Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Bán phá giá trong thương mại

Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
và thương mại), các biện pháp chống bán giá chính thức được đặt dưới sự chi
phối của pháp luật quốc tế. Năm 1967, một số quy định về chống bán phá giá tại
GATT được chuẩn hoá trong Hiệp định về thi hành điều VI của GATT
(Agreement on the Implementation of Article VI), thường được gọi tắt là Hiệp
định chống bán phá giá. Hiệp định này không chỉ quy định về chống phá giá, mà
còn qui định các biện pháp chống tài trợ đối với hàng nhập khẩu đã được tài trợ
tại nơi sản xuất.
Là một trong những hiệp định thương mại đa biên của WTO, Hiệp định
chống bán phá giá có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của
WTO. Các quy định trong Hiệp định là cơ sở pháp lý giúp các nước bảo hộ quyền
lợi chính đáng của các ngành sản xuất trong nước khi xảy ra hiện tượng bán phá
giá. Năm 1995, WTO đã thành lập Uỷ ban về chống bán phá giá để giám sát việc
điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước thành viên. Sau khi
phát hiện ra hàng hoá bị bán phá giá có khả năng ảnh hưởng đến sản xuất trong
nước, các ngành đó đề nghị những cơ quan hữu trách thực hiện việc điều tra và
đưa ra kết luận về việc có thực hiện hay không thuế chống bán phá giá để bảo vệ
sản xuất trong nước.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định các biện pháp chống bán
phá giá chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng
được 4 điều kiện sau:
- Sản phẩm đang bán phá giá: Sản phẩm của nước xuất khẩu đang được bán
ở thị trường của nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn giá bán thông thường của
sản phẩm đó ở trên thị trường nước xuất khẩu.
- Có sự thiệt hại về vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe doạ
gây ra đối với các doanh nghiệp nội địa đang sản xuất các sản phẩm tương tự với
5
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
sản phẩm bán phá giá, hoặc gây ra sự trì trệ đối với quá trình thành lập của một
ngành công nghiệp trong nước.
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại vật chất (hoặc
đe doạ gây ra thiệt hại vật chất) do chính hành động bán phá giá đó gây ra. Cơ
quan điều tra không được áp đặt cho hàng nhập khẩu những gì do các yếu tố khác
gây ra.
- Tác động của bán phá giá phải có tính bao trùm, ảnh hưởng tới cộng đồng
rộng lớn.
b. Thuế chống bán phá giá
Thuế chống phá giá được ra đời từ những năm đầu của thế kỷ 20, trước hết
tại Canada (1904), sau đó đến New Zealand (1905), Australia (1906), Mỹ (1914).
Thuế chống bán phá giá là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu, khi một
doanh nghiệp sản xuất bị nhận định là đã bán phá giá. Về bản chất, thuế chống
bán phá giá là khoản thuế bổ sung đánh vào hàng nhập khẩu, nhằm triệt tiêu tác
dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá đối với sản phẩm đó (điều VI.2 của Hiệp
định GATT). Mục tiêu chính của thuế chống bán phá giá là nhằm vô hiệu hóa
việc bán phá giá, bù đắp những tổn thất do bán phá giá và cạnh tranh không lành
mạnh gây ra cho các doanh nghiệp của nước nhập khẩu hàng bán phá giá.
Có thể nói, thuế chống bán phá giá (anti-dumping) là một trong các công cụ bảo
hộ được coi trọng và sử dụng nhiều nhất. WTO cho phép các nước thành viên
được áp đặt các biện pháp chống bán phá giá trong khuôn khổ pháp luật của
mình. Tuy nhiên, các nước đang phát triển vẫn thường phản đối điều này, đặc biệt
là phản đối một số quốc gia thường sử dụng các biện pháp chống bán phá giá vào
mục đích bảo hộ ngành công nghiệp nội địa. Từ đó, nhiều chuyên gia kinh tế cho
rằng, chính sách cạnh tranh có thể là công cụ tốt hơn để giải quyết các trường hợp
6
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
phá giá với điều kiện tất cả các nước thành viên của WTO sẵn sàng theo đuổi
những chính sách cạnh tranh có hiệu quả. Và cho tới khi điều này xảy ra, các quy
tắc về chống phá giá chỉ tạo nên một cơ chế pháp lý hiệu quả chống lại cạnh tranh
bất chính nếu nó hợp pháp và công bằng, nhằm giải quyết những lo ngại do cộng
đồng thương mại đưa ra.
5. các vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới
A. Vụ kiện chống bán phá giá ngũ cốc từ Mỹ
Bên khởi kiện: Hiệp hội các sản phẩm nông nghiệp Mexico.
Bên bị kiện: Các nhà sản xuất và chế biến ngũ cốc của Mỹ.
Nội dung vụ kiện:
Tháng 1 năm 1998, cơ quan chức năng của Mexico đã quyết định áp dụng
mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm ngũ cốc giàu hàm lượng đường -
một sản phẩm thường được sử dụng trong các đồ uống và một số sản phẩm khác
tại thị trường Mexico. Lý do là Mexico cho rằng những sản phẩm ngũ cốc nhập
khẩu từ Mỹ có giá rất thấp và đe doạ đến ngành công nghiệp sản xuất đường và
thực phẩm của quốc gia này.
Sau khi có phán quyết của tòa án Mexico, Mỹ đã khởi kiện lên WTO và đề
nghị cơ quan này xem xét lại tính hợp pháp của việc áp thuế chống bán phá giá.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho phép áp thuế chống bán phá giá, nếu
việc phá giá là có thật và gây thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước. Lập
luận của phía Mỹ là các cơ quan chức năng của Mexico đã không tiến hành điều
tra chống bán phá giá theo đúng trình tự, những phân tích về khả năng gây thiệt
hại cho ngành sản xuất còn nhiều kẽ hở và chưa thực sự chính xác, các quyết định
áp thuế chống bán phá giá không dựa trên cơ sở thực tế là hàng nhập khẩu từ Mỹ
đang tăng mạnh. Mỹ đưa ra một vài số liệu cho thấy trung bình hàng năm sản
7
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
lượng ngũ cốc từ Mỹ vào thị trường Mexico chỉ tăng khoảng 10%, hoàn toàn
không đủ đe dọa đến thị trường trong nước.
Tháng 1 năm 2000, WTO đã ra quyết định rằng có nhiều bằng chứng cho
thấy việc áp thuế chống bán phá giá của Mexico là chưa thực sự chuẩn xác do
quốc gia này không xác định rõ ràng mức độ thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước. WTO cũng kết luận rằng những phân tích của Mexico không được tiến
hành một cách khác quan. Mexico đã kháng nghị quyết định này lên Ban hội
thẩm của WTO và vẫn tiếp tục áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Sau đó,
Ban hội thẩm của WTO đã ra phán quyết rằng việc Mexico đánh thuế chống bán
phá giá lên các sản phẩm ngũ cốc giàu hàm lượng đường là không đúng với các
quy định và nguyên tắc của Hiệp định chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO.
Ban hội thẩm cũng khước từ quyền kháng cáo tiếp theo của Mexico và buộc quốc
gia này phải hủy bỏ các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm ngũ cốc
nhập khẩu từ Mỹ.
B. Vụ kiện chống bán phá giá sản phẩm bóng hình TV từ Trung quốc
Bên khởi kiện: Tập đoàn điện tử Philips của Hà lan và một số công ty khác
Bên bị kiện: Các nhà sản xuất bóng hình TV Trung quốc.
Nội dung vụ kiện:
Vào tháng 6 năm 2002, tập đoàn điện tử lớn nhất của Hà lan, Philips, đại
diện cho một nhóm các nhà sản xuất sản phẩm điện tử đã đệ đơn kiện lên Uỷ ban
châu Âu (EC) về việc các nhà sản xuất bóng hình TV 14-inch màu của Trung
quốc có hành vi bán phá giá sản phẩm của mình. Theo Philips thì biên độ bán phá
giá lên tới 48,4%, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh các
công ty Hà lan.
Công ty xuất nhập khẩu điện tử quốc gia Caihong, đại diện chính cho các
công ty Trung quốc bị kiện, đã nhanh chóng có phản ứng với vụ kiện này. Và
8
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
chính những phản ứng nhanh chóng này là một trong các nhân tố quan trọng đem
lại thắng lợi cho phía Trung quốc.
Tháng 4 năm 2003, phán quyết đầu tiên của EC đã được đưa ra. Theo đó,
EC quyết định áp mức thuế bán phá giá sơ bộ là 11% đối với sản phẩm bóng hình
TV 14-inch màu Trung quốc. Tuy nhiên, sau nhiều nỗ lực, cuối cùng Caihong đã
chứng minh được rằng tập đoàn Philips và một số công ty khác của Hà lan còn
bán sản phẩm bóng hình TV 14-inch màu với giá còn thấp hơn cả Caihong.
Caihong đã đưa ra bằng chứng cho thấy sản phẩm của mình được bán với giá 30
USD/sản phẩm tại thị trường châu Âu, trong khi đó một số liên doanh của Philips
tại Trung quốc qui định mức giá chỉ là 26 USD/sản phẩm tại cửa khẩu hải quan
Trung quốc. Như vậy, bản thân mức giá của Philips còn thấp hơn mức giá của
Caihong. Hơn thế nữa, Caihong còn chứng minh được rằng thực tế sản lượng xuất
khẩu sản phẩm của hãng vào thị trường châu Âu thấp hơn nhiều so với tuyên bố
của Philips.
Theo Caihong thì bản thân Philips trong những năm 1997 đã tung ra thị
trường hai dòng sản phẩm bóng hình TV và tạo ra một đợt hạ giá thành sản phẩm
rõ nét. Chỉ vài năm sau, các sản phẩm của Philips bắt đầu lên giá. Mức giá năm
1997 của Philips ngang bằng với giá sản phẩm của Caihong và một số công ty
Trung quốc khác hiện nay. Trên cơ sở lập luận và chứng minh của Caihong, EC
đã phải ra quyết định huỷ bỏ mức thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm
bóng hình TV 14-inch màu nhập khẩu từ Trung quốc. Sau khi biết được tin trên,
tại trụ sở chính ở Xianyang, Caihong đã tuyên bố thắng lợi trong vụ kiện chống
bán phá giá với những “người khổng lồ” trong lĩnh vực điện tử của Hà lan. Ban
giám đốc Caihong đã rất vui mừng. “Quyết định này cho thấy chúng tôi hoàn toàn
cạnh tranh lành mạnh khi thâm nhập vào thị trường châu Âu, những nỗ lực chính
9
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
đáng của chúng tôi không thể bị chối bỏ”- Juan Xayong, giám đốc Caihong nhận
định.
Bài học rút ra:
Vụ kiện này là một bài học cho thấy sự chủ động và tìm ra các cách thức
đối phó đóng vai trò quan trọng đến như thế nào. Caihong cũng đã chuẩn bị rất tốt
các văn bản, tài liệu chứng minh. Trên cơ sở đó, những lập luận cùa Caihong
trước Uỷ ban châu Âu là vô cùng thuyết phục. Caihong rất coi trọng tính minh
bạch, chi tiết của tài liệu trong vụ kiện chống bán phá giá. Do nhận thức được sự
khó khăn phức tạp, Caihong đã yêu cầu sự tham gia hỗ trợ của các bên có liên
quan như chính phủ, phòng thương mại và công nghiệp, các hiệp hội ngành
Những bằng chứng của Caihong hoàn toàn dựa trên văn bản giấy tờ cụ thể, chứ
không phải là sự suy luận, diễn giải, hay nói cách khác, Caihong đối phó với vụ
kiện bằng sự trung thực và hợp tác cao độ.
Qua bài học của Caihong, các chuyên kinh tế thừa nhận rằng một trong
những kinh nghiệm để đối phó đối với các vụ kiện bán phá giá là xây dựng chiến
lược kinh doanh cho riêng từng mặt hàng cụ thể với những tài liệu và thông số
đầy đủ, đồng thời luôn chủ động nghiên cứu thị trường sản phẩm tương tự trong
cũng như ngoài nước, nhằm luôn có sẵn những bằng chứng cần thiết nếu xảy ra
trường hợp kiện cáo.
C. Vụ kiện chống bán phá giá sản phẩm bán dẫn của Nhật bản
Bên khởi kiện: Các nhà sản xuất sản phẩm bán dẫn châu Âu
Bên bị kiện: Các nhà sản xuất sản phẩm bán dẫn Nhật bản
Nội dung vụ kiện:
Bắt đầu từ năm 1986, một số công ty châu Âu đã đệ đơn kiện các nhà sản
xuất Nhật bản có hành vi bán phá giá đối với một số sản phẩm bán dẫn như
DRAMs và EPROMs. Đây là một trong những vụ kiện chống bán phá giá kéo dài
10
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
nhất trong lịch sử thương mại quốc tế. Sau hơn 11 năm, đến tháng 11 năm 1997,
châu Âu và Nhật bản mới đạt được thoả thuận song phương để chấm dứt vụ kiện
dai dẳng này.
Trước khi có quyết định trên, các cơ quan chức năng châu Âu đã có rất nhiều biện
pháp hạn chế cũng như áp thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm chất bán
dẫn đến từ Nhật bản. Do vụ kiện kéo dài gây ảnh hưởng đến quan hệ thương mại
giữa hai bên, các công ty châu Âu và công ty Nhật bản đã gặp nhau để họp bàn
tìm giải pháp thương lượng ổn thoả nhất. Đại diện chính của cuộc đàm phán là
tập đoàn bán dẫn EIAJ của Nhật bản và tập đoàn công nghệ EECA của châu Âu.
Cuối cùng, cả EIAJ và EECA đều đồng ý thông qua một chuẩn công nghệ mới và
mức giá dành cho các sản phẩm DRAMs và Flash EPROMs.
Thoả thuận này đã đưa ra một giải pháp sáng kiến rất hữu hiệu để dàn xếp vụ kiện
chống bán phá giá, qua đó có lợi cho cả ngành công nghiệp bán dẫn châu Âu và
Nhật bản. Các công ty bán dẫn khác của Nhật bản và châu Âu, đặc biệt là những
nhà sản xuất lớn rất hoan nghênh thoả thuận này và cho biết họ sẽ tuân thủ đúng
những cam kết giữa hai bên.
Tháng 12 năm 1997, EIAJ và EECA đạt được thoả thuận chung, theo đó các bên
sẽ cam kết giữ mức giá hợp lý và đảm bảo cho nhau sự tự do cạnh tranh. Vụ kiện
chống bán phá giá qua đó cũng được dàn xếp ổn thoả mà không bên nào chịu
thiệt hại cả.
Bài học rút ra:
Qua vụ kiện này, các bên có thể nhận ra tầm quan trọng của những thảo
thuận song phương ngoài khuôn khổ pháp luật với vai trò và sức mạnh không thể
phủ nhận. Hơn thế nữa, chính những cuộc đàm phán này cho thấy bên bị kiện
mong muốn hợp tác với bên khởi kiện. Do vậy, bên khởi kiện sẽ bớt giận dữ để
11
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
cùng tìm ra giải pháp phù hợp nhất. Các cuộc đàm phàn thương lượng có thể tập
trung vào vấn đề cam kết giá cả và thời gian thực hiện. Đàm phán thương lượng
ngoài lề trong các vụ kiện chống bán phá được coi yếu tố then chốt để giải quyết
mâu thuẫn. Nếu doanh nghiệp thương lượng thành công, thì thiệt hại từ việc bị áp
bán phá giá với mức thuế suất cao sẽ giảm bớt khá nhiều .
D. Vụ kiện chống bán phá giá các sản phẩm kính chắn gió Trung quốc.
Bên khởi kiện: Các nhà sản xuất kính chắn gió của Canada - Đại diện là công ty
ty PPG Canada Inc.
Bên bị kiện: Các công ty sản xuất kính chắn gió của Trung quốc.
Nội dung vụ kiện:
Ngày 31 tháng 7 năm 2000, Uỷ ban thuế và hải quan Canada (CCTA) ra
phán quyết rằng các công ty sản xuất kính chắn gió của Trung quốc đã tiến hành
nhiều hành động bán phá giá, gây ảnh hưởng đến thị phần của các công ty
Canada. Kết quả tính toán biên độ bán phá giá của CCTA đối với các sản phẩm
kính chắn gió dựa trên giá của hàng hoá sản phẩm tại thị trường Trung quốc.
Theo phán quyết thì CCTA sẽ áp thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với sản phẩm
của bốn công ty của Trung quốc là Shenzhen Benxun Automotive Glass Co. Ltd,
Xinyi Automotive Glass (Shenzhen), Dongguan Kongwan Automobile Glass Ltd.
và Fujian Fuyao Glass Industry Group Ltd. Mức thuế chống bán phá giá dao động
khoảng 25%.
Bên khởi kiện là công ty PPG Canada Inc. có trụ sở tại Toronto, Canada.
PPG là một trong những nhà sản xuất kính chắn gió lớn nhất Canada. Trước nguy
cơ bị các công ty Trung quốc gây tổn hại đến hoạt động kinh doanh của mình,
PPG buộc phải khởi kiện chống bán phá giá. Đây là một trong những vụ kiện
chống bán phá giá lớn nhất tại Canada với tổng sản lượng hàng hoá nhập khẩu
vào Canada lên tới 30 triệu USD/năm. PPG cáo buộc rằng những sản phẩm kính
12
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
chắn gió dành cho xe hơi do các công ty Trung quốc sản xuất được bán với giá
quá thấp so với thị trường Canada, thậm chí thấp hơn cả giá bán tại thị trường
Trung quốc. Điều này khiến sản lượng hàng nhập khẩu từ Trung quốc tăng vọt và
đe doạ gây thiệt hại đến các nhà sản xuất trong nước.
Tháng 5 năm 2001, CCTA bắt đầu điều tra vụ việc chống bán phá giá này tại
Trung quốc. Tuy nhiên, do có nhiều kinh nghiệm trong các vụ kiện bán phá giá
trước đây, lần này các công ty Trung quốc đã chủ động sử dụng những quy định
của WTO, chẳng hạn như các quy định về biện pháp chống bán phá giá, để bảo vệ
lợi ích của mình Kết quả là các công ty Trung quốc đã chứng minh được rằng
CCTA không có sở để quy kết rằng các sản phẩm kính chắn gió của họ bị bán phá
giá. Các công ty này lấy dẫn chứng là những sản phẩm của mình được bán tại các
thị trường khác như Nhật bản, Mỹ, Hàn quốc, Đài loan có giá thành tương tư,
thậm chí còn thấp hơn mà vẫn được các thị trường này chấp nhận và ủng hộ, nên
không có lý do gì Canada lại không đồng ý được. Trước những lý lẽ đó, CCTA
đã buộc phải huỷ bỏ thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm kính chắn gió sản
xuất tại Trung quốc, còn bốn nhà sản xuất kính chắn gió Trung quốc thì hân hoan
với thắng lợi trong vụ kiện chống bán phá giá kéo dài gần 9 tháng trên thị trường
Canada này.
Bài học rút ra:
Việc chủ động đối phó với các vụ kiện là vô cùng cần thiết. Giả sử như nếu
các nhà sản xuất kính chắn gió Trung quốc bị động, không đầu tư vào việc thu
thập bằng chứng tại thị trường các quốc gia khác như Mỹ, Nhật bản thì rất có thể
họ đã thua cuộc trong vụ kiện này. Các công ty Trung quốc đã tập trung vào yếu
tố chứng minh: “Các phán quyết bán phá giá có được dựa vào các tiêu chuẩn, căn
cứ hợp lý hay không?”. Họ cho rằng cơ quan chức năng Canada đã bỏ qua lý lẽ
và dẫn chứng thực tế, mà cứ phán quyết là một doanh nghiệp Trung quốc đã có
13
Bán phá giá trong thương mại nnguyễn tấn việt tú tm04k35
hành vi bán phá giá là không đúng.
Có thể nói, việc chủ động đối phó, hợp tác chặt chẽ và đôi chút thông minh là
cách tốt nhất để theo đuổi vụ kiện. Qua vụ kiện kính chắn gió, các doanh nghiệp
có thể thấy rằng việc tích cực liên hệ với các thị trường khác để có được những
thông tin cần thiết, cũng như có được sự ủng hộ của các thị trường này là rất quan
trọng. Đôi khi tiếng nói từ một số thị trường lớn như Mỹ, Nhật bản có tác động
ảnh hưởng vô cùng quan trọng.
II. liên quan Việt Nam
1. Tình hình về các vụ kiện bán phá giá đối với Việt Nam
Ngày nay, đứng trước thách thức về cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị
trường nội địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng
tinh vi thông qua các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, trong
đó có thuế chống bán phá giá.Vì vậy, các vụ kiện bán giá xảy ra trên thế giới ngày
càng tăng về số lượng chủ thể tham gia và ngày càng mở rộng phạm vi hàng hoá
áp dụng.
Theo số liệu của Ban Thư ký WTO, từ năm 1995 đến hết năm 2004 trên thế
giới đả tiến hành 2647 cuộc điều tra về chống bán phá giá, đứng đầu danh sách là
Ấn độ (399 vụ) Hoa Kỳ (354 vụ) và EU (303 vụ). Trong số 97 nước bị kiện, các
nước đứng đầu là Trung Quốc (386 vụ) Hàn Quốc (94 vụ) Hoa Kỳ (146 vụ) Đối
với Việt Nam tính đến tháng 3/2006 đã phải đối phó với 21 vụ kiện chống bán
phá giá, trong đó có 13 vụ Việt Nam phải chịu thuế chống bán phá giá. EU là
nước khởi kiện Việt Nam nhiều nhất (8 vụ) với mức thuế cao nhất lên đến 93%
đối với mặt hàng Oxyde kẽm. Điều đáng chú ý là số lượng các cuộc điều tra
chống bán phá giá tăng mạnh trong thời gian gần đây. Nếu trong giai đoạn
1994-2001, Việt Nam chỉ chịu 1-2 vụ kiện/năm thì đến năm 2004 phải đối phó
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét