E2
D1
D2
Q
Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn
Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động. Đó là: Mức chênh lệnh lạm
phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự đoán về tỷ giá hối đoái.
Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia
Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các nhân
tố khác không thay đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng hoá ở hai nước đó có những biến
động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ, làm
thay đổi tỷ giá hối đoái.
Ảnh hưởng của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái có thể được
minh họa ở đồ thị sau:
Giả sử Việt Nam có tỷ lệ lạm E(USD/VND) S2
phát cao hơn Mỹ. Thì tăng nhu cầu về S1
USD, cung USD giảm, làm cho đồng
VND giảm giá.
D2
D1
Q
Trang 5
Nếu tỷ lệ lạm phát ở một nước cao hơn so với nước khác, giá cả hàng hoá và
dịch vụ nhập khẩu từ nước đó sẽ tăng lên, và do đó nhu cầu về hàng hoá dịch vụ này
ở nước khác sẽ giảm xuống. Cùng với nhu cầu về hàng hoá dịch vụ giảm, nhu cầu
về đồng tiền nước đó ở nước ngoài cũng sẽ giảm xuống. Sự giảm nhu cầu về đồng
nội tệ, tương đương với sự giảm cung trên thị trường ngoại hối. Ngược lại, nhu cầu
hàng hoá dịch vụ của nước ngoài tăng lên, do đó cầu ngoại tệ tăng.
Sự tăng lên nhu cầu ngoại tệ xẩy ra cùng với sự giảm xuống của cung ngoại
tệ sẽ gây lên sự giảm giá của đồng nội tệ.
Tương tự như vây, nếu tỷ lệ lạm phát ở nước này tăng lên so với tỷ lệ lạm
phát của nước khác, thì đồng nội tệ sẽ tăng giá.
Mức chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia
Khi mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so với
các nước khác, trong những điều kiện bình thường, thì vốn ngắn hạn từ nước ngoài
sẽ đổ vào nước nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra. Điều đó làm cho cung
ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, dẫn đến sự thay đổi tỷ giá.
Những dự đoán về tỷ giá hối đoái
Dự đoán của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển vọng
lên giá hay xuống giá của một đồng tiền nào đó có thể là một nhân tố quan trọng
quyết định tỷ giá. Những dự đoán này có liên quan chặt chẽ đến những dự đoán về
biến động tỷ lệ lạm phát, lãi suất và thu nhập giữa các quốc gia.
Giả sử rất nhiều người tham gia vào thị trường ngoại hối đều cho rằng đồng
USD sẽ giảm giá trong thời gian tới, trong điều kiện các nhân tố khác không thay
đổi. Điều này dẫn đến cung về USD sẽ tăng lên vì nhiều người muốn bán chúng.
Đồng thời, cầu về USD sẽ giảm xuống
Ảnh hưởng này được minh hoạ bằng đồ thị:
E(USD/VND) S1
S2
.
D1
Trang 6
D2
Q
Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như khủng
bố, thiên tai đình công, các quyết sách lớn cảu nhà nước Điều này có thể giải thích
sự thay đổi đột ngột, thất thường của tỷ giá mà không theo quy luật nào.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tỷ giá hối đoái chịu sự tác động của rất
nhiều yếu tố. Việc xác định đúng và kịp thời các nhân tố này là cơ sở quan trọng để
điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
1.1.1.2 Các dạng chế độ tỷ giá hối đoái.
Các chế độ cố định cơ bản: Tỷ giá gắn :
Vào một đồng tiền: nền kinh tế gắn đồng tiền của mình vào những đồng tiền
quốc tế chủ chốt mà không hoặc rất hiến khi điều chỉnh giá trị so sách của
chúng; các nền kinh tế thường công bố trước lịch điều chỉnh tỷ giá của đồng
tiền nước mình so với đồng tiền mà nó gắn vào theo mức cố định.
Vào một rổ các loại đồng tiền: các nước gắn đồng tiền mình vào một rổ đồng
tiền giao dịc chính hoặc hỗn hợp các đồng tiền tiêu chuẩn.
Trong khoảng chênh lệch xác định trước: các nước gắn đồng tiền mình vào
một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền trong khoảng chênh lệch nhất định.
Cố định nhưng có điều chỉnh: biên độ khoảng + 2%
Các chế độ linh hoạt cơ bản: tỷ giá có điều chỉnh và linh hoạt
Theo các chỉ số: nền kinh tế tự động điều chỉnh đồng tiền của mình theo sự
that đổi trong các chỉ số cho trước.
Thả nổi có kiểm soát: các nước thường xuyên điều chỉnh tỷ giá hiện nay trên
cơ sở đánh giá diễn biến của các biến số như tình hình dự trữ và thanh toán.
Thả nổi tự do: các nước cho phép thị trường và các lực lượng thị trường
quyết định tỷ giá đồng tiền của mình.
1.1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ được dùng để tác
động tới quan hệ cung- cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, từ đó giúp điều chỉnh
Trang 7
tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá
hối đoái gồm hai vấn đề lớn: một là vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và hai là
vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận của hệ thống chính sách tài chính,
tiền tệ, thực hiện các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Trong nền kinh tế mở,
mục tiêu của việc hoạch định chính sách nói chung, chính sách tài chính, tiền tệ và
chính sách tỷ giá nói riêng là nhằm đạt được các cân đối bên trong và cân đối bên
ngoài của nền kinh tế.
Cân bằng nội đạt được khi các nguồn lực kinh tế của một quốc được sử dụng
đầy đủ với mức giá ổn định. Việc sử dụng không thiếu hoặc quá nguồn lực dẫn đến
lãng phí không đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra còn làm cho mức giá chung bị biến
động, giá trị thực tế của đồng tiền không ổn định, dẫn đến giảm hiệu quả của nền
kinh tế. Sự không ổn định của giá cả còn có tác động làm thay đổi hoặc tăng tính rủi
ro cao của các món nợ.
Vì vậy, với mục tiêu tránh tình trạng mất ổn định của giá cả và ngăn chăn sự
dao động lớn trong tổng sản phẩm, chính sách tỷ giá đã tránh cho nền kinh tế rơi vào
tình trạng lạm phát hoặc giảm phát kéo dài và đảm bảo việc cung ứng tiền không
quá nhanh hoặc quá chậm.
Khác với cân bằng nội, cân bằng ngoại đạt được lại dựa vào trạng thái của
cán cân tài khoản vãng lai. Một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy rằng nước
đó đang đi vay nợ của nước ngoài. Khoản nợ này, sẽ đáng lo ngại khi nó được sử để
đầu tư có hiệu quả, bảo đảm trả được nợ trong tương lai và có lãi. Nhưng nếu khoản
thâm hụt này kéo dài và không tạo ra được những cơ hội đầu tư có hiệu quả thì nó
sẽ tạo ra nguy hiểm đến nền kinh tế. Ngược lại, khi tài sản vãng lai dư thừa cho thấy
rằng nước đó đang tích tụ tài sản của mình ở nước ngoài, nghĩa là họ là người cho
vay. Nếu sự dư thừa này diễn ra liên tục có thể dẫn đến có ảnh hưởng nghiêm trọng
đến cân đối bên trong nền kinh tế, đồng thời tăng rủi ro về khả năng thu hồi các
khoản cho vay. Sẽ có nhiều nguồn lực bị bỏ lãng phí không được sử dụng, sản xuất
một số ngành bị đình trệ, tăng trưởng giảm và thất nghiệp gia tăng.
Trang 8
Như vậy, mục tiêu cân đối bên ngoài đòi hỏi chính sách tỷ giá phải duy trì tài
khoản vãng lai không thâm hụt hoặc dưc thừa quá mức để tránh những hậu quả
nghiêm trọng đối với nền kinh tế quốc gia.
1.1.2.2 Căn cứ để lựa chọn chính sách tỷ giá.
Việc lựa chọn chế độ tỷ giá xoay quanh hai vấn đề chính: mối quan hệ giữa
các nền kinh tế quốc gia với cả hệ thống toàn cầu và mức độ hoạt tính của các chính
sách kinh tế trong nước.
Vấn đề thứ nhất, thực chất là lựa chọn hệ thống mở cửa hay đóng cửa. Các
phương án đặt ra cho việc lựa chọn hệ thống tỷ giá thiên về hoặc tỷ giá cố định hoặc
tỷ giá linh hoạt hoặc kết hợp cả hai. Nếu quốc gia lựa chọn hệ thống tỷ giá cố định,
là tương đương với việc chọn hệ thống mở cửa, trong đó luôn có sự tương tác giữa
các nhân tố quốc gia và cả hệ thống còn lại. Bởi vì việc hoạch định chính sách đối
nội trở thành ngoại sinh và tuân thủ theo thoả ước tỷ giá khi quốc gia đó lựa chọn
chế độ này.
Ngược lại, phương án tỷ giá linh hoạt, về nguyên tắc, không chấp nhận một
ràng buộc nào vào các chính sách kinh tế đối nội. Các chính sách có tác động gì đi
nữa thì sự giao động tỷ giá sẽ giữ chúng chỉ gây ảnh hưởng trong phạm vi quốc gia.
Và tương ứng với điều đó, kết quả của các chính sách kinh tế nước ngoài dù thế nào
đi chăng thì điều chỉnh tỷ giá sẽ giữ ảnh hưởng của chúng nằm ngoài phạm vi quốc
gia. Vậy việc lựa chọn cơ chế hối đoái linh hoạt đồng nhất với lựa chọn hệ thống
đóng cửa, trong đó tỷ giá linh hoạt sẽ tách rời nền kinh tế quốc gia khỏi môi trường
quốc tế.
Vấn đề mức độ hoạt tính của các chính sách kinh tế đối nội, rõ ràng có các
mức độ khác nhau. Vì tỷ giá cố định thể hiện sự cam kết áp đặt các ràng buộc đối
với chính sách kinh tế quốc gia, không thể theo đuổi chính sách đối nội một cách
độc lập. Ngược lại, tỷ giá linh hoạt là một công cụ chính sách có thể sử dụng để giữ
cho các hoạt động kinh tế của hệ thống quốc tế, có thể thực hiện các chính sách
quốc gia mà không cần quan tâm đến môi trường bên ngoài.
Trang 9
Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn khác để xem xét lựa chọn chính sách tỷ giá
như các hình thức rối loạn kinh tế, đặc thù cơ cấu kinh tế và tính chất rủi ro và các
mục tiêu theo đuổi
Nếu dựa vào các hình thức rối loạn kinh tế. Người ta thường phân biệt rối
loạn thực và rối loạn danh nghĩa để lựa chọn chế độ tỷ giá. Đối với rối loạn danh
nghĩa thì tốt nhất là dùng hệ thống tỷ giá cố định. Ví dụ, sự rối loạn gây ra quá nhiều
tiền cung ứng sẽ dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán do hao tốn dự trữ ngoại tệ để
phục hồi sự cân đối trong thị trường tiền tệ. Rối loạn này sẽ không thực sự ảnh
hưởng tới nền kinh tế vì nó được đảm bảo bằng chế độ tỷ giá cố định. Ngược lại,
các rối loạn thực như rối loạn phát sinh từ sự mất cân đối thị trường hàng hoá, để
chống lại tác động này tốt nhất là sử dụng hệ thống tỷ giá linh hoạt vì các biến động
mức cầu trong nước sẽ dẫn đến thay đổi tỷ giá do đó sẽ điều chỉnh mức cầu ngoài
nước, vì vậy sản phẩm trong nước không bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, tiêu chuẩn này khó thực hiện vì không thể thay đổi chính sách
thường xuyên để đối phó với các hình thức rối loạn, đặc biệt khi mà hiện nay các
hình thức này rất phong phú và đa dạng.
1.1.2.3 Vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Nguyên nhân dẫn tới việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái là sự tách rời giữa tỷ giá
danh nghĩa và thực tế, nhưng sự tách rời này không thể đi quá xa một biên độ nhất
định. Điều quan trọng là phải xác định được biên độ nào sẽ có nhiều tác động tích
cực nhất đến nền kinh tế.
Để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu đã định, Chính phủ các nước đã
sử dụng rất nhiều biện pháp nhưng có hai biện pháp cơ bản nhất thường dùng: Đó là
công cụ lãi suất tái chiết khấu và công cụ nghiệp vụ thị trường mở.
Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái được
thực hiện với mục tiêu thay đổi ngắn hạn về tỷ giá. Tác động của công cụ này được
thực hiện theo cơ chế khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, kéo theo sự thay đổi cùng
chiều của lãi suất thị trường, làm thay đổi lợi tức của các tài sản nội- ngoại tệ sẽ dẫn
tới thay đổi dòng vốn đầu tư quốc tế, cung cầu tài sản nội- ngoại tệ thay đổi và tỷ
giá thay đổi theo. Như khi lãi suất tái chiết khấu tăng, làm cho lãi suất trong nước
tăng, dòng vốn ngắn hạn trên thị trường tài chính quốc sẽ đổ vào trong nước để
Trang 10
hưởng chênh lệch lãi suất. Kết quả, tỷ giá hối đoái giảm và đồng nội tệ tăng giá.
Ngược lại, khi muốn tỷ giá tăng, đồng nội tệ giảm giá sẽ tiến hành giảm lãi suất tái
chiết khấu.
Còn đối với công cụ nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ, thực chất là hoạt động
của ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá
hối đoái. Khi tỷ giá hối đoái lên cao, ngân hàng trung ương sẽ bán ngoại tệ và mua
đồng nội tệ kéo tỷ giá hối đoái giảm xuống. Muốn thực hiện được ngân hàng phải
có dự trữ ngoại hối lớn. Khi tỷ giá hối đoái ở mức thấp, trình tự sẽ ngược lại, dự trữ
ngoại tệ tăng, cung tiền tăng, lãi suất của tiền gửi nội tệ giảm, đồng nội tệ sẽ giảm
giá và đồng ngoại tệ tăng giá.
Ngoài hai công cụ cơ bản nói trên, các quốc gia còn sử dụng một loạt công
cụ khác như: nâng giá tiền tệ, phá giá tiền tệ, quỹ dự trữ bình ổn hối đoái.
1.2 Tác động của chính sách tỷ giá tới ngoại thương.
Cơ sở và mục đích của thương mại quốc tế
Đó chính là lợi thế so sánh và lợi thế nhờ quy mô. Sự khác biệt về tài nguyên
thiên nhiên, trình độ sản xuất và điều kiện sản xuất dẫn tới sự khác biệt về chi phí
sản xuất và giá cả sản phẩm giữa các nước. Thông qua trao đổi quốc tế, các nước có
thể cung cấp cho nền kinh tế thế giới những loại hàng mà họ sản xuất tương đối rẻ
hơn và mua của nền kinh tế thế giới những loại hàng tương đối rẻ hơn từ các nước
khác. Những lợi ích thương mại này càng lớn khi kết hợp với lợi thế kinh tế nhờ quy
mô. Thay vì mỗi nước phải có nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ không khai thác
được công suất tối ưu, các nước khác nhau có thể hợp tác xây dựng những cơ sở sản
xuất có qui mô lớn và mọi người đều được lợi do việc giảm bớt những chi phí về
sản xuất.
Trước hết, dựa vào lợi thế so sánh của mình các nước sẽ xuất khẩu những sản
phẩm mà mình sản xuất tương đối có hiệu quả đó là những hàng hoá cần nhiều
nguồn lực mà họ dồi dào và nhập khẩu những sản phẩm mà họ sản xuất tương đối
kém hiệu quả hay đó là những hàng hoá cần nhiều nguồn lực mà họ không có
nhiều. Do các nước có nguồn lực khác nhau, nên một nước có thể có nhiều lao động,
tài nguyên phong phú nhưng thiếu vốn và trình độ công nghệ trong khi nước khác có
ít lao động nhưng trình độ công nghệ cao nên khi tham gia vào thương mại quốc tế
Trang 11
các nước có thể phát huy được lợi thế của mình. Bên cạnh đó, khi tham gia thương
mại quốc tế khả năng tiêu dùng ở mỗi nước được mở rộng, mỗi người dân được
cung cấp nhiều loại hàng hoá hàng với chất lượng được cải thiện hơn, phong phú
hơn và thoả mãn được những nhu cầu cao hơn.
Mặt khác, dựa vào lợi thế kinh tế nhờ qui mô khi tham gia quan hệ thương
mại quốc tế cũng thu được lợi ích, ngoài những lợi ích thu được từ lợi thế so sánh.
Lợi thế qui mô giải thích tại sao các nước lại tiến hành thương mại trong ngành đó
là việc một nước vừa xuất khẩu và nhập khẩu cùng một loại hàng hoá nào đó. Do
ngày nay sự phát triển của các nước công nghiệp ngày càng trở nên giống nhau về
trình độ công nghệ và các nguồn lực, lợi thế so sánh ở nhiều ngành không bộc lộ rõ
nữa, cho nên để tiếp tục duy trì thương mại quốc tế lợi thế về qui mô thực hiện sự
trao đổi nhiều chiều trong nội bộ ngành được coi là biện pháp chiếm lược. Thông
qua thương mại trong ngành, một nước cùng một lúc có thể giảm bớt số loại sản
phẩm tự mình sản xuất và tăng thêm sự đa dạng của hàng hoá cho người tiêu dùng
trong nước. Do sản xuất ít chủng loại hơn, nước đó có thể sản xuất mỗi loại hàng
hoá ở qui mô lớn hơn, với năng xuất lao động cao hơn và chi phí thấp hơn. Vì vậy,
người sản xuất sẽ có lợi nhuận cao hơn và người tiêu dùng cũng được lợi hơn bởi
chi phí rẻ hơn và có phạm vi lựa chọn rộng hơn.
Mọi quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế đều có thể thu được lợi,
những lợi ích cụ thể này lại phụ thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển của từng
quốc gia. Nhưng cho dù với bất kỳ quốc gia nào thì không thể phủ nhận lợi ích thu
được từ thương mại quốc tế. Và việc sử dụng tỷ giá hối đoái vừa là chính sách, vừa
là công cụ có tác động lớn tới quy mô và mức độ của những lợi ích này.
Vai trò của thương mại quốc tế đến sự phát triển kinh tế của các nước
Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng thương mại quốc tế đều mang lại lợi
ích cho các quốc gia tham gia. Nếu các nước này biết khai thác các cơ sở thương
mại của mình thì sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và có thể đẩy nhanh quá
trình phát triển nền kinh tế.
Trước hết là hoạt động xuất khẩu, có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế
của đất nước. Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần
tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất trong nước, nâng cao trình độ tay nghề và thói
Trang 12
quen làm việc của những lao động trong sản xuất hàng xuất khẩu, tăng thu nhập, cải
thiện mức sống của nhân dân. Bên cạnh đó, ngoại tệ thu được sẽ làm tăng nguồn dự
trữ ngoại tệ giúp cho quá trình ổn định đồng nội tệ và chống lạm phát dẫn đến ổn
định nền kinh tế.
Vai trò của xuất khẩu còn thể hiện ở việc tác động đến việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Điều đó tạo ra những lợi thế so
sánh mới của một nước và thúc đẩy ngoại thương của nước đó phát triển. Khi mà
xuất khẩu càng phát triển, càng có điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
và tăng khả năng cung cấp những nguồn lực khan hiếm cho quá trình sản xuất và
nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Đối với các nước đang phát triển thì xuất
khẩu có thể nâng cao năng lực sản xuất trong nước, còn đối với các nước phát triển
xuất khẩu có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa sản xuất và thị trường.
Với vai trò to lớn đối với nền kinh tế như vậy, các nước cần khai thác hợp lý
những lợi ích thu được từ hoạt động xuất khẩu, nhất là trong giai đoạn đầu khi mới
tham gia vào thương mại quốc tế.
Song song với hoạt động xuất khẩu là hoạt động nhập khẩu. Nếu như xuất
khẩu được coi là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội thì nhập khẩu lại
được coi là nền tảng để thực hiện vai trò đó. Thực tế đã cho thấy, nhập khẩu có thể
tác động trực tiến đến sản xuất, kinh doanh và thương mại thông qua việc đổi mới
trang thiết bị, công nghệ sản xuất, cung cấp các nguồn lực khan hiếm Đồng thời
nhập khẩu còn giúp cho việc cải thiện và nâng cao đời sống dân cư của một nước
bằng việc cung cấp nhiều hàng hoá hơn, chất lượng hơn và rẻ hơn.
Tuy nhiên, không nên khai thác quá mức lợi ích của nhập khẩu, nếu không sẽ
có thể biến quốc gia thành bãi thải của công nghệ lạc hậu, không thúc đẩy sản xuất
trong nước, tạo tâm lý tiêu dùng trong nước không tốt
Tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái tới thương mại
Có thể nói, tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là những công cụ
kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu định
trước của một nước.
Trước hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến
mức giá cả hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước. Khi tỷ giá thay đổi theo
Trang 13
hướng làm giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ
tương đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nước khác ở cả thị trường trong nước và
thị trường quốc tế. Dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tăng,
cầu về hàng hoá dịch vụ nước ngoài của nước đó sẽ giảm và tạo ra sự thặng dư của
cán cân thương mại.
Ví dụ: Trước đây 1USD = 14000VND . 1 chiếc máy tính giá 750USD được
nhập khẩu và tính ra đồng nội tệ của Việt Nam là 10.500.000VND. Đến nay, giả sử
giá chiếc máy tính không đổi, trong khi tỷ giá thay đổi 1USD = 15000VND thì cũng
chiếc máy tính đó được nhập khẩu và bán với giá 11.250.000VND. Giá đắt hơn, nhu
cầu nhập máy tính sẽ giảm. Nhưng đối với xuất khẩu thì ngược lại khi tỷ giá 1USD
= l4000VND, giá xuất khẩu 1 tấn gạo với chi phí sản xuất là 3,5 triệu VND là
250USD, nhưng với chi phí sản xuất không đổi thì giá bán chỉ khoảng 233USD. Giá
giảm cầu xuất khẩu sẽ tăng.
Trong trường hợp ngược lại, khi tỷ giá biến đổi theo hướng làm tăng giá
đồng nội tệ. Sự tăng giá của đồng nội tệ có tác động hạn chế xuất khẩu vì cùng một
lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu sẽ đổi được ít hơn đồng nội tệ. Tuy nhiên, đây
là cơ hội tốt cho các nhà nhập khẩu, nhất là nhập khẩu nguyên liệu, máy móc để
phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước. Đồng thời, lượng ngoại tệ chuyển vào
trong nước có xu hướng giảm xuống làm khối lượng dự trữ ngoại tệ ngày càng bị
xói mòn vì khuynh hướng giá tăng nhập khẩu để có được lợi nhuận, có thể gây nên
tình trạng mất cân đối cán cân thương mại quốc tế.
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái không chỉ tác động trực tiếp đến
ngoại thương thông qua sự tác động của nó đến xuất khẩu, mà còn tác động một
cách gián tiếp đến ngoại thương thông qua sự tác động làm thay đổi luồng di chuyển
tư bản ra vào quốc gia. Như khi tỷ giá thay đổi theo hướng giảm giá đồng nội tệ sẽ
có tác động gia tăng việc thu hút đầu tư nước ngoài. Khi luồng vốn chảy vào trong
nước sẽ tạo điều kiện mở rộng sản xuất trong nước, tránh được những rào cản của
chính sách bảo hộ thương mại, sẽ đẩy mạnh hoạt động ngoại thương.
Những tác động kể trên của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái đến
hoạt động ngoại thương nói riêng và nền kinh tế nói chung làm cho các nhà quản lý
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét