Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
nâng cao hiệu quả Sử dụng vốn tại Sở giao dịch I
5
năng của nó. Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thương mại là trái tim của nền
kinh tế. Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi được
khơi thơng đưa tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho q trình lưu chuyển tiền
tệ một cách hiệu quả. Các chức năng của ngân hàng thương mại có thể được nêu
ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức
năng trung gian tín dụng, trung gian thanh tốn, chức năng tạo tiền của ngân
hàng thương mại.
2.1. Ngân hàng Thương mại - trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại và
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực
hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng là “cầu nối ” giữa cung và cầu
vốn trong nền kinh tế, khơi nguồn vốn từ những người có vốn nhàn rỗi sang
những người có nhu cầu về vốn.
Trong nền kinh tế, do các đơn vị kinh tế có nhu cầu về tiền, vốn vào thời
điểm khác nhau là khác nhau, gây ra hiện tượng thừa, thiếu tạm thời. Ngân hàng
Thương mại là người trung gian có vai trò chuyển đổi kỳ hạn nợ, thay đổi thời
kỳ đáo hạn của các khoản, món nợ.
Ngân hàng Thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho
vay; mặt khác, trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp
ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, của các chủ thể kinh tế góp
phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Như vậy, Ngân hàng Thương mại vừa là người đi vay, vừa là
người cho vay.
Ngày nay, quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hố hơn. Sự
phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện các khía cạnh khác của chức
năng này. Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa cơng ty (khi phát hành cổ
phiếu) với những nhà đầu tư: Chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng
khốn; đảm nhận việc mua bán trái phiếu cơng ty. Theo cách này Ngân hàng làm
trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường. Hơn nữa, tín
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
dụng ngân hàng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố
định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng Ngân hàng góp phần điều hồ vốn trong
nền kinh tế, đảm bảo q trình sản xuất kinh doanh liên tục, là cầu nối giữa tiết
kiệm, tích luỹ và đầu tư. Đưa vật tư hàng hố vào sản xuất lưu thơng, mở rộng
nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, đẩy nhanh q trình tái sản xuất.
Chức năng tín dụng của Ngân hàng Thương mại được hình thành rất sớm,
ngay từ lúc hình thành các Ngân hàng Thương mại. Ngày nay, thơng qua chức
năng trung gian tín dụng, Ngân hàng Thương mại đã và đang thực hiện chức
năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được
mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân.
2.2.Ngân hàng Thương mại-trung gian thanh tốn
Việc làm trung gian thanh tốn của Ngân hàng ngày nay đã phát triển đến
tầm mức rất đa dạng, khơng chỉ là trung gian truyền thống như trước, mà còn
quản lý các phương tiện thanh tốn. Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất
quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các
nước phát triển, phần lớn các cơng tác thanh tốn ở trong nước được thực hiện
thơng qua séc và phần lớn séc thanh tốn ở trong nước được thực hiện bằng
thanh tốn bù trừ thơng qua hệ thống Ngân hàng Thương mại. Với phương pháp
cơng nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính
và các phương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện, thanh tốn bù trừ được nhanh
chóng giảm bớt chi phí và có độ chính xác cao. Q trình lưu thơng chuyển vốn
từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán có một đặc điểm phi vật chất.
Bằng chứng là ở các nước, cơng nghiệp phát triển sử dụng hình thức chuyển tiền
bằng điện tử là chuyện bình thường. Họ thanh tốn bằng nối mang các máy vi
tính của các Ngân hàng Thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ
tài khoản người mua sang tài khoản người bán một cách nhanh chóng tiện lợi.
Như vậy Ngân hàng đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thơng,
đẩy nhanh tốc luận chuyển vốn, thúc đẩy q trình lưu thơng hàng hố.
2.3. Chức năng tạo ra tiền Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng hai
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
cấp.
Vào thế kỷ 19, hệ thống Ngân hàng hai cấp đã được hình thành, các Ngân
hàng khơng còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó Ngân
hàng Trung ương là cơ quan quản lý, về tiền tệ tín dụng là Ngân hàng của các
Ngân hàng còn các Ngân hàng Thương mại, chun kinh doanh tiền tệ.
Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các Ngân hàng Thương mại đã tạo ra
bút tệ. Việc tạo ra bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động Ngân
hàng; Chức năng tạo ra bút tệ được thực hiện thơng qua hoạt động tín dụng và
đầu tư của Ngân hàng Thương mại trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào Ngân hàng
trung ương. Nhờ nhận tiền ký thác của khách hàng, Ngân hàng Thương mại có
khả năng đầu tư. Nhưng khi đầu tư, Ngân hàng tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi
là tiền bút tệ, tiền chuyển khoản Ngân hàng Thương mại trở thành người cung
ứng tiền bút tệ quan trọng, trong nền kinh tế.
Với hàng loạt các nhân tố tác động ảnh hưởng đến q trình tạo tiền, các
nhà kinh tế đường thời đã đưa ra nhiều cơg thức hồn chỉnh. Chẳng hạn như
cơng thức sau của giáo sư người Pháp P.F. LEHAMAN.
Số nhân tiền gửi mở rộng =
rba ++
1
Trong đó:
a: Tỷ lệ dự trữ pháp định.
b: Tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh tốn
r: Tỷ lệ dự trữ dư thừa trên tiền gửi thanh tốn khơng vay hết.
Tiền gửi mở rộng =
rba ++
1
x tiền gửi ban đầu.
Tóm lại, khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một
Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần,
thơng qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh tốn, tín dụng nhiều Ngân hàng.
Khả năng này tạo ra "bội số mức cung tiền tệ" liên quan chặt chẽ với việc cơng
cụ dự trữ bắt buộc, của Ngân hàng trung ương. Chính vì vậy các bút tệ thực sự
thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà cũng có thể gây nên những tai hoạ lớn. Đây là
nhân tố cơ bản trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng Thương mại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Từ ba chức năng cơ bản trên ta cũng có thể thấy được vai trò to lớn của
Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế. Hoạt động của Ngân hàng Thương
mại đẩy nhanh q trình thanh tốn, giảm chi phí giao dịch và tạo mơi trường
thuận lợi cho q trình lưu chuyển vốn của nền kinh tế, nâng cao chất lượng của
q trình tập trung và phân phối nguồn vốn. Ngân hàng Thương mại còn là bộ
máy tạo tiền, nó có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ và
góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mơ dưới sự tác động của Ngân hàng Trung
ương và các chính sách của Nhà nước.
3. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại
Cùng với sự phát triển của Ngân hàng Thương mại, hoạt động và các dịch
vụ của Ngân hàng Thương mại ngày càng được mở rộng. Nhưng nhìn chung,
hoạt động của Ngân hàng Thương mại gồm ba hoạt động chính là hoạt động
động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động trung gian.
* Hoạt động huy động vốn : Là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động
khác của ngân hàng thương mại. Ngân hàng Thương mại bản chất là một tổ chức
trung gian tài chính có đặc điểm hoạt động chủ yếu khơng phải bằng nguồn vốn
chủ sở hữu, vì vậy để có nguồn vốn hoạt động, cung cấp vốn cho nền kinh tế thì
ngồi nguồn vốn chủ sở hữu, ngân hàng thương mại phải huy động những nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thơng qua các hoạt đơng nhận tiền gửi,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay từ các tổ chức tín dụng khác hay từ Ngân
hàng Trung ương.
* Hoạt động sử dụng vốn: Sau khi huy động vốn, để bù đắp được chí phí
huy động vốn và có lợi nhuận thì ngân hàng thương mại pahỉ tìm cách sử dụng
có hiệu quả các nguồn vốn này để thu lãi. Đây là hoạt động chủ yếu và đem lại
tỷ trọng thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng Thương mại. Ngân hàng Thương mại
sử dụng vốn theo các hướng cơ bản là hoạt động tín dụng, đầu tư chứng khốn,
đầu tư mua sắm tài sản cố định và trang thiết bị, hoạt động ngân quỹ trong đó
hoạt động tín dụng là quan trọng nhất bởi nó đem lại phần lớn thu nhập cho
ngân hàng.
* Các hoạt động trung gian của ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
thanh tốn, hoạt động quản lý tài sản cho khách hàng, hoạt động phát hành
chứng khốn, hoạt động mua bán và bảo quản chứng khốn, hoạt động cung cấp
thơng tin, tư vấn kinh doanh và quản trị doanh nghiệp… Các hoạt động trung
gian này khơng phải đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thương mại
nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng hoạt động huy động và sử
dụng nguồn vốn, đồng thời đa dạng hố hoạt động, giảm bớt rủi ro và tăng thu
nhập cho ngân hàng.
Trên đây là ba nhóm hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, mỗi
hoạt động có những đặc điểm khác nhau song có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt
chẽ và bổ sung cho nhau. Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng, khơng được
coi nhẹ hoạt động nào mà phải ln đặt mối quan hệ giữa chúng trong khi đề ra
chiến lược cũng như lập kế hoạch kinh doanh để đạt được hiệu quả trong hoạt
động.
II. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Để hiểu xem một Ngân hàng Thương mại (NHTM) hoạt động như thế nào
chúng ta phải xem xét đến bản quyết tốn tài sản của Ngân hàng đó, là bản kê tài
sản có và tài sản nợ cuả nó. Bảng quyết tốn này liệt kê các kết số, tức là nó có
đặc trưng.
Tổng tài sản có = Tổng tài sản nợ + vốn.
Hơn nữa, bảng quyết tốn tài sản một Ngân hàng liệt kê các nguồn vốn
của Ngân hàng (tài sản nợ) và sử dụng vốn (tài sản có). Các Ngân hàng bằng
nhiều cách để huy động vốn. Sau đó họ dùng vốn này có được tài sản có.
- Bảng quyết tốn của tất cả các Ngân hàng Thương mại thường có kết
cấu dưới dạng sau:
Tài sản có (sử dụng vốn) Tài sản nợ (nguồn vốn)
1. Khoản mục dự trữ 1. Khoản mục tiền gửi
2. Khoản mục CK ngắn hạn 2. Khoản mục đi vay
3. Khoản mục cho vay 3. Các loại vốn uỷ thác
4. Khoản mục đầu tư 4. Vốn sở hữu của Ngân hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
5. Các tài sản có khác
6. TSCĐ tích lũy
1. Nguồn vốn tại Ngân hàng Thương mại
1.1. Nguồn vốn tiền gửi
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất chiếm bộ phận lớn
trong tổng số nguồn vốn của NHTM, thường chiếm khoảng 50 - 60% nhưng
hiện nay tỷ lệ này đang giảm dần.
Theo tính chất giao dịch việc huy động vốn chia làm loại: Tiền gửi giao
dịch và tiền gửi tiết kiệm và nó có thể được chia thành dạng ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn. Nguồn vốn nằm trên tài khoản thanh tốn và tiết kiệm khơng kỳ hạn
là khá lớn bởi vì nó phục vụ cho nhu cầu thanh tốn giao dịch trong nền kinh tế.
Đặc điểm của nguồn vốn này thường là ngắn hạn, khơng ổn bởi vì khách hàng
có thể rút tiền trên tài khoản bất kỳ lúc nào họ có nhu cầu. Ngân hàng sử dụng
vốn phải đối phó với rủi ro thanh khoản hoặc sự ứ đọng vốn nhưng ngược lại chi
phí sử dụng nó rất thấp. Việc huy động nguồn vốn tiền gửi phụ thuộc nhu cầu
thanh tốn của từng cá nhân. Ví dụ như những ngày giáp Tết hay Noel, nhu cầu
chi tiêu lớn, khách hàng thường đến Ngân hàng để rút tiền. Lãi suất cũng có yếu
tố quan trọng có tính cạnh tranh lớn, nhất là trong thời kỳ khan hiếm tiền tệ. Sự
thu hút nguồn tiền gửi phụ thuộc vào mức độ đa dạng hố dịch vụ trình độ cơng
nghệ Ngân hàng hiện đại tạo ra sự thuận lợi cho khách hàng. Uy tín, thâm niên,
sự giao tiếp lịch sự của đội ngũ cán bộ cơng nhân viên ảnh hưởng khả năng huy
động tiền gửi của Ngân hàng. Ngồi ra khả năng sử dụng vốn như khả năng cho
vay, khả năng đầu tư sẽ ảnh hưởng gián tiếp trong việc huy động nguồn vốn.
1.2. Nguồn vốn đi vay
Ngân hàng Thương mại có thể đi vay từ NHNN, các tổ chức tín dụng
khác có thể vay trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
Khi Ngân hàng Thương mại vay vốn từ NHNN nhằm đảm bảo khả năng
thanh tốn, đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đáp ứng nhu cầu cấp tín dụng cho các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
tổ chức tín dụng trong nền kinh tế. Trong trường hợp Ngân hàng Thương mại
gặp khó khăn và có khả năng phá sản mà ảnh hưởng đến hệ thống Ngân hàng,
NHNN có thể cho vay. Khi NHNN cho Ngân hàng Thương mại vay dựa vào các
chứng khốn (chứng khốn cầm cố, chứng khốn chiết khấu), và chỉ cho vay tối
đa 70% giá trị thực tế của chứng khốn đó. Chi phí để có khoản vốn này là khá
lớn, ảnh hưởng đến kế hoạch của Ngân hàng, nhất là lợi nhuận, nên đây là giải
pháp cuối cùng Ngân hàng mới huy động.
Các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng ln là người bạn
đồng hành, người bạn hàng của nhau. Khi một Ngân hàng cần một nguồn vốn
trung và dài hạn hay một dự án lớn đem lại lợi nhuận cao Ngân hàng Thương
mại thường đi vay tức thời với lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng. Hoặc hai
Ngân hàng Thương mại thuộc hai nước có, thời gian làm việc ngược nhau
thường ký kết hợp đồng tín dụng qua đêm để tận dụng nguồn vốn tuy nhiên cách
làm này chi phí hơi cao vì lãi suất tín dụng qua đêm là lãi suất nóng.
Ngồi ra Ngân hàng Thương mại có thể vay vốn trên thị trường vốn và thị
trường tiền tệ thơng qua phát hành các kỳ phiếu ngắn hạn, trái phiếu trung và dài
hạn.
Đặc điểm của nguồn vốn đi vay là ổn định hơn, nguồn vốn tiền gửi nhưng
chi phí vốn cao hơn. Tỷ lệ nguồn vốn đi vay đang có xu hướng chiếm khoản 15 -
20% tổng nguồn vốn Ngân hàng Thương mại. Việc huy động vốn còn phụ thuộc
chính sách tiền tệ của NHNN, các hoạt động nói chung của Ngân hàng Thương
mại và tính năng động của thị trường chứng khốn.
1.3. Các nguồn vốn khác của Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Thương mại ra còn có những nguồn vốn khác như nguồn vốn
uỷ thác, nguồn vốn mà Ngân hàng đứng ra quản lý hộ một tổ chức ra bảo lãnh
cho một tổ chức để đầu tư vào một dự án lớn mang lại lợi nhuận cao, trong
trường hợp này Ngân hàng sẽ hưởng hoa hồng, và hưởng dịch vụ quản lý.
Nguồn vốn trong thanh tốn hình thành từ đặc điểm thanh tốn khơng
dùng tiền mặt khi mà sự vận động giữa hàng hố và tiền tệ ln có một khoảng
thời gian nhất định. Kế tốn ngày một hiện đại thì khoảng thời gian này ngày
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
một rút ngắn, nguồn vốn bị thu hẹp nhưng tăng tính cạnh tranh cho Ngân hàng
Thương mại.
Nguồn vốn hình thành từ các khoản nợ của Ngân hàng nhưng chưa đến
hạn phải trả.
Các loại nguồn vốn này thường chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, Ngân hàng có thể
chủ động sử dụng ít chịu sự rủi ro.
1.4. Vốn chủ sở hữu và các quỹ
Trước khi bước vào hoạt động, mỗi Ngân hàng đều có một khoản vốn
nhất định nhiều hơn hoặc bằng với vốn pháp định do Nhà nước đặt ra, gọi là vốn
điều lệ. Đối với Ngân hàng quốc doanh, vốn điều lệ thường do ngân sách Nhà
nước cấp, các Ngân hàng cổ phần do các cổ đơng đóng góp. Vốn điều lệ phục vụ
cho việc mở rộng, khởi động Ngân hàng, tạo ra cơ sở vật chất ban đầu để Ngân
hàng đi vào hoạt động. Vốn điều lệ thể hiện qui mơ, uy tín của Ngân hàng. Tỷ
lệ vốn nhỏ chỉ chiếm 5 -10% tổng nguồn vốn. Thường các Ngân hàng cổ phần
sau một thời gian hoạt động muốn nâng vốn điều lệ lên bằng cách phát hành
thêm cổ phiếu các nguồn vốn bổ sung được trích trên cơ sở lợi nhuận khơng chia
lợi nhuận sau thuế, hoặc tăng nguồn vốn này bằng cách phát hành trái phiếu
Ngân hàng. Vốn sở hữu của Ngân hàng như một cái đệm chống đỡ sự sụt giảm
giá trị của những tài sản có của Ngân hàng.
Trong Ngân hàng hình thành lên nhiều quĩ dự phòng rủi ro, quĩ phúc lợi
nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, hạn chế rủi ro cho các cơ quan bảo
hiểm, đảm bảo thanh khoản và cung cấp một phần tài sản có bù đắp thua lỗ.
Tóm lại, để có một cơ cấu nguồn vốn tối ưu đảm bảo u cầu ổn định cho
việc sử dụng và tối thiểu hố chi phí đòi hỏi Ngân hàng phải xét đến các yếu tố
về khả năng huy động vốn trong dân cư, uy tín Ngân hàng đồng thời phải quan
tâm đến vấn đề đầu ra. Tránh tình trạng vốn huy động được từ các nguồn vốn
ngắn hạn khơng thể cho vay trung và dài hạn được hay tình trạng ứ đọng vốn do
khơng có dự án khả thi, giảm lợi nhuận của Ngân hàng.
2. Phân loại sử dụng vốn tại Ngân hàng Thương mại
Trong bản quyết tốn, tài sản của một Ngân hàng Thương mại, bên tài sản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
có thể hiện kết quả của việc sử dụng vốn của Ngân hàng đó. Việc sử dụng vốn
trong Ngân hàng Thương mại gồm những mục sau.
2.1. Tiền dự trữ
Đây là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của Ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh tốn thường xun của khách hàng. Ngân
hàng Thương mại phải duy trì một bộ phận vốn, để gửi vào một tài khoản nào đó
như ở NHNN, tổ chức tín dụng các Ngân hàng Thương mại khác và một lượng
được cất giữ tại Ngân hàng đó, gọi là tiền dự trữ. Mức dự trữ cao hay thấp phụ
thuộc vào qui mơ hoạt động của Ngân hàng, mối quan hệ thanh tốn bằng tiền
mặt và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi tiền mặt. Tiền dự trữ hiện hành
khơng có lãi nhưng các Ngân hàng Thương mại vẫn giữ chúng do một số lý do
nhất định. Thứ nhất, theo luật pháp hiện hành, các Ngân hàng Thương mại phải
nộp một tỷ lệ nhất định tiền gửi mà ngân hàng huy động được tại Ngân hàng
Nhà nước( thường là 10%) để đảm bảo tiền gửi. Đây cũng là cơng cụ quan trọng
trong quản lý lưu thơng tiền tệ. Thứ hai, bản thân ngân hàng cũng thấy rõ sự cần
thiết phải giữ một ít tiền mặt mà khơng nên cho vay hết.Việc giữ tiền măt này để
đảm bảo an tồn cho những hoạt động còn lại, do vậy dự trữ tiền mặt trong tài
sản có còn gọi là “ khoản đầu tư cho sự an tồn”. Ngồi ra, các ngân hàng nhỏ
gửi tiền vào các ngân hàng lớn để đổi lấy các dịch vụ khác nhau như tập hợp
séc, giao dịch ngoại tệ. Các khoản này có tính lỏng nhất trong các loại tài sản có
của ngân hàng chiếm khoảng 7% tổng tài sản, phục vụ nhu cầu thanh khoản tại
ngân hàng.
2.2. Đầu tư vào chứng khốn
Có thể thấy Ngân hàng Thương mại thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng
khốn nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng
hố các loại hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro.Trong việc đầu tư vào chứng
khốn, Ngân hàng Thương mại chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái
phiếu có tính thanh khoản cao. Đây là những cơng cụ chính của thị trường tiền
tệ tài chính. Việc mua và dự trữ các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập
cho ngân hàng, mặt khác chúng là những cơng cụ tài chính dễ lưu động hố, vì
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
vậy khi cần tiền ngân hàng có thể bán hoặc chiết khấu ở ngân hàng khác hoặc ở
NHNN.
2.3. Tiền cho vay
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng Thương
mại để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí
tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trơi nổi, chi phí
thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư.
Kinh tế càng phát triển, hướng cho vay của các Ngân hàng Thương mại
càng tăng và loại hình cho cũng trở nên vơ cùng đa dạng. Ở hầu hết các nước
cơng nghiệp trong nhóm 10 và 15 nước hàng đầu thế giới, cho vay của các Ngân
hàng Thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. Khu
vực cho vay ngắn hạn nhường chỗ cho thị trường tiền tệ tài chính cung ứng.
Ngược lại hầu hết các nước đang phát triển cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận
lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an tồn cho các khoản đầu tư dài
hạn.
Nhưng nói chung, lợi nhuận chủ yếu của Ngân hàng vẫn là hoạt động cho
vay hay nói rộng ra là hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 67% tổng
tài sản của Ngân hàng ở dạng tiền cho vay tạo ra hơn 60% thu nhập của Ngân
hàng khác bởi chúng khơng thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản vay
mãn hạn và cũng có xác suất rủi ro vỡ nợ cao hơn.
Theo thời gian, các khoản cho vay có thể chia thành các khoản cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay ngắn hạn thường đáp ứng nhu cầu về
vốn lưu động hay khó khăn tạm thời về vốn. Cho vay trung và dài hạn thường
đáp ứng nhu cầu cho những dự án lớn, hay đổ mới dây chuyền cơng nghệ Việc
phân loại theo thời gian giúp Ngân hàng lập kế hoạch để huy động vốn và đầu
tư.
Phân loại theo đối tượng cho vay, có khoản cho vay cơng nghiệp, cho vay
nơng nghiệp, cho vay tiêu dùng.v.v. Các Ngân hàng cho vay cơng nghiệp thường
dựa vào tính chất, chu kỳ kinh doanh, để đáp ứng mục đích, và mang lại hiệu
quả sử dụng vốn. Cho vay nơng nghiệp dựa vào thời vụ và rủi ro do tự nhiên.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét