Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Nghiên cứu chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và điều hành quản lý nhà nước về thương mại

iv
Danh mục các từ viết tắt

LHQ Liên hợp quốc
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
WB Ngân hàng thế giới
WTO Tổ chức thơng mại thế giới
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á

NHNN Ngân hàng Nhà nớc
TCTK Tổng cục Thống kê
TCHQ Tổng cục Hải quan
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
CNTT Công nghệ thông tin
XNK Xuất nhập khẩu
NK Nhập khẩu
XK Nhập khẩu
TM Thơng mại
CSG Chỉ số giá
CSDL Cơ sở dữ liệu
DNTN Doanh nghiệp t nhân
EU Liên minh châu Âu
FTA Khu vực thơng mại tự do
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
HS Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu


1
Phần mở đầu

1. Tên đề tài:
Nghiên cứu chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp và điều hành quản lý Nhà nớc
về thơng mại

2. Đơn vị thực hiện
Trung tâm Thông tin Thơng mại - Bộ Công Thơng

3. Tên chủ nhiệm đề tài:
Đỗ Văn Chiến - Giám đốc Trung tâm Thông tin Thơng mại - Bộ
Công Thơng.
Số điện thoại CQ: 04. 8250713 - 7150529 DĐ: 0903219381

4. Sự cần thiết phải nghiên cứu
Giai đoạn 2001 - 2005, tăng trởng xuất khẩu của cả nớc đạt trung
bình 17,4%/năm, cao hơn 1,3% so với mục tiêu đề ra trong Chiến lợc xuất
khẩu thời kỳ 2001 - 2010. Tốc độ tăng trởng trung bình của GDP cùng thời
kỳ là 7,5%.
Tỷ trọng đóng góp của tăng trởng xuất khẩu vào tăng trởng GDP đã
tăng dần đều trong 5 năm qua, từ mức 54,61% trong năm 2001 lên đến 67,6%
trong năm 2005. Nh vậy, bình quân tỷ trọng đóng góp của tăng trởng xuất
khẩu vào tăng trởng GDP trong giai đoạn 2001 - 2005 đạt xấp xỉ 60,9%/năm,
cao hơn 5,9% so với mục tiêu đề ra cho cả thời kỳ 2001 - 2010. Đóng góp của
xuất khẩu vào tăng trởng GDP 5 năm vừa qua là rất lớn.
Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu của cả nớc đạt 15 tỷ USD; năm 2005
đạt hơn 32,44 tỷ USD, tăng hơn 2,16 lần. Số liệu của thời kì 2001 - 2005 cho
thấy rằng: ở mức độ tăng trởng kinh tế 6,89 - 8,4% mức độ tăng trởng xuất
khẩu thờng phải cao gấp hơn hai lần tăng trởng kinh tế. Tỷ lệ này thể hiện
cụ thể ở mức 2,32 lần trong giai đoạn vừa qua.

2
Để đảm bảo tốc độ tăng trởng xuất khẩu cao, hai yếu tố cơ bản là khối
lợng, cơ cấu hàng hàng hóa xuất khẩu và giá hàng hóa xuất khẩu. Giá xuất
khẩu nhiều mặt hàng tăng cao đã góp phần duy trì mức tăng trởng xuất khẩu
cao thời kỳ 2001 - 2005, đặc biệt là năm 2005 và năm 2006. Giá xuất khẩu
tăng khuyến khích xuất khẩu, tăng hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất và
kinh doanh hàng hoá xuất khẩu, tăng hiệu quả của nền kinh tế, trực tiếp thúc
đẩy phát triển sản xuất; kể cả những ngành, những lĩnh vực liên quan trực tiếp
góp phần phát triển kinh tế. Giá xuất khẩu giảm là những tín hiệu thông báo
trực tiếp, cụ thể không chỉ về hiệu quả sản xuất, kinh doanh của lô hàng, mặt
hàng mà còn là cơ sở của định hớng kinh doanh, định hớng phát triển sản
xuất, kinh doanh trong trung và dài hạn.
Giá nhập khẩu tăng, giảm phụ thuộc chủ yếu vào thị trờng thế giới.
Đối với hàng hoá là nguyên, nhiên, vật liệu chủ yếu, cơ bản phục vụ sản xuất
(kể cả sản xuất hàng xuất khẩu) và đời sống, khi giá cả tăng, giảm không chỉ
ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu
mà còn có tác động xã hội sâu sắc, không chỉ ảnh hởng trong ngắn hạn mà
còn tác động trong cả trung và dài hạn.
Giá xuất khẩu, nhập khẩu còn phụ thuộc trực tiếp vào từng thị trờng
xuất khẩu, nhập khẩu. Theo dõi và nắm bắt đợc những khác biệt này là yếu
tố rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng doanh
nghiệp; đồng thời đây còn là tín hiệu quan trọng phục vụ cho công tác điều
hành, quản lý Nhà nớc về thơng mại.
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nớc về kinh tế - thơng mại, việc nắm
bắt đợc diễn biến của giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu một cách hệ thống
và nhanh chóng sẽ là những thông tin cần thiết để thực hiện tốt chức năng của
mình trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế
Việt Nam đang hớng về xuất khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế ở mức độ sâu
hơn và đang tích cực phấn đấu để duy trì đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao.
Hiện nay, Tổng cục Thống kê đã đợc Chính phủ giao nhiệm vụ tính
toán chỉ số giá nói chung, trong đó có chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu. Tuy
nhiên, hệ thống số liệu thống kê về chỉ số giá của Tổng cục Thống kê chủ yếu
để phục vụ điều hành vĩ mô. Cụ thể đối với chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu:
- Là chỉ số dùng để phân tích tăng trởng kinh tế và lạm phát; phân tích
sự biến động của cán cân Thơng mại; dùng để tính quy đổi (deflate) kim
ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo giá cố định

3

- Là thống kê mang tính dài hạn, điều tra thu thập số liệu và tính toán
mỗi quý một lần, số liệu đợc công bố bắt đầu đợc thực hiện theo hàng quý
đối với những chỉ số giá chung, nhóm hàng, mặt hàng lớn.
- Cơ cấu hệ thống chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu đợc công bố theo các
phân nhóm lớn của các ngành kinh tế, phục vụ thống kê kinh tế ngành. Thí dụ,
trong chỉ số giá xuất khẩu chung đợc phân tổ theo hàng tiêu dùng, trong đó có
hàng lơng thực - thực phẩm, phi lơng thực - thực phẩm; Hàng t liệu sản xuất
trong đó có nguyên nhiên vật liệu và hàng máy móc thiết bị phụ tùng.
Chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu của Tổng cục Thống kê không chi tiết
theo mặt hàng, loại hàng cụ thể cần quan tâm, cha phân theo từng thị trờng
cụ thể; cha tính theo tháng và cha kịp thời để trực tiếp phục vụ cho việc ra
quyết định kinh doanh của các doanh nghiệp cũng nh các quyết định kịp thời
trong điều hành quản lý Nhà nớc về thơng mại của Bộ Công Thơng.
Xuất phát từ những nhận định trên đây, rất cần Nghiên cứu chỉ số giá
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và điều hành quản lý Nhà nớc về thơng mại.

5. Tình hình nghiên cứu trong, ngoài nớc
Đến nay, Việt Nam vẫn cha có công trình nào nghiên cứu khoa học
nào đợc công bố, tính đợc chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu một cách chi tiết
và sử dụng nó phục vụ cụ thể, trực tiếp cho việc điều hành kinh doanh cũng
nh quản lý Nhà nớc về thơng mại.
Trên thế giới, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu đã đợc nghiên cứu và
vận dụng trong một khoảng thời gian dài. Đối với Liên hợp quốc, mục đích
của cuộc điều tra giá xuất khẩu, nhập khẩu là để thu thập giá cả xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ để tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu. Theo
thuờng lệ, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu không những phục vụ cho giảm
phát kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu mà còn phục vụ nhiều hơn cho việc
quản lý giá cả, phân tích kinh tế và chính sách thị trờng. Đối với Hoa Kì, đã
xây dựng hoàn thiện Chỉ số giá nhập khẩu (Import Price Index - MPI) và Chỉ
số giá xuất khẩu (Export Price Index - XPI) về hàng hóa và dịch vụ, phục vụ
hiệu quả cho công tác quản lý tầm vĩ mô của nớc này. MPI và XPI bao gồm
những thay đổi về giá cả hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu giữa Mỹ
và các nớc khác trên thế giới. Các số liệu thống kê này đợc công bố thành

4
nhiều bảng biểu khác nhau (theo mục đích sử dụng và nghiên cứu), trong đó
phân loại chi tiết tới từng nhóm hàng và mặt hàng cụ thể (ví dụ nh đờng ăn,
rau, hoa quả, thực phẩm, thịt, thủy sản chế biến và đóng hộp, rợu, hàng dệt
may, da giày, sản phẩm gỗ, giấy, các loại nguyên nhiên vật liệu, hoá chất ).
Số liệu thống kê của Mỹ cũng công bố cho biết về những thay đổi giá hàng
hoá và dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu giữa Mỹ với từng khu vực thị trờng cụ
thể (ví dụ nh với các nớc phát triển, với Canađa, Mêhicô, EU, các nớc Mỹ
la tinh, Nhật Bản, Trung Quốc, các nớc NICs châu
á
, ASEAN, các nớc Cận
Đông châu
á
), (tham khảo chi tiết tại trang web Bộ Lao động Mỹ:
http://www.bls.gov/mxp/home.htm#overview). Đồng thời, cơ sở dữ liệu này
luôn đợc cập nhật thờng xuyên, định kỳ công bố 1 tháng 1 lần, hỗ trợ đắc
lực cho các doanh nghiệp của nớc này hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu,
nhập khẩu. Tại các nớc khác nh Ôxtrâylia, Canađa, Nhật Bản việc xây
dựng và công bố chỉ số giá cũng có nhiều điểm khác với ở Việt Nam, tuỳ
thuộc nhiều yếu tố; trong đó có 1 yếu tố cơ bản là điều kiện kĩ thuật và thu
thập số liệu thuận lợi hơn ở Việt Nam. Các nớc có Ngoại thơng phát triển và
có nền khoa học tiên tiến thờng công bố chỉ số giá 1 tháng 1 lần. Việc
nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm của các nớc phát triển vào thực
tiễn nớc ta là rất quan trọng, đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong điều hành, quản
lý Nhà nớc và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

6. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá ứng dụng của hệ thống chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu do
Tổng cục Thống kê xây dựng và công bố hiện nay phục vụ trực tiếp, cụ thể
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và kinh doanh của các doanh nghiệp và điều
hành quản lý Nhà nớc về thơng mại;
- Tìm hiểu phân tích yêu cầu mới về chỉ số giá và xu hớng ứng dụng
chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu trong kinh tế thị trờng hiện đại, trong hoạt
động thơng mại và điều hành quản lý Nhà nớc về thơng mại hiện nay.
- Định hớng phơng pháp xây dựng và công bố hệ thống chỉ số giá
xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ quản lý Nhà nớc về thơng mại và hoạt động
kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp.




5
7. Đối tợng nghiên cứu
- Các yếu tố tham gia trong xây dựng và hình thành chỉ số giá xuất
khẩu, nhập khẩu của Việt Nam; sự thay đổi của các yếu tố đó trong thời kỳ
2001 - 2005.
- Nhu cầu sử dụng chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu của các cơ quan
quản lý Nhà nớc về thơng mại và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu,
nhập khẩu (bao gồm các tiêu chí cần cung cấp, định kỳ cung cấp, mức độ chi
tiết trong các nhóm hàng hoá cần thống kê ).

8. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Nghiên cứu cách tính toán chỉ số giá xuất khẩu, nhập
khẩu thời kỳ 2001 - 2005 (có tham khảo trong thời kỳ 1991 - 2000), phối hợp
với Tổng cục Thống kê nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ số giá xuất khẩu,
nhập khẩu cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
- Về không gian: trên phạm vi cả nớc.
- Về lĩnh vực: tập trung vào các loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực, hàng
hóa xuất khẩu mới, hàng hóa xuất khẩu có kim ngạch tăng trởng nhanh và
hàng hoá nhập khẩu thiết yếu của Việt Nam; các thị trờng xuất khẩu, thị
trờng nhập khẩu trọng điểm.

9. Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, các phơng pháp chủ đạo đợc sử dụng là
phơng pháp phân tích, phơng pháp thống kê, so sánh và duy vật biện chứng.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng tổng hợp một số phơng pháp khác nh phơng
pháp khảo sát, điều tra, phơng pháp thống kê điển hình và phơng pháp
chuyên gia. Sử dụng công cụ hỗ trợ là công nghệ thông tin với các chơng
trình phần mềm đặc thù cho cơ sở dữ liệu thống kê, phân tích, dự báo.

10. Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chủ yếu của đề tài đợc trình bày trong 3 chơng:


6
Chơng I:
Tổng quan chung về chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu
Chơng II:

Thực trạng chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay và
những yêu cầu đối với chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu.
Chơng III:

Một số định hớng cơ bản về xây dựng và công bố hệ thống chỉ số giá
xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ hoạt động kinh doanh và điều hành, quản lý
Nhà nớc về thơng mại.

7
Chơng I:
Tổng quan chung về chỉ số giá
xuất khẩu, nhập khẩu

I. Khái niệm về chỉ số giá hàng hoá xuất khẩu, chỉ số giá hàng hoá
nhập khẩu (gọi tắt là chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu) và một số
đặc điểm cơ bản về chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu do Tổng cục
Thống kê Việt Nam công bố hiện nay

I.1. Định nghĩa và một số đặc điểm cơ bản của chỉ số giá
xuất khẩu, nhập khẩu:

Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá (giá cả hàng
hoá thờng đợc gọi tắt là giá hàng hoá).
Chỉ số giá là chỉ số chỉ tiêu chất lợng biểu hiện quan hệ so sánh giữa
giá cả của hai thời gian hoặc hai địa điểm khác nhau.
Chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ là những chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp đo biến động giá cả xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá và
dịch vụ mà nhiều nớc trên thế giới đã tiến hành. Liên hợp quốc - cơ quan
thống kê, đã đa ra những chuẩn mực và những giới thiệu nhằm hớng dẫn
nh là một tiêu chuẩn mẫu mực, từ đó các nớc trong Liên hợp quốc, nhất là
các nớc thuộc hệ thống tổ chức Tiền tệ quốc tế (IMF) sát gần nhau về nội
dung và phơng pháp đều tính những chỉ số giá này.
Chỉ số giá xuất - nhập khẩu hàng hoá Việt Nam là thớc đo mức độ biến
động (thay đổi) của giá cả hàng hoá xuất khẩu hoặc nhập khẩu, không bao
gồm các loại xuất - nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam.
Đối với Việt Nam, chỉ số giá xuất - nhập khẩu chỉ tính trên giá cả của
hàng hoá xuất - nhập khẩu (FOB và CIF) và đợc gọi là chỉ số giá xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hoá.
Giá xuất khẩu dùng để tính chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá là giá với điều
kiện giao hàng FOB (Free On Board), giá giao hàng trên boong tàu tại cảng

8
Việt Nam hoặc tại biên giới Việt Nam. Giá nhập khẩu dùng để tính chỉ số giá
nhập khẩu hàng hoá là giá CIF (Cost, Insurance and Freight), giá giao hàng tại
cảng Việt Nam hoặc tại biên giới Việt Nam.
Giá xuất khẩu, nhập khẩu đợc thu thập từ các nhà xuất khẩu, nhập
khẩu và theo giá hợp đồng đã ký kết trong quý, không bao gồm thuế suất thuế
xuất khẩu, nhập khẩu; không quan tâm đến hàng xuất sẽ lên tàu lúc nào và
hàng nhập đã hoặc sẽ về cảng Việt Nam lúc nào.
Mặt hàng đại diện lấy giá xuất - nhập khẩu là các mặt hàng cơ bản, chủ
yếu có tính truyền thống và có tỷ trọng lớn trong nhóm - mặt hàng cơ sở
(Theo danh mục các sản phẩm chủ yếu Việt Nam VCPC, mã 5 số).
Rổ hàng hoá xuất - nhập khẩu Việt Nam không bao gồm hàng mậu
dịch, tạm nhập, tái xuất, hàng xuất khẩu, nhập khẩu của các c dân biên giới,
hàng triển lãm, trng bày , hàng quốc phòng (cho chiến tranh và bảo vệ),
vàng nguyên liệu, đồ cổ, sách báo tạp chí và các sản phẩm văn hoá (đĩa ghi tác
phẩm, tranh, ảnh, phim chiếu các loại), các phát minh khoa học, bản quyền;
máy bay, tàu thuỷ và phụ tùng; toa xe, đầu kéo tàu hoả và phụ tùng.
Đồng tiền tính chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam là đồng Đô la
Mỹ (USD). Tỷ giá quy đổi giá cả thanh toán theo các đơn vị tiền tệ khác nh
Yên Nhật, Mác Đức theo tỷ giá của Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam công
bố trong ngày do đơn vị báo cáo chuyển đổi.

I.2. Một số đặc điểm cơ bản về phơng pháp tính toán
chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu và phơng pháp
tính toán chỉ số giá của Tổng cục Thống kê Việt Nam

I.2.1. Phơng pháp tính toán:
Tùy theo phạm vi tính toán, hay mục đích nghiên cứu ta có thể tính chỉ
số cá thể giá hoặc chỉ số tổng hợp giá. Cách tính cụ thể nh sau:
(a)- Chỉ số cá thể giá cả:

Chỉ số cá thể giá cả đợc tính theo công thức:
0
1
p
p
p
i =
(1)
Trong đó:
i
p
- là chỉ số cá thể giá cả;

9
p
1
- là giá cả hàng hoá kỳ nghiên cứu;
p
0
- là giá cả hàng hoá kỳ gốc.
Chỉ số cá thể giá cả phản ánh biến động giá cả của từng mặt hàng ở kỳ
nghiên cứu so với kỳ gốc.

(b)- Chỉ số tổng hợp giá cả:

Chỉ số tổng hợp giá cả là biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa giá cả của
một nhóm hay toàn bộ hàng hoá ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc, qua đó phản ánh
sự biến động chung về giá cả của các mặt hàng.
Đặc điểm của phơng pháp chỉ số là khi xây dựng chỉ số tổng hợp giá
cả chúng ta không thể tổng hợp một cách đơn thuần, nghĩa là cộng giá đơn vị
của các mặt hàng ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc để so sánh với nhau. Việc cộng
nh vậy là không có ý nghĩa và đồng thời cũng bỏ qua tình hình lu chuyển
(mua, bán, xuất khẩu hoặc nhập khẩu) thực tế của mỗi mặt hàng vốn có tầm
quan trọng khác nhau. Để đa về đại lợng có thể tổng hợp đợc, khi xây
dựng chỉ số tổng hợp giá, ta phải nhân (x) giá của mỗi mặt hàng với lợng lu
chuyển tơng ứng, trên cơ sở đó thiết lập quan hệ so sánh với nhau.
Chỉ số tổng hợp giá cả đợc tính theo công thức:

qp
qp
I
p
0
1
=
(2)
Trong đó:
I
p
là chỉ số tổng hợp giá cả;
p
1
và p
0
là giá cả hàng hoá kỳ nghiên cứu và kỳ gốc;
q là lợng lu chuyển hàng hoá của mỗi mặt hàng.
Trong công thức trên, khối lợng lu chuyển của mỗi mặt hàng (q) đã
tham gia vào quá trình tính toán chỉ số giá và giữ vai trò quyền số phản ánh
tầm quan trọng của từng mặt hàng trong sự biến động chung của giá cả.
Một khía cạnh khác, khi muốn nghiên cứu biến động chỉ số của nhân tố
giá cả thì giá của các mặt hàng ở hai kỳ phải đợc tổng hợp theo cùng một
lợng hàng hoá lu chuyển, nghĩa là phải cố định ở một kỳ nào đó, cả trong tử
số và mẫu số của công thức. Tùy theo mục đích nghiên cứu và nhất là điều
kiện thực tế của số liệu đã tổng hợp đợc, chỉ số tổng hợp giá cả có thể đợc
xác định theo các công thức nh sau:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét