Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp phần mềm việt nam

chính sách, cơ sở pháp lý (có liên quan đến chức năng quản lý của Nhà nước).
2. Các yếu tố để phát triển CNPM
Tại một hội thảo tại Bắc Kinh năm 2002, Bill Gates, Chủ tịch Công ty
Microsoft, cho rằng để phát triển CNPM cần hội tụ 4 yếu tố :
- Thị trường : vai trò của thị trường không chỉ đơn giản là nơi tiêu thụ
sản phẩm phần mềm mà quan trọng hơn là nơi tạo ý tưởng cho các sản phẩm,
giải pháp phần mềm mới. Câu hỏi của các DNPM không chỉ đơn thuần là “có
thể tiêu thụ sản phẩm phần mềm ở đâu ?” mà phải là “sản phẩm phần mềm
nào có thể tiêu thụ được ?”.
- Nhân lực : với ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám đậm đặc,
vai trò của nguồn nhân lực với chất lượng cao và số lượng đủ lớn là rất quan
trọng. Nhân lực ở đây bao gồm cả nhân lực kỹ thuật lẫn nhân lực quản lý.
- Tài chính : giống như mọi ngành kinh tế khác, tài chính là nhiên liệu
cho cỗ máy của CNPM và các DNPM vận hành.
- Công nghệ : Phần mềm là ngành công nghệ cao, có tốc độ đổi mới rất
nhanh. Công nghệ ở đây cũng được hiểu là cả công nghệ kỹ thuật lẫn công
nghệ quản lý. Vai trò của công nghệ không chỉ là cho phép tạo ra các sản
phẩm-dịch vụ mới mà chủ yếu là cho phép tăng năng suất lao động. Tăng
năng suất lao động đồng nghĩa với tăng lợi nhuận và tạo ưu thế cạnh trạnh -
chủ yếu thực hiện thông qua nghiên cứu - triển khai và chuyển giao công
nghệ.
Mỗi một quốc gia, một địa phương hay một DNPM khi phát triển đều
phải dựa trên 4 yếu tố mang tính chất nội lực nêu trên, tuy nhiên để có thể
phát huy được, 4 yếu tố trên cần được đặt trong môi trường thuận lợi (về kinh
tế, văn hoá, xã hội, pháp lý, cơ sở hạ tầng) mang tính chất nền tảng.
Các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển CNPM gọi đây Mô hình 4/1
5
3. Chính sách và các yếu tố liên quan đến chính sách phát triển
CNPM
Các chính sách quan trọng nhất của Việt Nam nhằm phát triển CNPM đã
được ban hành khá chi tiết và cụ thể từ đầu năm 2000, bắt đầu bằng Nghị
quyết 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000 về xây dựng và phát triển CNPM giai
đoạn 2000-2005, và sau đó là hàng loạt các văn kiện quan trọng khác của
Đảng, Chính phủ, thông tư của các bộ ngành có liên quan: Chỉ Thị 58-CT/TW
ngày 17/10/2000 của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT
trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005, Quyết
định 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 về một số chính sách và biện pháp
khuyến khích đầu tư và phát triển CNPM, Quyết định 81/2001/QĐ-TTg ngày
24/05/2001 phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ Thị 58-CT/TW
của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005, Quyết định
95/2002/QĐ-TTg ngày 17/07/2002 phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng
và phát triển CNTT ở Việt Nam đến năm 2005…
Trên góc độ Mô hình 4/1, nhiều công việc đã được thực hiện để mỗi một
trong 4 yếu tố và môi trường nền tảng đều có những cải thiện đáng kể-tuy
nhiên dường như ngành CNPM vẫn không tăng trưởng nhanh như mong

Thị trường

Nhân lực

Tài chính

Công nghệ
CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM
KINH TẾ , VĂN HOÁ,XÃ HỘI, PHÁP LÝ, CƠ SỞ HẠ TẦNG
6
muốn; các yếu tố khác trong Mô hình 4/1 vẫn chưa thực sự khởi sắc. Chúng ta
hãy phân tích sâu hơn các yếu tố có liên quan đến môi trường hoạt động của
các DNPM trong thời gian vừa qua.
3.1 Yếu tố hạ tầng
Hạ tầng Viễn thông-Internet
Điều 12 trong QĐ 128 (tháng 11/2000) nêu rõ: “cho phép các khu CNPM
tập trung được kết nối cổng ra Internet riêng với hệ thống Internet quốc tế để
tất cả các DNPM trong các khu vực này và các DNPM đăng ký dịch vụ
Internet qua các khu này có thể sự dụng đầy đủ và dễ dàng các dịch vụ Internet
theo giá cạnh tranh với các nước trong khu vực”
Đọc điều này, các khu CNPM tập trung rất phấn khởi, các DNPM nằm
trong và ngoài khu CNPM tập trung cũng phấn khởi. Tuy nhiên thực tế là quy
định trên đã không được thực hiện. Vụ việc liên quan đến Saigon Software
Park (SSP) kết nối trực tiếp Internet qua vệ tinh phải có sự can thiệp của chính
phủ là một minh chứng. Đến nay cũng mới chỉ có SSP và Softech Đà Nẵng
được quyền thử nghiệm kết nối Internet trực tiếp qua vệ tinh mà thôi, các
DNPM nằm ngoài các khu CNPM tập trung vẫn chưa được kết nối Internet
qua các khu này. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng điều 12 trong QĐ 128 đã bị
“bó hẹp” hơn trong QĐ 81 (tháng 5/2001), bằng việc “bảo đảm kỹ thuật kết
nối trực tiếp với Internet quốc tế cho các khu CNPM tập trung” được giao về
cho Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông.
Xuất bản, xuất nhập khẩu phần mềm
Điều 13 trong QĐ 128 nêu rõ : “Bộ Văn hoá-Thông tin chủ trì, phối hợp
với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, cải tiến thủ tục để việc xuất bản,
xuất nhập khẩu phần mềm đặc biệt là chương trình, tài liệu mô tả chương trình
và tài liệu hỗ trợ được thực hiện nhanh chóng không gây phiền hà, ách tắc,
thiệt hại cho tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan”.QĐ 81 nhấn mạnh
lại một lần nữa : “Bộ Văn Hoá – Thông tin hướng dẫn, cải tiến những quy định
7
có liên quan đến xuất bản, xuất, nhập khẩu phần mềm”.
Thực tế thì đến nay các DNPM vẫn không được tự phát hành các sản
phẩm phần mềm dưới dạng đĩa CD do chính mình sản xuất ra. Các đĩa CD
phần mềm Made in Vietnam đều phải xin giấy phép thông qua một nhà xuất
bản nào đó. Có lẽ có rất ít ngành kinh tế mà sản phẩm của doanh nghiệp làm
ra khi đưa ra thị trường phải qua thủ tục nhiêu khê như vây. Phần nhập khẩu
cũng vậy, nhập một đĩa CD phần mềm trị giá 1000 USD từ nước ngoài (ở thời
điểm tháng 6/2003) vẫn có thề phải nộp thuế nhập khẩu 450 USD (45%) theo
mã thuế nhập khẩu số 85243190 liên quan đến “CD để tái tạo hình tượng
không phải âm thanh hoặc hình ảnh”.
Sở hữu trí tuệ
Nghị quyết 07 nêu rõ “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục trong toàn xã hội nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng và
bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm. Thực thi bảo vệ quyền tác
giả trong lĩnh vực này”.Việc bảo vệ quyền tác giả là một cuộc chiến lâu dài
nhằm từng bước giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam đang ở mức cao
nhất thế giới. Việc thực thi không nghiêm luật bản quyền đối với sản phẩm
phần mềm thực chất thể hiện việc không tôn trọng lao động chất xám đúng
mức và tạo tâm lý thiết lập một định mức tính giá làm phần mềm dưới ngưỡng
hoà vốn.
Chúng ta vẫn biết không thể để tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm ở
mức cao như vậy được, vẫn biết nếu tỷ lệ này cao thì không thể có ngành
CNPM đúng nghĩa, tuy nhiên các năm qua Nhà nước chưa có biện pháp mạnh
nào để cải thiện tình hình này.
8
3.2 Yếu tố thị trường
Có 2 thị trường cơ bản cho các DNPM: thị trường gia công xuất khẩu ra
nước ngoài và thị trường sản phẩm và dịch vụ phần mềm nội địa.
Thị trường nước ngoài
Các DNPM rất vui mừng với việc “Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao, Bộ
kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và các Bộ, ngành
có liên quan tổ chức xúc tiến thương mại và tạo điều kiện cho các DNPM trong
nước mở chi nhánh và văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài, đầu tư
ra nước ngoài và xuất khẩu lao động phần mềm” (NQ 07). Tuy nhiên cạnh
tranh với các nước khác không đơn giản.
Thị trường nội địa
Có thể chia thành 3 mảng: nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng cá
nhân. Cần nghiên cứu tìm hiểu xem các chính sách ban hành trong thời gian
qua đã góp phần phát triển các mảng thị trường này như thế nào ? Điều này sẽ
được thực hiện chi tiết trong mục 5 của chương.
Đối với thị trường trong nước, khởi sắc nhất có lẽ là thị trường phần mềm
cho các cơ quan quản lý nhà nước, với QĐ 112/2001 về Dự án Tin học hoá
quản lý hành chính Nhà nước đầy tham vọng và việc đưa chi tiêu cho CNTT
nói chung và phần mềm nói riêng vào “mục lục ngân sách Nhà nước” (Chỉ
Thị 58), cùng với hàng loạt quy định, thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn
cách thức “tiêu tiền” cho các ứng dụng này. Tuy nhiên điều này gây ra thất
vọng lớn cho các DNPM là các năm vừa qua tốc độ giải ngân thực hiện đề án
này quá chậm chạp, thậm chí không giải ngân được. Những con số kế hoạch
vài chục, vài trăm tỷ đồng mà Nhà nước đưa ra dần đần mất đi tính kế hoạch
nghiêm túc.
Việc nhà nước chậm giải ngân, không giải ngân nhiều cho CNTT được
giải thích là nhằm hạn chế rủi ro, bảo vệ đồng tiền của Nhà nước, chưa hoặc
không chỉ khi chưa có đủ các thủ tục cần thiết. Nhưng cũng cần thấy ở đây
9
căn bệnh chậm hoặc không giải ngân đã trở thành kinh niên, đang thu hẹp lại
một mảng thị trường khá lớn cho các DNPM. Thực ra thì Chỉ thị 58 cũng đã
lường trước việc này và quy định “Hình thành quỹ hỗ trợ, quỹ đầu tư khắc
phục rủi ro cho ứng dụng và phát triển CNTT”. Tuy vậy điều này vẫn chưa
được thực hiện cho đến thời điểm cuối năm 2005.
Đối với hai mảng thị trường lớn khác cho CNPM là doanh nghiệp và
người tiêu dùng cá nhân, thì ngoài quy định khuyến khích chi tiêu cho phần
mềm bằng cơ chế “sản phẩm và dịch vụ phần mềm được sản xuất và cung cấp
trong nước không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng” (QĐ 128), nhà
nước vẫn chưa đưa ra quy định gì cụ thể hơn, và thị trường phần mềm cho
doanh nghiệp và người dùng cá nhân vẫn đang phát triển một cách “tự giác”
và “tự phát” thiếu các định hướng và đòn bẩy lớn từ phía nhà nước.
3.3 Yếu tố nhân lực
Ngoài việc tăng cường tập trung đầu tư cho các Khoa CNTT tại các
trường đại học, chính phủ cũng đã thầy rằng không thể chỉ dựa vào hệ thống
đại học là có thể yên tâm về nguồn nhân lực cho ngành CNTT nói chung và
ngành CNPM nói riêng. Trong các nghị quyết, chỉ thị ban hành hàng năm,
điều này thường xuyên được nhấn mạnh:
- “Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo
nguồn nhân lực cho CNTT nói chung và CNPM nói riêng” (NQ 07, năm 2000);
- “Các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các cơ
sở đào tạo về CNTT. Các cơ sở này được hưởng các ưu đãi đối với các hoạt
động đào tạo về CNTT như đối với DNPM” (QĐ 128, năm 2000);
- “Xã hội hoá mạnh mẽ việc đào tạo CNTT” (CT 58, năm 2000);
- “Xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia
đào tạo nhân lực về CNTT” (QĐ 81, năm 2001);
- “Xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo về CNTT, khuyến khích các tổ chức
10
xã hội, các thành phần kinh tế và các cá nhân tham gia đầu tư phát triển nguồn
nhân lực CNTT” (QĐ 95, năm 2000).
Việc xã hội hoá công tác đào tạo nhân lực CNTT nằm trong chiến lược
tổng thể “huy động mọi nguồn lực để tăng cường đầu tư cho ứng dụng và phát
triển CNTT” (QĐ 81). Thời gian qua, nhiệm vụ tổ chức công việc này được
chính phủ giao đích danh cho Bộ Giáo dục Đào Tạo (QĐ 81: Bộ Giáo dục
Đào tạo xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham
gia đào tạo nhân lực về CNTT), tiếc rằng Bộ Giáo dục Đào tạo đã không làm
gì cả và để hệ thống đào tạo phi chính quy hình thành và phát triển tự giác.
Ngay đến Chương trình phát triển nguồn nhân lực cho CNTT, được phê duyệt
theo Quyết định số 131/2004/QĐ của Thủ tướng Chính phủ vào tháng 4 năm
2004, đến nay cũng chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo cụ thể hoá bằng kế
hoạch và các biện pháp triển khai cụ thể nào.
Để tạo điều kiện truy nhập Internet cho các cơ sở đào tạo, QĐ 128 cũng
có chỉ đạo “Tổng cục Bưu điện chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục
và Đào tạo và các Bộ, ngành có liên quan ban hành chính sách để giảng viên,
giáo viên, sinh viên và học sinh các trường học trong hệ thống giáo dục quốc
dân được hưởng chế độ miễn,giảm phí truy nhập Internet tại các cơ sở đào
tạo”. Nhưng đến nay, dường như vẫn chưa có một chính sách cụ thể nào cho
việc miễn giảm này, và truy nhập Internet tại các quán Internet công cộng vẫn
là hình thức sử dụng rẻ tiền nhất cho học sinh, sinh viên. Chương trình kết nối
Internet cho 100% trường học cũng được báo cáo là đã hoàn thành, nhưng tác
dụng khá là hạn chế và tình trạng “mù” Internet trong trường phổ thông vẫn là
phổ biến. Mạng kết nối Internet phi lợi nhuận (Internet II) cho các trường đại
học, các cơ sở nghiên cứu khoa học là chuẩn mực của hầu hết các quốc gia coi
trọng phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách, vẫn
chưa trở thành hiện thực tại Việt Nam.
11
3.4 Yếu tố tài chính
Chính sách tài chính quan trọng nhất được ban hành và thực hiện trong
các năm qua là quyết định miễn thuế thu nhập 4 năm cho các DNPM và áp
dụng thuế thu nhập cá nhân ưu đãi cho người làm phần mềm. Đây chính là
chính sách mang tính khen thưởng “không thu cái đáng lẽ phải thu”, cho phép
các DNPM và nhân viên “giữ lại cái đáng lẽ phải nộp”. Chính sách này sẽ
phát huy tác dụng rất tốt nếu các DNPM ăn nên làm ra, tuy nhiên khi đa số
các DNPM đều lỗ hoặc lãi rất ít, thì chính sách trên không thể phát huy tác
dụng.
Chỉ dựa vào chính sách mang tính “khen thưởng” thì không thể giải
quyết được vấn đề tài chính cho ngành CNPM. Với tính chất là một ngành
công nghệ cao, nhiều rủi ro, đồng thời lại có tiềm năng sinh lợi lớn, việc tạo
cơ chế để huy động các nguồn vốn xã hội cho DNPM dưới dạng các quỹ đầu
tư mạo hiểm là rất cần thiết. Nghị quyết 07 năm 2000 cũng đã chỉ rõ điều này:
“Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và
các Bộ, ngành có liên quan thành lập và ban hành quy chế tổ chức, quản lý và
hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt là
CNPM”. Tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện.
3.5 Yếu tố công nghệ
Vai trò của công nghệ như biện pháp nâng cao năng suất lao động và tạo
ưu thế cạnh tranh của các DNPM chưa được quan tâm đúng mức trong các
văn bản, nghị quyết. Trong QĐ95 có nhắc đến các hoạt động khoa học - công
nghệ nhưng chưa đủ mạnh : “Nắm bắt được những tiến bộ công nghệ của thế
giới để thực hiện có hiệu quả việc thích nghi hoá và chuyển giao công nghệ
vào Việt Nam; từng bước giải quyết những vấn đề CNTT đặc thù của Việt Nam.
Khuyến khích thành lập các vườn ươm công nghệ có tiềm năng thương mại nảy
sinh từ các cơ sở nghiên cứu triển khai của các khu công viên phần mềm, các
viện, trường đại học và khu vực sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh
12
tế. Khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu - triển khai về CNTT trong
các doanh nghiệp CNTT thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng cường một số cơ
sở nghiên cứu chủ chốt về CNTT tại các viện và trường đại học thành lực
lượng nòng cốt về nghiên cứu và triển khai”.
Các công việc nêu trên chưa triển khai được bao nhiêu. Việc chuyển giao
công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc không thể không làm trong
giai đoạn phát triển ban đầu của ngành CNPM. Tuy nhiên dù đã có gỡ bỏ các
quy định về giá trần, nhưng những quy định về hợp đồng (phải bằng tiếng
Việt), về thuế bản quyền (10%)…vẫn là yếu tố cản trở chuyển giao công nghệ
tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam.
4. Tình hình phát triển của CNPM trên thế giới và vị thế của
CNPM Việt Nam.
4.1 Khái niệm và quy mô
Gia công (outsourcing) là thoả thuận thương mại, qua đó một công ty giao
trách nhiệm thực hiện một khâu trong quá trình kinh doanh (có thể bao gồm
cả nguồn tài nguyên) cho một bên khác. Gia công gồm 2 loại: ITO (IT
outsourcing – gia công các sản phẩm CNTT) và ITES-BPO (IT Enabled –
Business Process Outsoursing – gia công các quy trình nghiệp vụ có sự hỗ trợ
của CNTT). Việc gia công có thể thực hiện theo mô hình on-site (tại địa điểm
nơi đặt hàng), off-site (tại địa điểm nơi nhận việc) hoặc near-shore (gần nơi
đặt hàng). Theo đánh giá chung, công việc gia công được thực hiện cho phép
giảm chi phí đến 30% - thậm chí đến 50%.
4.2 Công nghiệp Phần mềm Ấn độ
Bức tranh toàn cảnh
Từ cuối những năm 90, Ấn độ đã được đánh giá là siêu cường trong ngành
phần mềm, và thực tiễn những năm gần đây tiếp tục chứng tỏ điều đó.
Năm tài chính 2004-2005, doanh số ngành công nghiệp CNTT của Ấn độ là
28,2 tỷ USD, trong đó phần mềm và dịch vụ CNTT là 16,5 tỷ USD, xuất khẩu
13
phần mềm và dịch vụ CNTT 12,2 tỷ USD (trong đó 10 tỷ USD sang thị
trường Mỹ). Nếu tính cả các dịch vụ khác dùng đến CNTT (IT Enabled
Service – ITES và Business Process Outsourcing – BPO), giá trị xuất khẩu là
17,9 tỷ USD. Gía trị xuất khẩu phần mềm dịch vụ năm 2005-2006 của Ấn độ
dự kiến là 15,3 tỷ USD. NASSCOM dự đoán giá trị dịch vụ phần mềm xuất
khẩu của Ấn độ sẽ đạt con số 60 tỷ USD vào năm 2008.
CNTT Ấn độ chiếm 4,1%GDP, trong đó phần mềm dịch vụ chiếm 3,2%
GDP. Dự kiến đến năm 2008, CNTT Ấn độ sẽ chiếm 7% GDP. Trong ngành
công nghiệp CNTT của Ấn độ, phần cứng chỉ chiếm 21,3%, còn lại là phần
mềm/dịch vụ (58,6%) và ITES-BPO (20,1%).
7.1
9.2
12
15.2
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
2002-03 2003-04 2004-05 2005-06
Phần mềm và dịch vụ xuất khẩu phần mềm của Ấn độ

Tốc độ tăng trưởng phần mềm-dịch vụ của Ấn độ từ năm 1999 đến nay đều
khoảng 35-40%/năm, đóng góp cho GDP ngày càng cao (năm 1997: 1.2%,
năm 2005: 4.1%).
Quá trình hình thành
Giai đoạn 1: 10 năm 1985-1995, dựa vào giá rẻ, với sự ra đời của hàng
loại các DNPM nhỏ, tập trung vào các nội dung phát triển sản phẩm/ bảo trì.
Doanh số giai đoạn này không đáng kể, ở mức dưới 100 triệu USD/năm, giá
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét