Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng.Ngân hàng Thương mại đã trở thành bộ
phận thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Thương mại hoạt động
một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một
công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng hoạt động tín dụng Ngân hàng
Thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông . Tiền tệ là
kết của quá trình phát sinh lâu dài của sản xuất hàng hoá. Nó ra đời nhằm đáp ứng yêu
cầu của việc mở rộng giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường làm cho kinh tế hàng hoá
phát triển của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong quá trình đó đã phát triển
yêu cầu vay mượn vốn lẫn nhau giữa các thương gia nhằm đáp ứng cho sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Vốn được chuyển từ người thừa vốn sang người thiếu vốn và phải có
một Ngân hàng đứng ra làm trung gian để cho người thừa vốn và người thiếu vốn gặp
nhau. Hoạt động tín dụng là chiếc“cầu nối” đưa họ đến với nhau, dần dần thiết lập nên
mối quan hệ mật thiết với nhau đó là quan hệ vay mượn. Ngân hàng Thương mại là một
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ hoạt động trên cơ sở “đi vay” để “cho vay”. Đây là
hình thức sơ khai của tín dụng. Chính trên cơ sở của sự phát triển đó Ngân hàng cũng
đồng thời xuất hiện, trong cuốn Tư Bản (Tập III, phần II) Các Mác đã viết “Một mặt
Ngân hàng là sự tập trung tư bản tiền tệ của những người có tiền cho vay, mặt khách nó
là sự tập trung của những người đi vay”.
Như vậy, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng từ buổi sơ khai bắt đầu từ hoạt
động tín dụng và cho đến nay vẫn bằng con đường đó.
Trong qúa trình hoạt động của Ngân hàng Thương mại đáp ứng nhu cầu của thị trường
dẫn tới sự phân chia và hình thành nên hệ thống Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Trung
ương làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô hoạt động Ngân hàng và các Ngân hàng Thương mại
làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ - tín dụng. Như vậy hoạt động của Ngân hàng Thương
mại rất đa dạng phong phú và có phạm vi rộng lớn ở quy mô, tính toàn cầu, tính hiện đại
trong công nghệ Ngân hàng.
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
1.1.1. Tổng quan những nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Thương mại.
Nghiệp vụ Ngân hàng nói chung bao gồm tất cả những việc Ngân hàng thường
làm trong khuôn khổ nghề nghiệp của họ. Các nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại có
quan hệ chặt chẽ hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động, tạo thành một chỉnh thể
thống nhất.
Các nghiệp vụ cơ bản, chủ yếu của Ngân hàng Thương mại bao gồm:
- Nghiệp vụ huy động vốn.
- Nghiệp vụ sử dụng vốn.
- Một số nghiệp vụ khác.
1.1.1.1. Nghiệp vụ huy động vốn
Đây là nghiệp vụ chủ yếu để tạo nên nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng, Ngân hàng
có thể huy động vốn bằng một trong hai cách sau:
Nhận tiền gửi: Đây là nghiệp vụ mang tính truyền thống, nghiệp vụ nhận tiền gửi
một cách thụ động, nó phụ thuộc vào ý muốn của người có tiền gửi vào Ngân hàng.
- Phát hành các phiếu nợ: Có thể ngắn hạn và có thể là dài hạn, đây là hình thức
huy động vốn chủ động tức là Ngân hàng có kế hoạch ấn định được thời gian và số
lượng cần phát hành. Để thực hiện được nghiệp vụ này, Ngân hàng sử dụng công cụ
chính lãi suất.
Vốn kinh doanh của Ngân hàng Thương mại chủ yếu là vốn đi vay và vốn tự có,
vốn tự có chỉ có thể chiếm một phần nhỏ trong tổng số vốn tín dụng.
Vốn đi vay của Ngân hàng Thương mai bao gồm: Tiền vay trên thị trường, tiền
gửi, tiền vay trên thị trường tiền tệ, tiền vay trên thị trường trái phiếu, tiền vay chiết
khấu của Ngân hàng Trung ương tất cả gộp lại thành nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng
Thương mại.
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
Trong quá trình sử dụng các nguồn vốn tiền gửi và vay trên thị trường, công nghệ Ngân
hàng đã tạo ra một nguồn vốn mới gọi là tự tạo để có thêm bổ sung cho nhu cầu tín
dụng và đầu tư cho các ngành kinh tế, cung ứng thêm phương tiện thanh toán cho các
doanh nghiệp, việc tổ chức kinh tế để mở rộng sản xuất kinh doanh trong cả nước.
1.1.1.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Thương mại, nó thể hiện ở nhiều Ngân hàng,
dư nợ chiếm trên 70% tổng tài sản có. Đây là nghiệp vụ sinh lời cao nhất mang lại
nguồn thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng. Song đây cũng là nghiệp vụ mang lại rủi ro
nhiều nhất cho Ngân hàng.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận còn
tính thanh khoản của các hợp đồng cho vay chỉ ở vào vị trí thứ yếu vì Ngân hàng không
thể đòi nợ trước hạn nếu quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với khách hàng vẫn diễn ra
bình thường.
Ngoài ra Ngân hàng còn đầu tư vào mua công trái, trái phiếu, tín phiếu kho bạc
giấy tờ có giá do Kho bạc Nhà nước đại diện cho Chính phủ phát hành và các giấy tờ có
giá có khả năng thanh toán cao và trách nhiệm cao của các Công ty lớn.
Bất cứ chứng khoán nào cũng có thể đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng nếu Ngân
hàng chủ yếu quan tâm đến việc nâng cao thanh khoản thì đầu tư vào các tín phiếu do
Kho bạc phát hành.
Mặt khác Ngân hàng đầu tư vào các chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận và
phân tán rủi ro.
1.1.1.3. Một số nghiệp vụ khác
Ngân hàng thực hiện kinh doanh và làm dịch vụ hưởng hoa hồng theo sự uỷ thác của
khách hàng, các nghiệp vụ này bao gồm:
- Nghiệp vụ thu hộ, chi hộ.
- Nghiệp vụ uỷ thác.
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
- Mua hộ bán hộ.
- Môi giới và kinh doanh chứng khoán.
Hoạt động của Ngân hàng Thương mại tập trung chủ yếu vào nhận tiền gửi và
cho vay. Đó là hai mặt hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu
tạm thời thiếu hụt về vốn của các doanh nghiệp,các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân trong
quá trình sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng hàng ngày.
Xét trên góc độ khác, khi hoạt động tín dụng ngày càng được mở rộng và phát
triển một cách đa dạng , phong phú, với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, quan hệ
tín dụng hàng ngày càng mở rộng về đối tượng và quy mô thì hoạt động của tín dụng
của Ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Để các Ngân hàng Thương mại có tồn tại và phát triển đứng vững trong điều
kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường và để phục vụ nền kinh tế ngày một tốt hơn, đòi
hỏi các Ngân hàng phải thực hiện có hiệu quả các hoạt động tín dụng hay nói cách khác
là phải nâng cao chất lượng tín dụng.
1.1.2. Vai trò của Ngân hàng Thương mại
- Ngân hàng thương mại giúp doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Góp phần phân bố hợp lý nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện
phát triển kinh tế.
- Ngân hàng Thương mại tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
- Ngân hàng Thương mại là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các
quốc gia.
1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
1.2.1. Khái niệm
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị ( dươí hình thái
tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất
định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với chủ thể
kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò là người đi vay để cho vay.
1.2.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng ra đời xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong nền kinh tế
luôn làm phát sinh hiện tượng có những chủ thể tạm thời thừa vốn và những chủ thể tạm
thời thiếu vốn.Tín dụng ngân hàng đã giải quyết được mâu thuẫn giữa cung cầu về vốn,
là sự cần thiết khách quan phù hợp với sự vận động tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.
Tín dụng ngân hàng ngày càng giữ vi trí quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất và lưu
thông hàng hoá cũng như lưu thông tiền tệ.
Trước hết tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng
góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường .Tín dụng là
hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM, để thực hiện kinh doanh tín dụng ngân
hàng cần có vốn bằng cách “ đi vay để cho vay ”. Trong xã hội luôn có một số người
thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn cần đi vay, song những người này khó
có thể trực tiếp gặp nhau để cho nhau vay hoặc có thể gặp nhau nhưng chi phí rất cao
và không kịp thời nên tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và người cần
vốn, giải quyết thoả đáng các nhu cầu trong mối quan hệ này. Tín dụng ngân hàng làm
trung gian để điều tiết nguồn vốn từ bộ phận nhàn rỗi đến bộ phận thiếu vốn một cách
linh hoạt, giảm thiểu tình trạng lãng phí vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Sau nữa tín dụng ngân hàng tác động hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi động,
thúc đẩy cạnh tranh nền kinh tế và góp phần tạo nên một cơ cấu hợp lý.
Hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp không
ngừng vận động để phù hợp những biến động của thị trường. Trong quá trình sản xuất
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
kinh doanh nhằm đáp ứng vốn của mình doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng và hoàn
trả “ gốc và lãi ” sau một thời gian nhất định do đó doanh nghiệp cần phải tìm hiểu và
đầu tư vào những ngành có lợi nhuận cao, qua đó vừa duy trì được hoạt động của mình
vừa hoàn trả được vốn vay ngân hàng. Bên cạnh đó tín dụng ngân hàng cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho việc di chuyển vì chỉ có tín dụng ngân hàng mới đáp ứng được nhu
cầu vốn lớn như vậy cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở nên
năng động, mềm dẻo và linh hoạt.
Bên cạnh đó tín dụng ngân hàng tạo điều kiện hội nhập vào kinh tế thế giới. Tín
dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện để nối liền nền kinh tế của
các nước với nhau. Đặc biệt với các nước đang phát triển, tín dụng ngân hàng đóng vai
trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá đồng thời nhờ nguồn vốn tín
dụng bên ngoài để công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho ngành kinh tế kém phát triển và các
ngành kinh tế mũi nhọn. Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi với những ngành kinh tế mũi
nhọn cũng như các ngành kinh tế kém phát triển nhưng có lợi thế cho nền kinh tế. Tín
dụng ngân hàng thúc đẩy các ngành kinh tế này phát triển , tín dụng ngân hàng góp phần
hạn chế và xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi.
Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát đối với nền kinh tế. Ngân hàng muốn
tồn tại và phát triển thì phải nắm vững hiểu sâu sắc hoạt động của doanh nghiệp để giảm
mức rủi ro trong cho vay. Như vậy ngân hàng có khả năng tổng hợp được tình hình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có thể đánh giá được mức độ phát triển của từng
ngành từ đó có thể nêu lên ý kiến, góp phần để thực hiện điều chỉnh khi có sự mất cân
đối trong cơ cấu kinh tế.
Tóm lại : Tín dụng ngân hàng là biện pháp cơ bản và chủ yếu để điều hoà vốn,
đáp ứng nhu cầu vốn cho toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò là cầu
nối giữa tiết kiệm và đầu tư, biến mọi nguồn tiền tệ phân tán trong xã hội thành nguồn
vốn tập trung qua đó điều hoà quan hệ cung cầu về tiền tệ trong xã hội góp phần ổn định
tiền tệ. Tín dụng ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng với nền kinh tế nhưng nó tác động
theo chiều hướng nào đến nền kinh tế còn phụ thuộc vào việc thực hiện các nghiệp vụ
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
tín dụng ở NHTM có chất lượng và hiệu quả hay không. Trên cơ sở đó ta thấy rõ vai trò
và tác động của tín dụng ngân hàng với nền kinh tế thị trường do đó mỗi NHTM cần
chú trọng quan tâm đến công tác tín dụng và đổi mới nâng cao chất lượng tín dụng để
đem lại hiệu quả thiết thực.
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
1.3. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.3.1. Khái niệm
Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế hoạt động chủ yếu và thường
xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, chất lượng tín dụng luôn là mối quan tâm hàng
đầu của các ngân hàng thương mại. Chất lượng tín dụng ngân hàng đương nhiên được
tạo nên bởi chất lượng của từng khoản tín dụng. Song không chỉ có thế, nếu bó hẹp khái
niệm chất lượng tín dụng đồng nghĩa với chất lượng của một khoản tín dụng thì rõ ràng
là không đầy đủ và không phản ánh được hết tính đa dạng và phức tạp của hoạt động tín
dụng ngân hàng. Do đó, một cách đầy đủ có thể hiểu khái niệm chất lượng tín dụng
ngân hàng như sau:
Chất lượng tín dụng ngân hàng là khái niệm phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của
ngân hàng phù hợp với nhu cầu vay vốn của khách hàng, với yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng ( người gửi tiền và người
vay tiền ) phù hợp với sự tăng trưởng của kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển
của tín dụng .
Chất lượng tín dụng được thể hiện:
- Đối với khách hàng: Tín dụng phải phù hợp với mục đích sử dụng của khách
hàng với lãi suất, kỳ hạn hợp lý, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, thu hút được
nhiều khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá,
góp phần giải quyết việc làm , khai thác được khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế.
- Đối với NHTM: Hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động và cạnh
tranh mang lại lợi nhuận và đảm bảo thanh toán cho ngân hàng.
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của NHTM
với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể hiện sức mạnh của NHTM trong quá trình
cạnh tranh để tồn tại.
Chất lượng tín dụng thể hiện qua nhiều yếu tố như: thu hút được nhiều khách hàng tốt,
thủ tục đơn giản, an toàn vốn cao. Chất lượng tín dụng là sự tồn tại và là cơ sở mở rộng
hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Mở rộng đầu tư tín dụng cần phải đi liền với công tác nâng cao chất lượng tín dụng,
chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng. Nó
quyết định sự hoạt động kinh doanh của ngân hàng xét cả về mặt kinh doanh cũng như
uy tín của ngân hàng. Nếu các ngân hàng thương mại không quan tâm đến chất lượng
tín dụng thì nguy cơ đổ bể càng cao.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
Hoạt động tín dụng phải đảm bảo hiệu quả, tuân thủ pháp lý thì mới đảm bảo an toàn về
vốn. Nâng cao chất lượng tín dụng là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của
NHTM trong nền kinh tế thị trường.
1.3.2.1. Đối với ngân hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng giúp ngân hàng tạo ra được thế mạnh cho ngân
hàng trong quá trình cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng, tránh được rủi ro,
những tổn thất lớn có thể xảy ra. Chất lượng tín dụng quyết định cho sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
1.3.2.2. Đối với kinh tế, xã hội
Nâng cao chất tín dụng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường sự phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hoá ngày càng
tăng chính vì thế hoạt động tín dụng luôn được coi trọng. Chất lượng tín dụng được
nâng cao sẽ giúp ngân hàng thực hiện tốt vai trò trung gian, cầu nối giữa tiết kiệm và
đầu tư, tập trung vốn tránh được sự lãng phí vốn, giải quyết tốt cung cầu về vốn.
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Trần Thị Ánh Tuyết Tài chính doanh nghiệp 47F
Tín dụng ngân hàng là một công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Là công cụ để thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế, khơi
dậy tiềm năng thế mạnh của tất cả các thành phần kinh tế vào phục vụ công cuộc phát
triển kinh tế nước nhà.
1.3.2.3. Đối với khách hàng
Trong nền kinh tế mở với sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng trên thị
trường, khi ngân hàng thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng tín dụng thì sẽ thu hút
được nhiều khách hàng về phía mình. Chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ giúp ngân
hàng cung ứng vốn nhanh, kịp thời đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Ngân hàng cũng
tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng để sớm có những điều chỉnh với
những thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng là thực sự cần thiết cho mỗi khách hàng và
cho toàn bộ nền kinh tế nói chung. Chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ trở thành công
cụ đòn bẩy kích thích nền kinh tế phát triển, tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện tốt
vai trò trung tâm tiền tệ tín dụng.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.3.3.1. Chỉ tiêu định tính
a.Về phía ngân hàng.
 Bảo đảm nguyên tắc cho vay.
Mỗi tổ chức kinh tế hoạt động đều được dựa trên một nguyên tắc nhất định.
Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng rất lớn đến tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước do vậy các hoạt động của ngân hàng cũng rất
chặt chẽ. Với mỗi ngân hàng lại có những nguyên tắc khác nhau, nguyên tắc cho vay là
một nguyên tắc quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Để đánh giá chất lượng một khoản
vay điều đầu tiên phải xem xét là khoản vay đó có đảm bảo nguyên tắc cho vay không.
Nguyên tắc cơ bản của cho vay là:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét