3
2. Phạm trù sở hữu và cơ cấu sở hữu trong giai đoạn trớc đây (trớc 1986) 5
II. Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lợng sản xuất và đa dạng
hoá các hình thức sở hữu của Việt Nam 6
1. Mội số vấn đề về phát triển lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay 6
2. Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt Nam 7
3. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất 8
4. Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lợng sản xuất với đa
dạng hoá các hình thức sở hữu 10
Kết luận 12
Tiểu luận triết học
Lời nói đầu
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hớng của
lực lợng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và
những hình thức phát triển cảu lực lợng sản xuất là một vấn đề hết sức quan
trọng.
Thời kỳ quá độ nên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến
cách mạng sâu sắc toàn diện và triệt để về mọi mặt, từ xã hội cũ sang xã hội
mới xã hội XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính
quyền cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng song
cơ sở kinh tế chính trị t tởng của xã hội mới. Đó là thời kỳ xã hội từ lực lợng
sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành
lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành lên kiến trúc th-
ợng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta đã không nhận thức đúng
đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Sự phát triển của lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất tạo lên tính đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt
Nam từ đó tạo lên tính đa dạng của nền kinh tế nhiều thành pần. Thực tế cho
thấy một nền kinh tế nhiều thành phần phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu
trong giai đoạn xa kia. Vì vậy nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa sự phát
triển của lực lợng sản xuất và sự đa dạng hoá các loại hình sơ hữu ở Việt Nam
có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thời đại ngày nay chính là sự
phát triển của nền kinh tế thị trờng hàng hoá nhiều thành phần. Nghiên cứu vấn
đề này chúng ta còn thấy đợc ý nghĩa lý luận cũng nh thực tiễn của nó hết sức
sâu sắc.
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
2
Tiểu luận triết học
Nội dung
I. Lý luận chung.
1. Thế nào là lực lợng sản xuất?
Lực lợng sản xuất là mối quan hệ của con ngời với tự nhiên hình thành
trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lợng sản xuất thể hiện ở trình độ
khống chế tự nhiên của con ngời. Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con ngời
tác động của tự nhiên tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của loài ngời.
Trong cấu thành của lực lợng sản xuất hai thành phần chủ yếu là t liệu
sản xuất và con ngời lực lợng. Trong đó t liệu sản xuất đóng vai trò là khách
thể, coi con ngời lao động chính chủ thể.
T liệu sản xuất đợc cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tợng lao động và
t liệu lao động. T liệu lao động là một hay nhiều vật mà lao động của con ngời
thông qua nó tác động vào đối tợng lao động, nó dẫn truyền tích của sự tác
động của con ngời vào đối tợng lao động. T liệu lao động bao gồm công cụ sản
xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật liên quan đến sản xuất gọi là phơng tiện lao
động.
Đối tợng lao động gồm có ba loại, một loại có sẵn trong tự nhiên, thứ
hai là loại sản phẩm đã qua chế biến cuối cùng là những vùng tự nhiên không
thuộc về giới hạn của lao động trực tiếp.
Toàn bộ những vùng của bản thân giới tự nhiên đợc con ngời trực tiếp sử
dụng đa vào sản xuất đó là toàn bộ những thứ của tự nhiên, có sẵn trong tự
nhiên và là sản phẩm mà tự nhiên dâng hiến cho con ngời. Tuy nhiên để không
lãng phí tài nguyên con ngời cần phải biết tìm kiếm khai thác và sử dụng hợp
lý.
Những sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên nhà máy và do con ngời
sáng tạo ra bằng chính sức lao động của mình. Những sản phẩm này rất đa
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
3
Tiểu luận triết học
dạng và phong phú ngày càng hoàn thiện gắn liền với sự phát triển của nền
sản xuất và thành tựu mới của khoa học kỹ thuật.
T liệu lao động dù có tinh xảo và hiện đại đến đâu chăng nữa nhng nếu
tách khỏi ngời lao động thì cũng không phát huy đợc tác dụng của nó. Chính vì
vậy mà Lênin đã viết: Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là ngời lao động. Ngời lao động với những kinh nghiệm, thói quen
lao động biết sử dụng t liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất: T liệu sản xuất
với t cách là khách thể của lực lợng sản xuất, và nó chỉ phát sinh tác dụng khi
nó đợc kết hợp với lao động sống của con ngời. Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VII đã khảng định: Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con ngời lên vị trí
hàng đầu, vị trí trung tâm thống nhất, tăng trởng kinh tế với cong bằng khoa
học và tiến bộ xã hội.
Ngời lao động với t cách là một bộ phận của lực lợng sản xuất xã hội
phải là ngời có thế lực, có tri thức văn hoá có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
cao có kinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất t cách lành mạnh, lơng tâm
nghề nghiệp và trách nhiệm cao với công việc, xa và nay, do cha chú trọng
đúng mức đến vị trí của ngời lao động, chúng ta không biết khai thác và phát
huy hết mọi sức mạnh của nhân tố con ngời đành rằng năng lực và kinh
nghiệm sản xuất mà con ngời phụ thuộc vào những t liệu sản xuất hiện có mà
họ đang sử dụng. Nhng họ tích cực sáng tạo, chủ động củ họ bao giờ cũng là
động lực trực tiếp thúc đẩy tốc độ quy mô, hiệu quả và chất lợng của nền sản
xuất. Thiếu nó sản xuất sẽ mất đi sinh khí.
Vậy phải thấy đợc con ngời là sản phẩm phát triển của công cụ sản xuất
thích ứng, phải gắn với trình độ văn hoá khoa học, kỹ thuật, thể chất năng lực
và trí tuệ.
Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển cùng với các cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra bớc nhảy vọt lớn trong lực lợng sản
xuất khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, công cụ thành tựu khoa
học ngày càng đợc ứng dụng rộng rãi vào trong sản xuất. Do đó cơ cấu lao
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
4
Tiểu luận triết học
động sẽ thay đổi theo xu hớng có quy luật là tỷ trọng của lao động trí tuệ - lao
động phức tạp ngày càng tăng, càng chiếm u thế. Các yếu tố của lực lợng sản
xuất có quan hệ biện chứng với nhau phản ánh tính chất và trình độ khống chế
tự nhiên của con ngời. Trình độ khống chế tự nhiên càng cao, phản ánh sự phát
triển của lực lợng sản xuất ngày càng phát triển, lao động trí óc thay thế dần
lao động chân tay.
2. Phạm trù sở hữu và cơ cấu sở hữu trong giai đoạn trớc đây (trớc
1986)
a) Sở hữu là gì? quá trình phát triển của nó?
Theo quan niệm của Mác: Sở hữu đợc biểu hiện trong những hình thái
hiện thực của quan hệ sản xuất . Sở hữu là nội dung bên trong của chính thể
mang tính thống nhất. Tính hiện thực của sở hữu chỉ đợc nhận thức một cách
gián tiếp thông qua các quan hệ giữa các thành tố của quan hệ sản xuất chứ
không thể nhận thức một cách trực tiếp vì sở hữu là tổng hoà các quan hệ sản
xuất. Sở hữu đồng thời là sự chiếm hữu. Chiếm hữu bộc lộ qua hình thái giao
tiếp vật chất tơng ứng của một trình độpt của sản xuất mà cụ thể là sự phân
công lao động mang tính chất xã hội.
Nh vậy sở hữu là mối quan hệ con ngời - con ngời trong việc chiếm hữu
t liệu sản xuất cùng với các điều kiện sản xuất do đó sở hữu là một mặt của
quan hệ sản xuất. Sự hình thành và phát triển của sở hữu là một quá trình lịch
sử tự nhiên tuân theo quy luật sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội thì nội dung
và phạm vi của sở hữu ngày càng đợc mở rộng.
b. Cơ cấu sở hữu trong giai đoạn trớc đây (trớc 19/86).
Lịch sử loài ngời đã từng trải quan hai loại hình sở hữu cơ bản đối với t
liệu sản xuất đó là sở hữu t nhân và sở hữu xã hội.
Sở hữu xã hội là loại hình sở hữu mà trong đó những t liệu sản xuất chủ
yếu thuộc về mọi thành viên trong xã hội trên cơ sở đó họ có vị trí bình đẳng
trong tổ chức lao động xã hội và phân phối sản xuất. Mục đích sản xuất dới
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
5
Tiểu luận triết học
chế độ công hữu là để đảm bảo đời sống và vật chất con ngời lao động đợc
nâng cao.
Trớc đây nớc ta với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao
cấp. Nền kinh tế t sản, t liệu tự cung tự cấp do đó nó chỉ tồn tại 2 hình thức
sởhữu chính tơng ứng với thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể trong nền
kinh tế này con ngời không đợc tự do buôn bán, trao đổi hàng hoá do đó cha
xuất hiện sở hữu t nhân chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể
dới sự điều tiết giá cả cuả nhà nớc.
II. Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lợng
sản xuất và đa dạng hoá các hình thức sở hữu của
Việt Nam.
1. Mội số vấn đề về phát triển lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay.
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển của lực lợng
sản xuất một cách đúng hớng quyết định. xác định con đờng đi lên chủ nghĩa
xã hội không quagiai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa, trong đó có vấn đề phát
triển lực lợng sản xuất nh thế nào là nhiệm vụ quan trọng mang tính cấp bách ở
nớc ta. Nó không những ảnh hởng đối với việc định hớng sự phát triển của lực
lợng sản xuất mà còn tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trởng và hiệu quả kinh
tế - xã hội nớc nhà.
Con ngời có thể tác động đến quá trình phát triển của lực lợng sản xuất.
Sự tác động này thể hiện ở chỗ con ngời có thể đẩy nhanh hay kìm hãm sự phát
triển của lực lợng sản xuất thông qua nhng hoạt động phù hợp hay không phù
hợp với những quy luật vận động của nội tại lực lợng sản xuất với quy luật sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Mặc dù t liệu sản xuất, tiền vốn khoa học và kỹ thuật đều là những yếu tố cần
thiết để thực hiện sản xuất sang tất cả phải thông qua hoạt động của con ngời
mới đem lại những hiệu quả kinh tế, những giá trị mới. Những yếu tố cần thiết
để thực hiện sản xuất sang tất cả phải thông qua hoạt động của con ngời mới
đem lại những hiệu quả kinh tế, những giá trị mới. Những yếu tố trên sẽ tồn tại
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
6
Tiểu luận triết học
dới dạng tiềm năng và nó sẽ trở thành vô hiệu hoá khi nó không đợc đặt trong
mối quan hệ giữa t liệu lao động và ngời lao động, đối tợng lao động.
Trên đây là một số suy nghĩ về vấn đề phát triển lực lợng sản xuất ở nớc
ta hiện nay. Quá trình phát triển của lực lợng sản xuất tuân theo những quy
luật nội tại khách quan của nó. con ngời chỉ có thể tác động tự giác hoặc tự
phát thúc đẩy kìm hãm sự phát triển của nó tuỳ theo mức độ đúng đắn của
nhận thức và cơ sở khoa học của hành động tuyệt đối hoá các bớc phát triển
tuần tự coi sự phát triển của lực lợng sản xuất chỉ là sự thay đổi đơn giản về
số lợng quy mô sẽ dần dần dẫn đến tình trạng trì trệ. Ngợc lại tuyệt đối hoá
nhảy vọt dẫn đến phạm vi tiến trình lịch sử tự nhiên. Chủ động kết hợp quá
trình tuần tự và nhảy vọt để phát triển lực lợng sản xuất dựa trên các đặt
điểm cụ thể của đất nớc và thời đại là con đờng vững chắc nhất, hiệu quả nhất
và nhanh nhất.
2. Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt Nam.
a.Tất yếu khách quan của sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nớc
ta trong giai đoạn hiện nay.
Các hình thức sở hữu quy định các thành phần kinh tế tơng ứng.Thực
tiễn đã cho thấy, một nền kinh tế nhiều thành phần dơng nhiên phải bao gồm
nhiều hình thức sở hữu chứ không chỉ đơn thuần là 2 hình thức sở hữu nh trớc
đây.
Mác và lênin trong quá trình phân tích sự vận động của các nền kinh tế
đã từng tồn tại trong lịch sử đã chỉ ra rằng rất hiếm khi nenè kinh tế chỉ tồn tịa
một thành phần kinh tế duy nhất. Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ đấu
tranh giữa 2 thế lực cũ và mới, cái cũ đã bị tiêu diệt nhng cha bị tiêu diệt hẳn,
còn cái mới đang nảy sinh nhng còn rất non yếu. Do đó trong kinh tế bao gồm
những mảnh những biện pháp của CNTB cũng nh của trớc XHTB còn rơi rớt
lại và của cả CNXH. Những mảnh những bộ phận đó là các thành phần kinh tế
cùng tồn tại bên cạnh nhau trong thời kỳ quá độ hay trong nền kinh tế thị trờng
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
7
Tiểu luận triết học
b, Các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN ở nớc ta hiện nay.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay, vấn đề chế độ sở hữu và các hình thức
sở hữu luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận. Trong giai
đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN
mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm các hình thức sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu t bản t nhân và các hình thức sở hữu
hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này khái quát lại chỉ có 2 hình thức sở
hữu cơ bản là công hữu và t hữu còn các hình thức khác chỉ là hình thức trung
gian, quá độ hoặc hỗn hợp. ở đây, mỗi hình thức sở hữu lại có nhiều phơng
thức thể hiện và trình độ thể hiện khác nhau. chúng đợc hình thành trên cơ sở
có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
và năng lực quản lý.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mỗi hình thức sở hữu nói
trên có địa vị và vai trò riêng của chúng. Địa vị lịch sử của chúng phụ thuộc
vào sự phát triển của lực lợng sản xuất tiến trình phát triển của nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay dới ánh
sáng của thực tiễn và t duy mới cho phép chúng ta đi đến kết luận. Trong
CNXH cần phải tồn tại đa dạng hoá tất cả các loại hình sở hữu, bên cạnh
những hình thức truyền thống có nhiều sở hữu khác nhau. việc xây dựng nền
kiểm toán thị trờng không thể tách rời việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu
về t liệu sản xuất.
3. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất.
a. Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu lao
động và ngời lao động. Khi công cụ sản xuất đợc sử dụng bởi từng cá nhân
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
8
Tiểu luận triết học
riêng biệt để sản xuất ra một sản phẩm cho xã hội không cần đến lao động củ
nhiều ngời thì lực lợng sản xuất có tính cá thể. Công cụ sản xuất đợc nhiều ng-
ời sử dụng để sản xuất ra các vật phẩm thì lực lợng sản xuất mang tính chất xã
hội.
Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất càng cao thì chuyên môn hoá
và phân công lao động xã hội càng sâu trình độ phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá là hình thớc đo trình độ sản xuất.
b. Lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển biến đổi
của các hình thức sở hữu.
Để nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất và gimở rộng bớt lao
động nặng nhọc, con ngời không ngừng cải tiến hoàn thiện và chế tạo ra các
công cụ sản xuất mới. Đồng thời sự tiến bộ của công cụ tri thức khoa học, trình
độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng của ngời lao động ngày càng phát
triển. Yếu tố năng động này của lực lợng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất
phải thích ứng với nó. Lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành phát triển và
biến đổi của quan hệ sản xuất do đó nó quy định quá trình phát triển và biến
đổi của quan hệ sở hữu.
Sự lớn mạnh của các lực lợng sản xuất đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với
chế độ sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa lực lợng sản xuất càng phát triển bao
nhiêu thì các thành phần kinh tế càng trở nên đa dạng bấy nhiêu từ đó các hình
thức sở hữu cũng trở nên đa dạng. Bởi vì tính đa dạng của các hình thức sở hữu
chính là đặc trng cơ bản của nền sản xuất hàng hoá. Mà các hình thức sở hữu
đợc biểu hiện thông qua các quan hệ sản xuất. Từ đó lực lợng sản xuất lại
thông qua quan hệ sản xuất mà tác động đến sự hình thành phát triển và biến
đổi của quan hệ sở hữu nói chung, sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu nói
riêng .
c. Sự tác động trở lại của sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với
lực lợng sản xuất.
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
9
Tiểu luận triết học
Mặc dù sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu bị chi phối bởi lực lợng sản
xuất nhng với tính cách là hình thức, sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu nói
riêng hay quan hệ sở hữu nói chung cũng có tác động trở lại đối với lực lợng
sản xuất.
Việc sử dụng nhiều trình độ, nhiều hình thức kinh tế với nhiều cấp độ
khác nhau nhằm khai thác triệt để mọi năng lực sản xuất cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu xây dựng nớc ta thành nớc công nghiệp
có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Tóm lại quy luật về sự phù hợp cua quan hệ sản xuất noi chung, quan hệ
sở hữu nói riêng với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là
quy luật chung của sự phát triển xã hội dới tác động của quy luật này, xã hội là
sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến cao của phơng thức sản xuất. Song không
phải lúc loài ngời đã bỏ qua thực tiễn cho thấy rằng lực lợng sản xuất chỉ có
thể phát triển một khi có quan hệ sản xuất mới phù hợp với nó. Quan hệ sản
xuất lạc hậu hoặc tiên tiến một cách giả tạo sẽ kìm hãm sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất
4. Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lợng sản xuất với
đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
Trớc đây nói đến chủ nghĩa xã hội chúng ta thờng nói đến chế độ công
hữu về t liệu sản xuất giữa 2 hình thức toàn dân và tập thể, hơn nữa còn cho
rằng sở hữu tập thể chỉ là một bớc quá độ đi đến XHCN chỉ còn lại một hình
thức sở hữu duy nhất về t liệu sản xuất là sở hữu toàn dân. Song thực tế lịch sử
đã không thừa nhận điều đó.
ở nớc ta từ đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay đã hơn 10 năm thực
hiện đờng lối đổi mới chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN.
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
10
Tiểu luận triết học
Thành tựu đạt đợc trong 10 năm qua đã khảng định tính đúng đắn của đ-
ờng lối đó đến nay, không ai phủ nhận phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu,
phải sử dụng nền kiểm toán hàng hoá nhiều thành phần nhng có nhiều quan
điểm cho rằng chúng ta phải da dạng hoá các hình thức sở hữu phải sử dụng
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do có lực lợng sản xuất của chúng ta
còn thấp kém còn đan xen nhiều trình độ khác nhau.
Với quan điểm đó phải chăng đa dạng hoá các hình thức sở hữu chỉ là
lực lợng sản xuất còn thấp kém, còn khi lực lợng sản xuất phát triển cao thì lại
đi đến đơn nhất hoá. Rõ ràng xu hớng ngày càng đa dạng hoá các hình thức sở
hữu về t liệu sản xuất gắn liền với sự phát triển của lực lợng sản xuất của phân
công lao động trong xã hội là một xu hớng tất yếu là một quá trình lịch sử - tự
nhiên và là một quy luật phát triển của xã hội. Đó cũng chính là quá trình xã
hội hoá sản xuất cả về lực lợng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất. Đó cũng chính
là một quá trình xã hội hoá về các mặt lực lợng x thành quá trình phân công
lao động xã hội ngày càng sâu sắc trong mỗi nớc cũng nh trên lĩnh vực quốc tế
và khu vực, còn xã hội hoá về quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu) chính là quá
trình ngày càng đa dạng hoá các hình thức sở hữu làm cho sở hữu có nhiều cấp
độ khác nhau, quan hệ với nhau, bổ xung cho nhau. Điều này khác với quan
điểm trớc đây đã đồng nhất xã hội hoá về sở hữu t liệu sản xuất với công hữu
hoá.
Nguyễn An Trung - MSV 01A2639
11

Xem chi tiết: Lực lượng sản xuất


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét