Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Ứng dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính của công ty may đức giang

Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
hiện trên cơ sở tích luỹ ban đầu mỗi hàng hoá, dịch vụ hoặc tiền trong mỗi
doanh nghiệp và nó sẽ làm thay đổi khối lợng tài sản tích luỹ của doanh
nghiệp. Một khối lợng tài sản, hàng hoá, hoặc tiền đợc đo tại một thời điểm là
một khoản dự trữ. Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền tảngcủa tài chính
doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào bản chất khác nhau của các dòng dự trữ mà ngời
ta phân biệt dòng tiền đối trọng và dòng tiền độc lập.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp trả lời các câu hỏi chính sau đây:
- Đầu t vào đâu nh thế nào cho phù hợp với hình thức kinh doanh đã
chọn, nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp? Từ đó đa ra tổng tiền cần đầu
t.
- Nguồn vốn tài trợ đợc huy động ở đâu, vào thời điểm nào để đạt đợc cơ
cấu vốn tối u và chi phí vốn thấp nhất?
- Quản lý dòng tiền vào, dòng tiền ra sao cho đảm bảo mức ngân quỹ tối
u thông qua việc trả lời câu hỏi: lợi nhuận doanh nghiệp đợc sử dụng nh thế
nào?, Phân tích đánh giá kiểm tra các hoạt động tài chính nh thế nào, để thờng
xuyên đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính?, và quản lý các hoạt động tài
chính ngắn hạn nh thế nào để đa ra quyết định thu, chi phù hợp?
Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất trả lời ba câu hỏi trên.
2-Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính
doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phơng pháp và các công
cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm
đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và
chất lợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình đẳng
trớc nhau trớc pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề và các lĩnh vực kinh
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tợng quan tâm đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp nh: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp khách hàng,
kể cả các cơ quan nhà nớc và ngời làm công, mỗi đối tợng quan tâm đế tình
hình tài chính trên một góc độ khác nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các
nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là khả năng phát
triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị sở hữu tài sản doanh nghiệp, do
đó họ quan tâm trớc hết tới lĩnh vực đầu t và tài trợ.đối với ngời cho vay mối
quan tâm chủ yếu của họ là khả năng trả nợ hiện tại và tơng laicủa doanh
nghiệp. Đối với các nhà đầu t khác mối quan tâm của yếu của họ là các yếu tố
rủi ro, lãi suất, khả năng thanh toán
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trng tài chính thông qua một hệ thống
các phơng pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp ngời sử dụng từ các góc độ
khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hơpự khái quát, vừa xem xét mọôt
cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự
báo, đa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu t phù hợp.
II-Mục tiêu phân tích tài chính
Phân tích tài chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phơng pháp và các
công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý
nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Quy trình phân tích tài chính hiện nay ngày càng đợc áp dụng rộng rãi ở
các đơn vị tự chủ nhất định về tài chính, các tổ chức xã hội, tập thể, các cơ
quan quản lý, tổ chức công cộng. Đặc biệt, sự phát triển của các doanh
nghiệp,của ngân hàng và của thị trờng vốn đã tạo nhiều cơ hội để chứng tỏ
phân tích tài chính thực sự có ích và cần thiết.
Những ngời phân tích tài chính ở những cơng vị khác nhau thì nhằm
những mục tiêu khác nhau
1-Đối với nhà quản trị
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở
để định hớng ra quyết định của ban tổng giám đốc, giám đốc tài chính nh
quyết định đầu t, tài trợ, phân chia cổ tức, , dự thảo tài chính: kế hoạch đầu t,
ngân quỹ, kiểm soát các hoạt động quản lý. Mặt khác, tạo thành các chu kỳ
đánh giá đều đặn hoạt động kinh doanh tronh quá khứ, tiến hành cân đối tài
chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trả nợ, rủi ro tài chính của
doanh nghiệp.
2-Đối với nhà đầu t
Các cổ đông là các cá nhân hoặc doanh nghiệp, quan tâm trực tiếp đến
tính toán các giá trị của doanh nghiệp vì họ bỏ vốn cho doanh nghiệp thực
hiện hoạt động kinh doanh sản xuất và họ có thể chịu rủi ro từ khoản vốn đó.
Do vậy, các cổ đông cần biết tình hình thu nhập của mình có tơng xứng với
mức rủi ro của khoản đầu t mà họ chịu. Nhà đầu t phân tích tài chính để nhận
biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp , đây là một trong những căn cứ giúp
nhà đầu t ra quyết có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không?
Thu nhập của các cổ đông tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm
của vốn đầu t. Hai yếu tố này ảnh hởng đén lợi nhuận kỳ vọng của doanh
nghiệp. Các nhà đầu t thờng tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp với câu hỏi trọng tâm: lợi nhuận bình quân cổ phiếu của công ty sẽ là
bao nhiêu? Dự kiến lợi nhuận sẽ đợc nghiên cứu đầy đủ trong chính sách phân
chia lợi tức cổ phần và trong nghiên cứu rủi ro hớng các lựa chọn vào những
cổ phiếu phù hợp nhất.
3-Đối với ngời cho vay
Ngời cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của
khách hàng phân tích. Để đa ra quyết định cho vay, thì một trong những vấn
đề mà ngời cho vay cần phải xem xét là doanh nghiệp thật sự có nhu cầu vay
hay không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp nh thế nào?Bởi nhiều khi một
quyết định cho vay có ảnh hởng nặng nề đến tình hình tài chính của ngời cho
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
vay, có thể dẫn đến tình trạng phá sản của ngời cho vay, hay đơn vị cho vay.
Phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạn hay khoản nợ ngắn hạn
cũng có sự khác nhau.
Nếu là những khoản nợ ngắn hạn, ngời cho vay đặc biệt quan tâm đến
khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Nghĩa là khả năng ứng phó của
doanh nghiệp khi khoản nợ tới hạn trả nợ.
Nếu là những khoản cho vay dài hạn, ngòi cho vay phải tin chắc khả
năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì việc hoàn trả vốn và
lãi phụ thuộc vào khả năng sinh lời này
Kỹ thuật phân tích thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của khoản vay,
nhng cho đó là khoản vay dài hạn hay nhắn hạn thì ngời cho vay đều quan tâm
đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với ngời hởng lơng
trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật s-
, Dù họ công tác ở các lĩnh vực khác nhau nhng đều muốn hiểu biết về doanh
nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ.
III-thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi
nguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp dến những thông tin
bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lợng đến thông tin giá trị. Những
thông tin đó đều giúp nhà phân tích có thể da ra đợc những nhận xét kết luận
tinh tế và thích đáng.
Những thông tin bên ngoài, cần lu ý thu thập thông tin chung nh các
thông tin liên quan đến cơ hội kinh doanh nghĩa là tình hình chung về kinh tế
tại một thời điểm cho trớc. Trạng thái kinh tế: sự suy thoái hay tăng trởng có
tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh. Khi cơ hội thuận lợi, các hoạt
động của doanh nghiệp đợc mở rộng, lợi nhuận của công ty, giá trị của công
ty cũng tăng lên, và ngợc lại. Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, điều quan
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
trọng phải nhận thấy sự xuất hiện mang tính chu kỳ:qua thời kỳ tăng trởng thì
sẽ đến thời kỳ suy thoái và ngợc lại. Đồng thời thu thập thông tin về chính
sách thuế, lãi suất, các thông tin về ngành kinh doanh nh thông tin liên quan
đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, và các sản phẩm của
ngành, tình trạng công nghệ, thị phần và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối
với doanh nghiệp: các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ
quan quản lý nh: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh
nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp nh là một
nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Với những đặc trng hệ thống, đồng nhất
và phong phú, kế toán hoạt động nh một nhà cung cấp quan trọng nhng thông
tin đánh giá cho phân tích tài chính.Vả lại các doanh nghiệp có nghĩa vụ cung
cấp các thông tin kế toán cho đối tác bên trong và bên ngoài doanh
nghiệp.thông tin kế toán đợc phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán.
Phân tích tài chính đợc thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính đợc hình
thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: đó là bảng cân đối kế
toán, báo cáo kết quả kinh doanh, ngân quỹ (báo cáo lu chuyển tiền tệ).
1-Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính mô tả tìng trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là báo cáo tài
chính có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tợng có quan hệ sở hữu, quan hệ
kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông thờng bảng cân đối
kế toán dợc trình bày dới dạng bảng cân đối các số d tài khoản kế toán: một
bên phản ánh tài sản, một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp.
Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản
hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh
nghiệp: đó là tài sản lu động, tài sản cố định. Bên nguồn vốn phản ánh số vốn
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó
là vốn chủ và các khoản nợ.
Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán dợc sắp xếp theo khả năng
chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống.
Bên tài sản
Tài sản lu động: tiền chứng khoán ngắn hạn dễ bán, khoản phải thu, dự
trữ .Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Bên nguồn vốn
Nợ ngắn hạn bao gồm nợ pahỉ trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp,phải
trả khác nợ ngắn hạn ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng khác. Nợ
dài hạn bao gồm nợ dài hạn vay ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng
khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp
ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản;
bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ,cơ cấu vốn cũng có khả năng độc lập
về tài chính của doanh nghiệp.
Bên tài sản và bên nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều có các cột chỉ
tiêu: số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục có trong tài khoản nội bảng
còn có một số khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán nh: một số tài khoản
thuê ngoài, vật t, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ,
ngoại tệ các loại
Dựa vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết đợc loại
hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.Bảng
cân đối kế toán là một t liệu quan trọngbậc nhất giúp các nhà phân tích đánh
giá đợc khả năng cân bằng tài chính, kảh năng thanh toán, khả năng cânđối
vốn của doanh nghiệp.
2-Báo cáo kết quả kinh doanh
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
Một thông tin không kém phần quan trọng đợc sử dụng trong phân tích
tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh. Khác với
bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển tiền
trong quá trình sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính
khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tơng lai. Báo cáo kết quả kinh
doanh giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ để vận
hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định đợc kết
quả sản xuất-kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm. Nh vậy báo cáo kết quả kinh
doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất-kinh doanh, phản ánh tình hình tài
chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những
thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng tiềm năng về vốn, lao
động, kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp.
Những khoản mục chủ yếu đợc phản ánh trên báo cáo kết quả kinh
doanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động
tài chính, doanh thu từ hoạt động bất thờng và chi phí tơng ứng từ các hoạt
động đó.
Những loại thuế nh: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không phải
là doanh thu cũng không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không phản
ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh. Toàn bộ các khoản thuế đối với doanh
nghiệp và các khoản phải nộp khác đợc phản ánh trong phần: Tình hình thực
hiện nghĩa vụ với Nhà nớc.
3-Ngân quỹ (báo cáo lu chuyển tiền tệ)
Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính. Nếu bảng cân đối kế
toán những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và
báo cáo kết quả kinh doanh cho ta biết chi phí và thu nhậpphát sinh dể tính đ-
ợc kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc
lập để trả lời những vấn đề liên quan đéen luồng tiền vào, ra trong doanh
nghiệp, tình hình tài trợ, đầu t bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo đợc khả năng chi trả hay
không cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thờng đ-
ợc xác định trong thời gian ngắn hạn (thờng là từng tháng).
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập (thu ngân quỹ), bao gồm:
dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ);
dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu t tài chính; dòng tiền nhập quỹ từ hoạt
động bất thờng.
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ), bao gồm:
dòng tiền xuất thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện
hoạt động đầu t tài chính; dòng tiền xuất thực hiện hoạt động bất thờng.
Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ, nhà phân tích thực
hiện cân đối ngân quỹ với số d ngân quỹ đầu kỳ để xác định số d ngân quỹ
cuối kỳ. Từ đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh
nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả.
4-Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính đợc lập nhằm cung cấp các thông tin về
tình hình sản xuất, kinh doanh cha có trong hệ thống các báo cáo tài chính,
đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà các báo cáo tài chính cha đợc
trình bày, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể.
Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các nội dung sau:
-Đặc diểm hoạt động của doanh nghiệp: Hình thức sở hữu , hoạt động,
lĩnh vực kinh doanh, tổng số nhân viên những ảnh hởng quan trọng đến tình
hình tài chính trong năm báo cáo.
-Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp: Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ
trong ghi chép kế toán, nguyên tắc, phơng pháp chuyển đổi các đồng tiền
khác, hình thức sổ kế toán, phơng pháp kế toán tài sản cố định, phơng pháp kế
toán hàng tồn kho, phơng pháp tính toán các khoản dự phòng, tình hình trích
lập và hoàn nhập dự phòng.
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
-Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính: Yếu tố chi phí sản xuất,
kinh doanh, tình hình tăng giảm tài sản cố định, tình hình tăng giảm các
khoản đầu t vào doanh nghiệp, lý do tăng, giảm, các khoản phải thu và nợ phải
trả.
-Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
-Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh
nghiệp.
-Phơng hớng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới.
-Các kiến nghị.
5-Bảng tài trợ
Bảng tài trợ là một trong nhũng công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài
chính. anó giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và sử
dụng nguồn vốn đó.
Để lập đợc biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ), trớc hết phải
liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối
kỳ. Mỗi sự thay đổi đợc phân biệt ở hai cột: sử dụng vốn và nguồn vốn theo
nguyên tắc:
-Nếu khoản mục bên tài sản giảm hoặc khoản mục bên nguồn vốn tăng
thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn.
-Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc khoản mục bên nguồm vốn
giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng nguồn.
Việc thiết lập bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu t vốn
và nguồn vốn chủ yếu hình thành để đầu t.
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà phân
tích cần phải đọc và hiểu đợc báo cáo tài chính, qua đó, nhận biết đợc và tập
trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của
họ. Tất nhiên, muốn đợc nh vậy, các nhà phân tích cần tìm hiểu thêm nội
Nguyễn thị Vân Khánh
Chuyên đề thực tập Tài chính doanh nghiệp 41b
dung chi tiết các khoản mục của báo cáo tài chính trong các môn học liên
quan.
iv-trình tự phân tích tài chính doanh nghiệp
1-Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giảivà
htuyết minh thực trạng sử dụng tình hình tài chính của doanh nghiệp, phục vụ
cho quá trình dự đoán tài chính. Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến
những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản
lý khác, những thông tin về số lợng và giá trị trong đó các thông tin kế toán
phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn
thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân
tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
2-Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã
thu thập đợc. Trong giai đoạn này, ngời sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên
cứu, ứng dụng khác nhau, có phơng pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ
mục tiêu phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin
theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán so sánh, giải thích, đánh giá,
xác định nguyên nhân các kết quả đã đạt đợc phục vụ cho quá trình dự đoán
và quyết định.
3-Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện
cần thiết để ngời sử dụng thông tin dụ đoán nhu cầu và da ra quyết định tài
chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đa ra quyết định tài
chính. Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm da ra các quyết
định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài
sản của doanh nghiệp, tăng trởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận. Đối với ng-
Nguyễn thị Vân Khánh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét