Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long

Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 5 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
2.1.1 Các khái niệm cơ bản:
2.1.1.1 Kinh tế nông nghiệp:
a) Nông nghiệp:
- Nông nghiệp: theo nghĩa rộng là tổng hợp các ngành sản xuất gắn liền
với các quá trình sinh học (đối tượng sản xuất là những cơ thể sống) gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
- Nông nghiệp: theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi. Ngành
trồng trọt và chăn nuôi lại được phân ra thành những ngành nh
ỏ hơn, các ngành
đó có mối quan hệ mật thiết với nhau và cùng hợp thành ngành sản xuất nông
nghiệp.
b) Cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là những tổng thể các bộ phận hợp thành
kinh tế nông nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau về chất lượng và hợp
thành hệ thống kinh tế nông nghiệp.
- Theo nghĩa rộng: kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế
bao gồm các
ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
- Theo nghĩa hẹp: kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế bao gồm kinh tế
ngành trồng trọt và chăn nuôi.
c) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Là sự thay đổi quan hệ tỉ lệ về mặt lượng giữa các thành phần, các yếu tố
và các bộ phận hợp thành nền kinh tế nông nghiệp theo xu hướng nhất
định.Chuyển dịch c
ơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp cũng có thể diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác.
* Chuyển dịch tự phát: là quá trình kinh tế nông nghiệp chuyển dịch
không theo một xu hướng mục tiêu định trước mà là chuyển dịch phụ thuộc vào
tác động của qui luật và điều kiện kinh tế khách quan.
Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 6 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

* Chuyển dịch tự giác: là sự chuyển dịch theo một xu hướng, mục tiêu sẵn
có cả về lượng và chất, là sự chuyển dịch có sự can thiệp, tác động của con người
nhằm thúc đẩy, định hướng cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo xu hướng có lợi và
hiệu quả hơn.
2.1.1.2 Kinh tế nông thôn:
Kinh tế nông thôn là một bộ phận hợp thành kinh tế quốc dân, là tổng thể
các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn g
ồm các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về
chất lượng và theo tỉ lệ nhất định về số lượng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn là một quá trình biến đổi thành phần và quan hệ tỉ lệ các ngành kinh tế nông
nghiệp và dịch vụ từ trạng thái này sang trạng thái khác theo những xu h
ướng
nhất định.Cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác.
2.1.1.3 Nông nghiệp bền vững:
Năm 1991 theo Fao đưa ra định nghĩa như sau: “phát triển bền vững là
quá trình quản lí và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự
thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức đảm bảo đạt đượ
c sự thỏa
mãn một cách liên tục các nhu cầu con người ở thế hệ hiện tại cũng như thế hệ
tương lai. Sự phát triển như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp ( nông nghiệp, lâm
nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn gen động
thực vật, không làm suy thoái môi trường, hợp lí về kĩ thuật, dễ thấy về lợi ích
kinh tế
và chấp nhận về mặt xã hội”. 4 tiêu chí cho nông nghiệp bền vững là:
+ Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương
lai.
+ Đối với những người trực tiếp làm nông nghiệp thì phải đảm bảo việc
làm, đủ thu nhập và điều kiện sống đảm bảo lâu dài.
+ Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên
nhiên và kh
ả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không
phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không
phá vỡ bản sắc văn hóa xã hội của cộng đồng sống ở nông thôn.
+ Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp.
Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 7 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

2.1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp:
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh là cơ cấu nông – lâm –
ngư, trong đó nông nghiệp chiếm tỉ trọng tương đối lớn. Chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp của tỉnh trong điều kiện ngày nay thực chất là chuyển từ nông thôn
thuần nông sang nông thôn đa dạng hóa ngành nghề, trong nông nghiệp xây dựng
nhiều mô hình sả
n xuất đa dạng về cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt trong lĩnh vực
ngư nghiệp việc nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển nhanh nhất đặc biệt là
trong lĩnh vực nuôi công nghiệp, đây là mũi đột phá của ngành trong cơ cấu kinh
tế nông nghiệp. Đồng thời phát triển theo hướng bền vững, công nghiệp hóa -
hiện đại hóa.
2.1.3 Sự cần thiết thực hiện việc chuyển dị
ch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Một cách tổng quát, cơ cấu nông nghiệp truyền thống bao gồm các ngành
sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản. Từ xã hội nông
nghiệp bước sang xã hội công nghiệp, nhờ tác động công nghiệp, nông nghiệp
được công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngoài các ngành truyền thống như trên còn
có thêm các ngành như: chế biến lương thực, thực phẩm, chế biế
n thủy sản, dịch
vụ nông nghiệp,…mang tính chuyên môn hóa. Và khi bước sang xã hội hậu công
nghiệp, lại phát sinh thêm những ngành mới như: công nghệ sinh học, tin học
nông nghiệp, để có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh trong tương lai.
Sản xuất nông nghiệp tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của
con người do đó sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng chịu sự tác động mạnh mẽ của
nhu cầu th
ị trường, thị hiếu, sức mua dân cư, chẳng những chịu sự tác động trực
tiếp của thị trường trong nước mà còn chịu ảnh hưởng cạnh tranh của sản phẩm
ngoại nhập. Cùng tốc độ của tăng trưởng kinh tế, thu nhập và sức mua của tầng
lớp dân cư cũng tăng tương ứng, mức sống được nâng lên, mặt tích cực là đã tác
động kích thích các ngành s
ản xuất nông nghiệp phải tăng trưởng nhanh để
không chỉ đáp ứng về mặt số lượng và chất lượng do nhu cầu tiêu dùng đã tăng
rất cao. Chính những đòi hỏi này về mặt hàng nông sản đặt ra yêu cầu bức xúc
phải điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp.



Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 8 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập từ niên giám thống kê của tỉnh về nông – lâm – ngư,
báo cáo về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh.
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu:
- Đối với mục tiêu nghiên cứu 1: sử dụng phương pháp thống kê, mô tả
thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xu
ất, sản lượng,
diện tích qua đó đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu giữa ngành trồng trọt, chăn nuôi
và thủy sản.
- Đối với mục tiêu nghiên cứu 2: so sánh hiệu quả việc chuyển dịch giữa
các ngành trồng trọt, thủy sản vì đây là 2 ngành có những hiệu quả nhất định
trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; phân tích và đánh giá hiệu
quả sả
n xuất của các mô hình luân canh lúa màu so với mô hình cũ dựa trên phân
tích các tỉ số tài chính trên 1 ha đất canh tác.
Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sản xuất như:
+ Thu nhập/chi phí: 1 đồng chi phí đầu tư thì sẽ thu được bao nhiêu đồng
thu nhập nhằm xác định hiệu quả khai thác sử dụng vốn trên đơn vị đất canh tác.
+ Lợi nhuận/chi phí: 1 đồng chi phí bỏ ra thì sẽ thu được bao nhiêu đồng
lợi nhuận nhằm đánh giá hi
ệu quả đầu tư của các mô hình.
+ Lợi nhuận/thu nhập: nhằm xác định khả năng sinh lời từ hoạt động sản
xuất.
- Đối với mục tiêu nghiên cứu 3: chỉ ra một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của
tỉnh dựa trên kết quả đánh giá thực trạng chuyển dịch c
ơ cấu sản xuất nông
nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất.







Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 9 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

CHƯƠNG 3

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG VÀ THỰC
TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP.

3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG:
3.1.1 Điều kiện tự nhiên:
3.1.1.1 Vị trí địa lí:
Vĩnh Long nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL),
nằm giữa hai sông Tiền và sông Hậu, tọa độ địa lí 9
0
52

45

đến 10
0
19

50

vĩ độ
Bắc và từ 104
0
41

25

đến 106
0
17

00

kinh độ Đông. Phía Đông Bắc giáp tỉnh
Tiền Giang và Bến Tre, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây và
Tây Nam giáp Cần Thơ và Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.
Cũng như các tỉnh ĐBSCL, Vĩnh Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của
vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, đặc biệt là TPHCM và Cần Thơ. Vị trí đó vừa
là thuận lợi, nhưng cũng là thách thức nhất là trong việc thu hút đầu tư nước
ngoài và thu hút
đầu tư lao động chất lượng cao. Mặt khác, Vĩnh Long là nơi tập
trung đầu mối giao thông thủy và bộ mà không tỉnh nào ở ĐBSCL có được, vị trí
đó giúp Vĩnh Long mở rộng giao thương thuận lợi với các vùng trong khu vực và
cả nước. Do đó, phát huy đúng mức lợi thế về vị trí địa lí này sẽ giúp Vĩnh Long
chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế.
Vĩnh Long có tổng diện tích tự nhiên là 147.204,84 ha (có qui mô nh

nhất trong các tỉnh ĐBSCL). Diện tích đất nông nghiệp là 119.135 ha (80,93%).
Trong đất nông nghiệp được chia ra thành: đất canh tác cây hàng năm, đất trồng
cây lâu năm và mặt nước nuôi trồng thủy sản. Chất lượng đất tương đối cân đối
các thành phần NPK, thích hợp cho phát triển ngành trồng trọt. Vùng đất ngập
nước thích hợp cho việc trồng lúa, vùng đất bãi bồi ở các cù lao thích hợp cho
việc phát triển các loại cây ăn trái.




Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 10 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình:
Vĩnh Long có địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2
0
cao trình
khá thấp so với mực nước biển (62,85% diện tích có cao trình dưới 1,0 m). Ở
trung tâm tỉnh có dạng lòng chảo và cao dần về hướng bờ sông Tiền, sông Hậu,
sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn. Trên từng cánh đồng có những chỗ gò
(cao trình 1,2 – 1,8 m) hoặc trũng cục bộ (cao trình dưới 0,4 m). Vĩnh Long có
thể chia làm 3 cấp địa hình như sau:
+ Vùng có cao trình từ 1,0 – 2.0m (chiếm 37,17% diện tích), phân bố
ven sông Tiền, Sông Hậu, sông Mang Thít và các rạch lớn và vùng đất giồng gò
cao của huyện Vũ
ng Liêm, Trà Ôn. Do cao trình lí tưởng, ít ngập lũ và phân bố
ven sông, thuận tiện giao thông, nên đây chính là địa bàn chủ yếu cho hoạt động
công nghiệp, đô thị và dân cư nông thôn. Cơ cấu kinh tế vùng này là cây ăn trái,
cây công nghiệp ngắn ngày (mía, cói), lúa, màu và tiểu thủ công nghiệp.
+ Vùng có cao trình từ 0,4 – 1,0 m (chiếm 61.53% diện tích), với tiềm
năng tưới tiêu tự chảy khá lớn, khả năng tăng vụ cao. Đất trồng cây lâu năm
không thích hợp vì thường bị lũ. Vùng bắc qu
ốc lộ 1A (huyện Bình Minh giáp
với Đồng Tháp) là vùng chịu ảnh hưởng lũ hằng năm, dân cư phân bố ít. Cơ cấu
kinh tế của vùng này là lúa cao sản 2 -3 vụ/năm.
+ Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4m (chiếm 1,3% diện tích), có địa hình
thấp trũng, ngập sâu, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa 2 vụ (đông xuân
– hè thu, hè thu – mùa) trong điều kiện quản lí nước tốt.
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn:
a) Khí h
ậu: Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng
ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào.
+ Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hằng năm từ 25 – 27
0
C, nhiệt độ tối
thấp17,7
0
C. Biên độ nhiệt bình quân giữa ngày và đêm là 7,3
0
.
+ Bức xạ: bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng 7,5 giờ/ngày,
bức xạ quang hợp/năm là 79.600 cal/m
2
. Thời gian chiếu sáng bình quân từ 2.550
– 2.700 giờ/năm.
Điều kiện thuận lợi về nhiệt và bức xạ dồi dào đã tạo thành lợi thế
nhiệt đới cho phép sản xuất các đặc sản xuất khẩu.
Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 11 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

+ Độ ẩm: độ ẩm không khí bình quân 80 – 83% tháng cao nhất (tháng
9) 88% và tháng thấp nhất (tháng 3) là 77 %.
+ Gió: trong năm có hai hướng gió chính: gió Đông Bắc thổi từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau và gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10, ở Vĩnh Long
hầu như không có bão.
+ Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi bình quân của tỉnh khá lớn khoảng
1400 – 1500mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/tháng vào mùa khô là 116 –
179mm/tháng.
+Mưa: lượng mưa bình quân 1.450 -1.504mm/năm số ngày mưa bình
quân 100 – 115 ngày/năm. Số lượng m
ưa tập trung vào mùa mưa (từ tháng 4 đến
tháng 10), ngày bắt đầu mưa từ 12 đến 15/5 và ngày kết thúc mùa mưa từ ngày 4
đến 13/11( tần suất 75%).
Cá biệt năm 1998 do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino và Lanina nên
khí hậu thời tiết có diễn biến phức tạp, khác thường; năm 2000 vàv 2001 cả
ĐBSCL bị ngập lũ lớn nhất trong 60 năm nay.
So với cả nước, Vĩnh Long là nơi có điều kiện khí hậ
u ưu đãi, rất hiếm
khi có hiện tượng khí hậu khắc nghiệt như ở miền Bắc nên ảnh hưởng tốt đến sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do lượng mưa chỉ tập trung vào mùa mưa trùng
hợp với mùa lũ tạo ngập úng ở những vùng trũng thấp (vùng phía Bắc quốc lộ 1A
là yếu tố hạn chế đối với sản xuất nông nghiệp ở vùng này).
b) Thủ
y văn: Vĩnh Long cách biển Đông gần 200 km nên hầu như không có
nước mặn. Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của
biển Đông thông qua hai nhánh sông chính là sông Tiền và sông Hậu với sông
Mang Thít nối liền hai sông này. Mực nước và biên độ triều khá cao, triều cường
mạnh, biên độ triều vào mùa lũ khoảng 70 – 90 cm và vào mùa khô dao động từ
140 – 144 cm, kết hợp với hệ thống kênh rạch khá ch
ằng chịt (mật độ 67,5 m) tạo
tiềm năng tưới tự chảy cho cây trồng rất lớn, khả năng tiêu rút nước tốt, chủ yếu
tập trung ven bờ sông Tiền, sông Hậu và sông Mang Thít là những nơi có thế đất
cao hơn. Ngoài ra, hệ thống sông rạch phong phú với chế độ thủy văn bán nhật
triều còn là tiềm năng lớn để phát triển giao thông. Tuy nhiên, do phần lớn diện
tích (62,85%) có cao trình mặt đất khá th
ấp (dưới 1,0m) nhiều vùng bị ngập sâu,
khó tiêu thoát nên phân bố đất trồng cây hàng năm (lúa). Những vùng đất không
Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 12 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

ngập lũ hoặc ngập nông, có thế đất cao, tập trung ven hai bờ sông Tiền, sông Hậu
và ven sông rạch lớn, nơi đây trồng cây lâu năm và hoa màu trồng cạn, thổ cư
xen lẫn đất vườn.
Đặc điểm thuận lợi của tỉnh là có nguồn nước ngọt quanh năm dồi dào,
hệ thống kênh rạch khá dày, phân bố đều, kết hợp tác động thủy triều, khả năng
tả
i lượng nước lớn, trữ lượng nước cao, tạo điều kiện cho chủ động tưới tiêu, có
thể khai thác thích hợp cho thâm canh, tăng vụ, cải tạo đất và ngọt hóa môi
trường nông nghiệp so với các tỉnh khác ven biển Đông và biển Tây thuộc
ĐBSCL.
Tuy nhiên, một số tiểu vùng trũng thấp bị ảnh hưởng nhẹ bởi nước
nhiễm phèn (các huyện Bình Minh, Vũng Liêm, Mang Thít, Trà Ôn). Tiềm năng
khai thác và nuôi trồng thủ
y sản khá lớn.
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên:
3.1.2.1 Tài nguyên đất: theo kết quả điều tra thổ nhưỡng của chương trình
đất, Vĩnh Long có 4 nhóm đất chính: đất phèn chiếm 70,16% diện tích, đất phù
sa chiếm 29,54% diện tích, đất cát giồng chiếm 0,21% và đất xáng thổi chiếm
0,09% diện tích.
+ Đất phèn: có diện tích lớn nhất 92.278,13 ha (70,16%), phân bố chủ
yếu ở các vùng thấp trũng của huyện Bình Minh, Tam Bình, Vũng Liêm, Long
Hồ, Mang Thít…Khác với đất phèn vùng tứ giác Long Xuyên và vùng Đông
Tháp Mườ
i, đất phèn ở đây có tầng sinh phèn nằm khá sâu so với mặt tiền đất
nên ít ảnh hưởng đến canh tác, hiện nay nơi đây là vùng lúa năng suất cao của
tỉnh (canh tác 2 -3 vụ/năm), tiềm năng phát triển cây lúa còn lớn nếu trình độ
thâm canh được nâng cao.
+ Đất phù sa: diện tích 38.852,56 ha (29,54%), phân bố tập trung ở
vùng đất cao hai bên sông Tiền – sông Hậu và cù lao giữa sông thuộc các huyện:
Trà Ôn, Vũng Liêm, Bình Minh, Long Hồ, thị xã Vĩnh Long. Đây là nhóm đất
không phèn, thuận lợ
i cho canh tác lúa màu, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản.
+ Đất cát giồng: có qui mô diện tích nhỏ: 113,794 ha (0,21%) phân bố
tập trung ở huyện Trà Ôn, Vũng Liêm, hiện trạng chủ yếu làm đất thổ cư và canh
tác cây ăn trái, rau màu. Nhóm đất này có tiềm năng thích nghi hoa màu trồng
cạn và cây ăn trái.
Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 13 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

+ Đất xáng thổi: qui mô diện tích đất nhỏ (0,09%) phân bố ở vùng ven
sông Mang Thít của huyện Tam Bình. Địa hình cao, thích hợp làm đất ở và đất
xây dựng, trồng cây ăn trái và mía.
Nhìn chung, các kết quả đánh giá đất đai của tỉnh cho thấy: vùng trung tâm tỉnh
phần lớn diện tích đất thấp nên thích nghi cơ cấu 2 – 3 vụ lúa hoặc cơ cấu lúa
mùa hoặc cơ cấu lúa – màu. Vùng ven sông Tiền, Sông Hậu và sông Mang Thít
do thế đất cao hơn, đa số thích nghi c
ơ cấu cây trồng: lúa – màu hoặc chuyên
màu và cây ăn trái đặc sản. Lợi thế khí hậu nhiệt đới cần phải được lưu ý để phát
triển các sản phẩm nông nghiệp, nhiệt đới vốn rất được yêu thích ở thị trường
Châu Âu.
3.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản: kết quả điều tra các khoáng sản sét và cát
sông của Công ty địa chất khoáng sản (GEOSIMCO), tỉnh Vĩnh Long có:
+ Cát sông: trữ lượng khoảng 70 triệu m
3
, phân bố chủ yếu ở khu vực
phà Mỹ Thuận. Cát thô sử dụng cho trộn hồ, làm gạch không nung. Ngoài ra, ở
hầu hết các huyện trong tỉnh đều có đất pha sét dùng làm đập thủy nông.
+ Sét: trữ lượng khoảng 92 triệu m
3
phân bố chủ yếu ở thị xã Vĩnh
Long và huyện Long Hồ. Thành phần sét gồm có Kaolinite, thích hợp để làm
nguyên liệu sản xuất đồ gốm, gạch ngói. Sét là loại tài nguyên có lợi thế của
Vĩnh Long, từ sét Vĩnh Long đã có đồ gốm xuất khẩu sang Châu Âu.
3.1.2.3 Tài nguyên sinh vật: Vĩnh Long có hệ động vật và thực vật phong
phú, đa dạng có nhiều loại quí hiếm.Thảm thực vật trên đất nông nghiệp bao g
ồm
tập đoàn cây ngắn ngày và cây dài ngày, cây ngắn ngày chủ yếu là lúa nước,
phân bố khắp toàn tỉnh và vùng ĐBSCL. Lúa nước là cây có qui mô phát triển
hàng đầu so với các loại cây ngắn ngày khác, nó tỏ ra thích hợp với môi trường
sinh thái ở ĐBSCL đã, đang và sẽ còn phát triển mạnh ở đây. Bên cạnh cây lúa
nước, Vĩnh Long còn có hầu hết các loại cây ngắn ngày nhiệt đới như: màu
lương thực, cây công nghiệp, rau quả và cây thuốc.
Trong tập
đoàn cây dài ngày có dừa, cây ăn trái ( xoài, chôm chôm,
nhãn, cam, quýt, chanh, bưởi, măng cụt, sầu riêng…) đặc biệt bưởi năm roi ở
Bình Minh và cam sành ở Tam Bình là hai đặc sản mà không nơi nào ở ĐBSCL
có chất lượng bằng và là sản phẩm xuất khẩu có triển vọng.
Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long
GVHD: Trương Chí Tiến 14 SVTH: Lê Thị Bích Trâm

Hệ động vật cũng rất phong phú: heo, bò, trâu, gà, vịt… đều đã được
thuần dưỡng từ rất lâu đời, những giống ngoại nhập cũng thích nghi tốt với môi
trường địa phương.
Nguồn tài nguyên thủy sản rất phong phú, gồm thủy sản nước ngọt và
lợ. Vĩnh Long có 3 hệ sinh thái thủy sản chính: hệ kênh rạch, hệ ao hồ mương
vườn, hệ ruộng lúa, là tiềm nă
ng phát triển thủy sản chưa được khai thác tốt.
3.1.3 Tiềm năng kinh tế:
3.1.3.1 Tiềm năng du lich:
Cũng như các tỉnh khác nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long
có tài nguyên du lịch mang đặc thù của sông nước, kênh rạch, miệt vườn. Các thế
mạnh để phát triển du lịch thể hiện ở những danh lam thắng cảnh, những di tích
văn hóa, cùng như di tích lịch sử của Vĩnh Long, tỉ lệ người Kh
ơme thấp nhưng
vẫn mang đậm nét văn hóa truyền thống riêng như: lễ vào năm mới, lễ cúng ông
bà, lễ hội cúng trăng, lễ dâng bông, lễ dâng phước của người Khơme luôn là thời
điểm hấp dẫn du khách tham quan, nhất là những khách du lịch muốn tìm hiểu về
văn hóa, tín ngưỡng.
3.1.3.2 Những lĩnh vực kinh tế lợi thế:
Nguồn tài nguyên không nhiều nhưng đa dạng, nông sản làm nguyên
liệ
u cho công nghiệp chế biến, đất sét, cát tạo điều kiện để phát triển công nghiệp
vật liệu xây dựng và gốm sứ. Nhiều ngành, nghề truyền thống là cơ sở để phát
triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và tham gia xuất khẩu.
3.1.4 Dân số, lao động:
Dân số trung bình của Vĩnh Long năm 2000 là 1 triệu người, năm 2007
là 1,057 triệu người, mật độ dân số trung bình 708 người/km
2
vào hàng cao nhất
của ĐBSCL. Nguồn lao động dồi dào và tỉ lệ tăng khá nhanh, đa số là lao động
nông, lâm, ngư ở tỉnh đều chưa qua đào tạo chiếm tới 97,32%, tỉ lệ lao động đã
qua đào tạo ở các bậc sơ cấp, trung cấp, cao dẳng và đại học chỉ chiếm 2,69%.
Những con số cho thấy hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư còn mang nặng tính
tập quán, truyề
n thống, trình độ của người lao động còn hạn chế, gây khó khăn
cho việc hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét