cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nớc, là môi trờng kinh doanh và là nơi Nhà
nớc tác động vào quá trình kinh doanh của cơ sở.
4. Chức năng thị tr ờng và các qui luật kinh tế thị tr ờng.
Chức năng của thị trờng là những tác động khách quan vốn có bắt nguồn từ
bản chất của thị trờng tới quá trình sản xuất và đời sống kinh tế xã hội. Thị trờng
có 4 chức năng chính: Chức năng thừa nhận, chức năng thực hiện, chức năng điều
kiết kích thích và chức năng thông tin.
Sự hoạt động của kinh tế thị trờng phải tuân theo 3 qui luật sau:
Qui luật giá trị: đây là qui luật cơ bản của sản xuất và lu thông hàng hoá.
Qui luật cung - cầu: Theo qui luật này giá cả của hàng hoá phụ thuộc vào
mối quan hệ cung - cầu về sản phẩm đó trên thị trờng.
Qui luật cạnh tranh: Đây là qui luật tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị tr-
ờng.
ii. Bản chất của hoạt động tiêu thụ.
1. Thị trờng tiêu thụ sản phẩm may mặc.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và xã hội may mặc ngoài chức
năng che đậy và bảo vệ, sản phẩm còn có chức năng quan trọng làm đẹp, xuất
phát từ chức năng nh vậy nên sản phẩm may mặc có cơ cấu tính chất thẩm mỹ
cũng nh tính chất tiêu dùng hết sức phong phú và đa dạng, ngày càng hoàn thiện
phù hợp với trình độ ngời tiêu dùng hết sức phong phú và đa dạng.
Hàng may mặc chủ yếu là hàng may sẵn và một phần may đo, hàng
may sẵn có những nét khá riêng biệt khác với hàng may đo, nên thị trờng của mặt
hàng này có những nét khá đạc biệt, khác với thị trờng khác, đó là thị trờng mà
trong đó khách hàng cha cụ thể mà chỉ có phân loại một cách sơ lợc nhất (mang
tính chất chung nhiều hơn).
Từ những đặc điểm của hàng may mặc cho thị trờng tiêu dùng mặt
hàng này có những cách phân loại riêng, dựa trên các tiêu thức riêng chẳng hạn
nh:
Ngày nay quan hệ mua bán giữa các quốc gia ngày càng phát triển
và mở rộng hình thành nên thị trờng trong nớc và thị trờng ngoài nớc.
5
Nhu cầu tiêu dùng may mặc ở nông thôn cũng sẽ khác với thành
phố dựa vào mặt địa lý có thể phân thành thị trờng thành thị và thị trờng nông
thôn.
Nếu dựa vào mức thu nhập dân c sẽ hình thành thị trờng có mức thu
nhập cao, thị trờng có mức thu nhập trung bình và thị trờng có mức thu nhập thấp.
Nếu phân theo lứa tuổi thì nhóm thị trờng dành cho ngời cao tuối,
trung niên hoặc ít tuổi.
Nếu dựa vào tiêu thức nghề nghiệp, mỗi ngành nghề sẽ có một nhu
cầu ăn mặt khác nhau, tính chất công việc hình thành nên cách ăn mặc cho mỗi
ngời.
Nếu dựa vào tiêu thức mùa vụ: thị trờng mùa đông và thị trờng mùa
hè nh vậy, các tiêu thức phân loại thị trờng hàng may mặc rất phong phú và đa
dạng. Về mặt lý thuyết có thể lựa chọn bất kỳ một đặc tính nào của công chúng
để phân loại thị trờng.
2. Mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm may mặc.
2.1. Quan niệm.
Mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm là việc Công ty tìm cách tăng
mức tiêu thụ sản phẩm bằng cách đa shitaka những sản phẩm hiện có của mình
vào những thị trờng mới và tìm cách thu hút khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
Mở rộng thị trờng gồm: Mở rộng thị trờng theo chiều rộng và mở
rộng thị trờng theo chiều sâu:
2.2. Nội dung
a. Mở rộng thị trờng theo chiều rộng.
Mỗi một ngành hàng luôn luôn mong muốn tìm đợc những thị tr-
ờng mới để cho khối lợng tiêu thụ hàng hóa tiêu thụ ngày càng cao, để doanh số
bán hàng ngày càng cao, mở rộng thị trờng theo chiều rộng đợc hiểu là mở rộng
quy mô thị trờng ở đây ta có thể phát triển thị trờng theo vùng địa lý, tính thời
vụ, theo đối tợng ngời tiêu dùng.
* Mở rộng thị trờng theo vùng địa lý:
6
Mở rộng thị trờng theo vùng địa lý tức là mở rộng thị trờng theo
khu vực địa lý hành chính. Việc mở rộng theo vùng đại lý làm cho số lợng ngời
tiêu thụ tăng lên, hàng hóa đợc bán nhiều hơn, tuỳ theo khả năng phát triển tới
đâu mà ngành hàng có chiến lợc phát triển của mình, hiện nay ngành hàng có thể
đa sản phẩm sang các thị trờng khác trong nớc và hớng phát triển thị trờng của
ngành hàng không những ở trong nớc mà còn mở rộng sang các nớc trong khu
vực và trên thế giới. Tuy nhiên để có thể mở rộng thị trờng theo từng vùng thì mặt
hàng này cần có sự cải tiến về chất lợng, hình thức về mẫu mà phải phù hợp với
thị hiếu và khả năng thanh toán ngời tiêu dùng. Có nh vậy khả năng chấp nhận nó
của thị trờng mới sẽ cao khi đó mới tăng đợc khối lợng hàng hóa bán ra công tác
phát triển thị trờng mới thu đợc kết quả. Song không thể dễ dàng mang hàng hóa
của mình đến một nơi khác bán là thành công mà trớc khi quyết định mởi rộng thị
trờng phải nghiên cứu thị trờng, xem xét thị hiếu ngời tiêu dùng, điều kiện thu
nhập sự phân bố dân c, phong tục tập quán, đối thủ cạnh tranh (những mặt hàng
thay thế) và đánh giá đúng khả năng cạnh tranh trên thị trờng mới. Do đó để có
thể mở rộng thị trờng theo vùng địa lý đạt hiệu quả cao đòi hỏi pr có một khoảng
thời gian nhất định để hàng hóa có thể tiếp cận đợc với ngời tiêu dùng và thích
ứng với từng khu vực thị trờng và ngành hàng phải tổ chức đợc mạng lới tiêu thụ
tối u nhất.
* Mở rộng thị trờng tính đến thời vụ của sản phẩm.
Khi một sản phẩm ra ta phải tính đến chu kỳ sống của sản phẩm,
trong chu kì sống đó nó phụ thuộc vào tính thời vụ của sản phẩm vì quá trình tồn
tại sản phẩm nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, mà từng khu vực một có một
điều kiện tự nhiên khác nhau tạo ra tính thời vụ nó chia làm bốn mùa (xuân, hạ,
thu, đông). Cho nên khi mở rộng thị trờng phải đặc biệt chú ý đến.
* Mở rộng thị trờng theo đối tợng ngời tiêu dung.
Cùng với việc phát triển thị trờng theo vùng địa lý, chúng ta có thể
mở rộng thị trờng bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm khách hàng của
đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng mặt hàng của ngành hàng mình. Nếu trớc
đây mặt hàng này chỉ nhằm vào một đối tợng nhất định trên thị trờng thì nay thu
hút thêm nhiều đối tợng khác. Một số hàng hoá đứng dới góc độ ngời tiêu dùng
xem xét thì nó đòi hỏi phải đáp ứng nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau. Do đó có
7
thể nhằm vào những nhóm ngời tiêu dùng khác nhau hoặc ít quan tâm tới hàng
hóa của ngành hàng một cách dễ dàng. Nhóm ngời này có thể đợc xếp vào khu
vực thị trờng còn bỏ trống mà ngành hàng có thể khai thác. Có thể cùng một loại
hàng hóa, đối với nhóm khách hàng có khả năng thờng xuyên thì nhìn nhận dới
một công dụng khác nhng khi hớng vào một nhóm khách hàng thì ngành hàng
phải hớng ngời sử dụng vào một công dụng khác, mặc dù đó là hàng hóa duy
nhất.
- Tóm lại: Mở rộng thị trờng theo chiều rộng nhằm vào nhóm ngời
mới là một trong những cách phát triển thị trờng sống, nó đòi hỏi công tác nghiên
cứu thị trờng mới phải chặt chẽ, cẩn thận tỷ mỷ bởi vì thị trờng hàng hóa đầy biến
động và tiêu dùng ngày càng cao. Vì vậy tăng số lợng ngời tiêu dùng hàng hóa
nhằm vào tăng số bán và doanh thu nhiều lợi nhuận là nội dung quan trọng của
công tác mở rộng thị trờng theo chiều rộng.
b. Mở rộng thị trờng theo chiều sâu.
Mỗi một ngành hàng cũng có thể đặt câu hỏi liệu với nhãn hiệu
hiện tại của ngời mình với uy tín sẵn có hàng hóa thì có thể tăng khối lợng hàng
hóa bán cho nhóm khách hàng hiện có mà không phải thay đổi gì cho hàng hóa.
Hay nói cách khác ngành vẫn tiếp tục kinh doanh những sản phẩm quen thuộc
trên thị trờng hiện tại nhng tìm cách đẩy mạnh khối lợng hàng hóa tiêu thụ lên.
Trong những trờng hợp này ngành hàng có thể sử dụng nhiều cách khác nhau nh
hạ thấp giá hàng hóa để thu hút nhiều ngời mua hơn nữa hoặc quảng cáo mạnh
hơn để mục đích cuối cùng là không mất đi khách hàng hiện có của mình và tập
trung tự sang sử dụng duy nhất một mặt hàng của ngành hàng. Mỗi ngành hàng
ngày nay càng tăng cờng công tác Marketing, nâng cao chất lợng dịch vụ khách
hàng để không ngừng thu hút khách hàng và nâng cao uy tín của ngành hàng trên
thị trờng.
* Xâm nhập sâu hơn vào thị trờng:
Đây là hình thức mở rộng và phát triển thị trờng theo chiều sâu trên
cơ sở khai thác tốt hơn những hàng hóa hiện tại trên thị trờng hiện tai. Để tăng đ-
ợc doanh số bán trên thị trờng này ngành hàng nói chung và mặt hàng may mặc
nói riêng phải thu hút đợc khách hàng hiện tại. Với thị trờng này khách hàng đã
quen với hàng hóa của ngành hàng vì vậy để thu hút họn ngành hàng có thể sử
8
dụng chiến lợc giảm giá thích hợp, tiến hành quảng cáo, xúc tiến, khuyến mại,
nâng cao chất lợng dịch vụ khách hàng để không mất đi một khách hàng nào và
tập trung những khách hàng đồng thời sử dụng nhiều hàng hóa tơng tự sang sử
dụng duy nhất hàng hóa của ngành hàng. Việc xâm nhập sâu hơn vào thị trờng
hàng hóa hiện tại là một cố gắng lớn của ngành hàng. Mặc dù ngành hàng có
thuận lợi với sản phẩm của ngành. Do vậy để gây đợc chú ý tập trung của ngời
tiêu dùng ngành hàng phải chi phí thêm một khoản tài chính nhất định. Tuỳ thuộc
vào quy mô thị trờng hiện tại mà ngành hàng lựu chọn chiến lợc xâm nhập sâu
hơn vào thị trờng. Nếu quy mô của thị trờng hiện tại qúa nhỏ bé thì việc xâm
nhập sâu hơn vào thị trờng có thể thực ngay cả tại những thị trờng mới song điều
quan trọng là những chi phí bỏ ra để thực hiện có đợc bồi đắp bởi lợi nhuận thu đ-
ợc khi khai thác các khách hàng mới.
* Đa dạng hóa sản phẩm:
Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu của con ngời ngày
càng tăng, chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trờng ngày càng ngắn, do vậy sản
phẩm ngày càng đòi hỏi phải đợc đổi mới theo chiều hớng phù hợp với ngời tiêu
dùng. Quy luật dụng ích trên cơ chế thị trờng chỉ ra rằng mục tiêu cuối cùng của
ngời tiêu dùng đang ở dụng ích tối đa họ phải trả bất cứ giá nào, tránh bán hàng ở
dụng ích tối thiểu vì ngời tiêu dùng sẽ dửng dung với hàng hóa. Do vậy tuỳ thuộc
vào đặc điểm của sản phẩm mà ngành hàng nghiên cứu dụng ích tối đa và sử
dụng lợi tối thiểu của các hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh từ đó không
ngừng cải tiến hàng hóa để thay đổi độ dụng ích của ngời tiêu dùng.
* Phân đoạn, lựu chọn thị trờng mục tiêu:
Các nhóm ngời tiêu dùng có thể hình thành theo các đặc điểm khác
nhau nh tâm lý, trình độ, tuổi tác, giới tính, sở thích quá trình phân chia ng ời
tiêu dùng thành các nhóm trên cơ sở các đặc điểm khác biệt gọi là phân đoạn thị
trờng. Mỗi đoạn thị trờng khác nhau quan tâm tới đặc tính khác nhau của sản
phẩm. Do vậy mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành hàng đều tập trung mọi nỗ lực của
chính mình vào việc thoả mãn tốt nhu cầu đặc thù của mỗi đoạn thị trờng nào để
tăng doanh số bán và thu nhiều lợi nhuận, công tác phân đoạn thị trờng giúp cho
ngành hàng tìm đợc thị phần hấp dẫn nhất, tìm ra thị trờng trọng điểm để tiến
hành khai thác.
9
* Phát triển kênh phân phối:
Là việc ngành hàng khống chế kênh tiêu thụ hàng hóa đến tận tay
ngời tiêu dùng cuối cùng. Mở rộng thị trờng tiêu thụ bằng cách khống chế kênh
tiêu thụ có nghĩa là ngành hàng tổ chức mạng lới tiêu thụ, kênh phân phối hàng
hóa đầy đủ hoàn hảo cho đến tận tay ngời tiêu dùng cuối cùng. Thông qua hệ
thống kênh phân phối và đờng dây tiêu thụ sản phẩm đợc quản lý chặt chẽ, thị tr-
ờng sản phẩm sẽ có khả năng phát triển và đảm bảo cho ngời tiêu dùng sẽ nhận đ-
ợc những mặt hàng mới với mức giá tối u do ngành hàng đặt ra mà không phải
chịu bất cứ một khoản chi phí nào khác. việc mở rộng thị trờng đồng nghĩa với
việc tổ chức mạng lới tiêu thụ và kênh phân phối hàng hóa hoàn hảo của ngành
hàng, hệ thống tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng bao nhiêu thì khả năng mở
rộng thị trờng càng lớn bấy nhiêu. việc phát triển và quản lý các kênh phân phối
đến tận tay ngời tiêu dùng cuối cùng, cùng với việc tổ chức các dịch vụ tiêu thụ
đầy đủ và hoàn hảo sẽ không ngừng góp phần làm cho lợi ích cho chính ngành
hàng mà còn bảo vệ lợi ích của ngời tiêu dùng, của xã hội.
* Phát triển ngợc:
Đó là ngành hàng mở rộng thị trờng hàng hóa bằng cách cùng lúc
vừa khống chế đờng dây tiêu thụ vừa đảm bảo nguồn cung cấp ổn định, đây là
một mô hình phát triển lý tởng song chỉ dễ dàng thực hiện đối với ngành hàng tự
tìm cho mình một cách phát triển thị trờng phù hợp nhất và mang lại hiệu quả
cao nhất.
3. Sự cần thiết của mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trờng mở rộng thị trờng rất cần thiết đến một
doanh nghiệp nó quyết định đến quá trình tái sản xuất sản phẩm đảm bảo lợi
nhuận và tăng trởng của Công ty bởi sản xuất tăng trởng. Nếu sản xuất ra không
có thị trờng tiêu thụ sản phẩm thì quá trình tái sản xuất khó có thể thực hiện đợc
thậm chí việc thu hồi vốn cũng không thể tiến hành đợc. Do vậy chẳng những sản
xuất trong chu kỳ sau không tăng mà đến việc tái sản xuất không thể duy trì đợc
vấn đề sống còn của doanh nghiệp là nắm chắc thị trờng, chiếm lĩnh thị phần
ngày càng lớn trong tiêu thụ sản phẩm là vấn đề quan trọng. Do đó việc mở rộng
thị trờng tiêu thụ rất cần thiết đến sự phát triển của doanh nghiệp.
10
Mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần tăng lợi nhuận mà lợi nhuận
bao giờ cũng là mục tiêu quan trọng của kinh doanh. Lợi nhuận sẽ thu đợc càng
lớn nếu nh mục tiêu của sản xuất sản phẩm đi đúng hớng, đáp ứng nhu cầu thị tr-
ờng, khả năng thanh toán dứt điểm, ít có hàng tồn kho và đợc các bạn hàng, các
đại lý trong kênh tiêu thụ ủng hộ, góp sức. Nh vậy việc mở rộng thị trờng tiêu thụ
sản phẩm giúp cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu cơ bản của sản xuất kinh
doanh mục tiêu lợi nhuận.
Mở rộng thị trờng tiêu thụ trong cơ chế thị trờng còn là sự tự khẳng
định về uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng khi mà trên thị trờng đang có sự có
sự cạnh tranh gay gắt.
thị trờng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp càng đợc mở rộng thì
khả năng quay vòng vốn, khả năng tích luỹ khả năng mở rộng sản xuất kinh
doanh, khả năng mở rộng quy mô, gia tăng các chủng loại mặt hàng mới duy trì
thị trờng càng lớn, đảm bảo tính liên tục của sản xuất kinh doanh điều đó có
nghĩa là sự an toàn trong kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.
Mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm còn có tác động tích cực đến
quá trình tổ chức sx áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, nâng
cao chất lợng và hạ giá thành sản phẩm. Dựa vào phân tích đánh giá kết quả tiêu
thụ mà doanh nghiệp đề ra đợc những phơng hớng cách thức tổ chức sản xuất
mới, áp dụng khoa học kỹ thuật để đap ứng nhu cầu thờng xuyên biến đổi. Trong
cơ chế thị trờng, mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm không phải đơn thuàn là
việc đem bán các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra mà phải bán những gì xã
hội cần với giá cả thị trờng. Muốn vậy, doanh nghiệp phải luôn đảm bảo chất l-
ợng sản phẩm, chủng loại phong phú đa dạng, giá cả hợp lý. Từ đó doanh nghiệp
phải nghiên cứu nhu cầu thị trờng, cải tiến công nghệ sản xuất, tăng cờng đầu t
chiều sâu, áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Thực hiện tiết kiệm
trong các khâu để hạ giá thành sản phẩm.
Thông qua mở rộng thị trờng tiêu thụ, doanh nghiệp thu lợi nhuận
là nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, tăng khả năng tận dụng các cơ hội hấp dẫn
trên thị trờng và cũng là nguồn hình thành các quỹ của doanh nghiệp dùng để
kích thích lợi ích cán bộ công nhân viên để họ quan tâm gắn bó với hoạt động của
doanh nghiệp.
11
4 Các nhân tố ảnh h ởng tới công tác tiêu thụ sản phẩm.
Nhân tố khách quan:
+ Nhân tố thuộc vào tầm vĩ mô:
Đó là chủ trơng chính sách, biện pháp của Nhà nớc can thiệp vào thị trờng,
tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia và của từng thời kỳ mà Nhà nớc có sự
can thiệp khác nhau. Song các biện pháp chủ yếu và phổ biến đợc sử dụng là:
Thuế, quỹ bình ổn giá, trợ giá, lãi suất tín dụng. . . và những nhân tố tại môi trờng
kinh doanh nh cung cấp cơ sở hạ tầng bao gồm: Cơ sở hạ tầng về xã hội. Tất cả
đều tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu vào môi trờng kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Nhân tố thuộc về thị trờng, khách hàng:
Thị trờng: là nơi doanh nghiệp thực hiện việc tìm kiếm các yếu tố đầu vào
và đầu ra cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Bất cứ một sự biến động
nào của thị trờng cũng ảnh hởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mà trực tiếp nhất là tới công tác tiêu thụ sản phẩm. Quy mô của thị trờng
cũng ảnh hởng tới công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp theo tỷ lệ thuận,
tức là thị trờng càng lớn thì khả năng tiêu thụ sản phẩm và khả năng thu lợi nhuận
càng cao. Tuy nhiên, thị trờng lớn thì sức ép của thị trờng và đối thủ cạnh tranh
cũng lớn theo, yêu cầu chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp cũng sẽ cao hơn.
+ Khách hàng:
Tác động đến công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thông qua khả
năng mua hàng, khả năng thanh toán, cơ cấu chi tiêu của khách hàng.
+ Nhân tố về chính trị xã hội:
Nhân tố về chính trị xã hội thờng thể hiện qua chính sách tiêu dùng, quan hệ
ngoại giao, tình hình đất nớc, phát triển dân số, trình độ văn hoá, tập quán sinh
hoạt, lối sống. . . các nhân tố này biểu hiện nhu cầu của ngời tiêu dùng.
+ Nhân tố về địa lý, thời tiết khí hậu: Các tác động trực tiếp đến nhu cầu
tiêu dùng của các tầng lớp dân c và do vậy nó tác động đến chủng loại, cơ cấu
hàng hoá trên thị trờng.
+ Môi trờng công nghệ: Môi trờng công nghệ chính là sự đòi hỏi về chất l-
ợng hàng hoá, mẫu mã, hình thức chủng loại sản phẩm giá cả. Tính chất của môi
12
trờng công nghệ cũng liên quan đến vật liệu để tạo sản phẩm, đầu t kỹ thuật. . .
và qua đó giá cả đợc thiết lập. Mỗi chủng loại hàng hoá muốn tiêu thụ đợc phải
phù hợp với môi trờng công nghệ nơi đợc đa đến tiêu thụ.
Nhân tố chủ quan:
Đó là nhân tố thuộc về bản chất doanh nghiệp bao gồm:
+ Nhân tố về chất lợng sản phẩm:
Khi trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và mức sống của con ngời đợc
nâng cao, ngời tiêu dùng sẽ có nhiều yêu cầu mới về hàng hoá, họ đòi hỏi hàng
hoá phải có chất lợng tốt, an toàn cho sức khoẻ. Do đó doanh nghiệp muốn tiêu
thụ đợc nhiều sản phẩm thì phải quan tâm đến chất lợng hàng hoá sản xuất, ra,
làm sao cho sản phẩm phải có mức chất lợng đáp ứng đợc yêu cầu trung bình mà
xã hội đặt ra hoặc cao hơn.
+ Nhân tố giá:
Giá cả là một yếu tố cơ bản, nó đóng vai trò quyết định trong việc khách
hàng lựa chon sản phẩm nào của doanh nghiệp. Nếu nh giá cả của doanh nghiếp
không hợp ký phải căn cứ vào giá thành sản xuất và giá cả của các sản phẩm cùng
loại trên thị trờng để xác định lại giá cho phù hợp.
+ Nhân tố về thời gian:
Thời gian là yếu tố quyết định trong kinh doanh hiện đại ngày nay. Do vậy,
nhân tố thời gian vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp khi tiêu thụ sản
phẩm, đó là thời cơ để doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trờng. Những sản phẩm sản
xuất ra không đúng với thời điểm tiêu dùng thì sản phẩm sẽ bị triệt tiêu ngay trớc
khi mang ra thị trờng.
13
Ch ơng II
Phân tích thực trạng thị tr ờng tiêu thụ sản phẩm của
Công ty may chiến thắng từ năm 2001 đến năm 2004
i. Giới thiệu chung về công ty may chiến thắng.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty May Chiến Thắng.
Ra đời trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc (2/3/1968),
Xí nghiệp May Chiến Thắng trớc kia và nay là Công ty May Chiến Thắng thuộc
Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (VINATEX) tính đến nay đã tròn 37 tuổi.
Ngày 2 tháng 3 năm 1968, trên cơ sở máy móc, thiết bị và nhân lực của
trạm may Lê Trực ( thuộc Công ty gia công dệt kim vải sợi cấp I Hà Nội ) và x-
ởng may Cấp I Hà Tây, Bộ Nội Thơng quyết định thành lập Xí nghiệp May
Chiến Thắng có trụ sở tại số 8B Phố Lê Trực, quận Ba Đình Hà Nội và giao cho
Cục vải sợi may mặc quản lý. Xí nghiệp có nhiệm vụ tổ chức sản xuất các loại
quần áo, mũ vải, găng tay, áo dạ, áo dệt kim theo chỉ tiêu kế hoạch của Cục vải
sợi cho các lực lợng vũ trang và trẻ em. Cơ sở I của Xí nghiệp rộng trên 3000m
2
với các dẫy nhà cấp 4 đợc dọn dẹp, tu bổ đủ chỗ để lắp 250 máy may. Hầu hết
nhà xởng ở đây đều cũ và dột nát. Thiết bị của Xí nghiệp lúc đó, một phần do cơ
sở cũ để lại, một phần đợc bổ sung từ Xí nghiệp May 10 sang, bao gồm các máy
may đạp chân cùng một số máy thùa, đính do Liên Xô chế tạo, còn các dụng cụ
cắt vẫn ở dạng thủ công. Mặc dù trong điều kiện khó khăn trăm bề nhng những
sản phẩm đầu tiên của Xí nghiệp May Chiến Thắng để phục vụ bộ đội và trẻ em
đã đợc đa ra xuất xởng, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp kháng chiến của
dân tộc.
Đầu năm 1969, May Chiến Thắng đợc bổ sung cơ sở II ở Đức Giang Gia
Lâm. Tháng 5 năm 1971 Xí nghiệp May Chiến Thắng chính thức đợc chuyển
giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý với nhiệm vụ mới là chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu chủ yếu là các loại quần áo bảo hộ lao động. Ngày 16 tháng 4 năm
1972 Mỹ ném bom vào khu vực Đức Giang Gia Lâm. Cơ sở II của Xí nghiệp phải
sơ tán về xã Đông Trù huyện Đông Anh nên sản xuất gặp rất nhiều khó khăn nh-
ng xí nghiệp vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét