Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

441 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đến năm 2015

Trang 5/85

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

AFTA: Khu vực mậu dòch tự do ASEAN
AGRIBANK: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
ALCo: y ban quản lý Tài sản nợ – tài sản có
ATM: Máy rút tiền tự động
BIDV : Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
BTA: Hiệp đònh thương mại Việt - Mỹ
CAR: Hệ số an tòan vốn
CNTT: Công nghệ thông tin
DN: Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
IAS: Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS: Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
INCOMBANK: Ngân hàng Công Thương Việt Nam
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp
GATS: Hiệp đònh chung về Thương mại dòch vụ
GDP: Tổng thu nhập quốc dân
HĐQT: Hội đồng quản trò
HSBC : Hongkong and Shanghai Banking Corporation
HSC: Hội sở chính
L/C: Thư tín dụng
MIS: Thông tin quản trò điều hành
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 6/85
NHTMQD: Ngân hàng thương mại quốc doanh
NHTMNN: Ngân hàng thương mại nhà nước
NSNN: Ngân sách nhà nùc
POS: Hệ thống bán lẻ
ODA: Vốn đầu tư gián tiếp
QĐ: Quyết đònh
ROE: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROA: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
SWIFT: Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng
TCT: Tổng công ty
TSCĐ: Tài sản cố đònh
TCKT: Tổ chức kinh tế
TSC: Tài sản có
TP: Thành phố
TA2: Dự án phát triển theo mô hình bán buôn – bán lẻ
VAS: Chuẩn mực kế tóan Việt Nam
VCB, Vietcombank: Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
VPĐD: Văn phòng đại diện
VN: Việt Nam
WB: Ngân hàng thế giới
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7/85
LỜI MỞ ĐẦU


Những năm đầu của thế kỷ XXI đang chứng kiến nền kinh tế Việt Nam biến
chuyển mạnh mẽ sang nền kinh tế thò trường và hội nhập quốc tế, rất nhiều ngành kinh
tế đã, đang và sẽ buộc phải mở cửa cho phần còn lại của thế giới. Các doanh nghiệp
Việt Nam không còn được Nhà nước bảo hộ bằng những biện pháp bao cấp nữa, thay
vào đó, các doanh nghiệp phải đối diện với những vấn đề sống còn trong cạnh tranh.
Ngành ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài bức tranh toàn cảnh đó. Các
ngân hàng thương mại Việt Nam đang nỗ lực hết sức để tồn tại và phát triển trong bối
cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tìm kiếm các biện pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng ngân hàng nhằm tồn tại và phát triển trong
cạnh tranh trở thành nhu cầu cấp thiết đối với mỗi ngân hàng.
Xuất phát từ thực tiễn đó, kết hợp với các kiến thức đã được các Thầy Cô truyền
thụ trong chương trình đào tạo cao học của Trường và kinh nghiệm làm việc thực tế tại
Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015”.

Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu là cạnh tranh – quy luật hoạt động của kinh
tế thò trường, đồng thời xuất phát từ hoạt động thực tiễn của ngân hàng Đầu Tư và Phát
Triển Việt Nam, kết hợp với so sánh, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại khác.

Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đầu Tư
và Phát Triển Việt Nam đến năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lòch sử vận dụng tổng hợp
phương pháp của các môn khoa học kinh tế và cácï môn học hỗ trợ như Quản trò Dự Án,
Quản trò Chiến lược, Quản trò Marketing, Tâm lý Quản lý và nghệ thuật lãnh
đạo…Đồng thời, luận văn cũng sử dụng rộng rãi các phương pháp như so sánh, mô tả,
thu thập và xử lý dữ liệu cũng như phân tích và tổng hợp.
Trang 8/85
Nguồn số liệu trong luận văn được sử dụng từ báo cáo thường niên của các ngân
hàng thương mại như: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại
Thương Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu hoạt động của hệ thống ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam trong mối quan hệ tương quan với các ngân hàng thương mại khác trong phạm vi
cả nước như: Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Việt Nam,
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam.

Ý nghóa thực tiễn của luận văn:
Đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đầu Tư và
Phát Triển Việt Nam đến năm 2015.

Kết cấu của luận văn: Gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngân hàng.
- Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển
Việt Nam (BIDV) trong thời gian qua.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV đến
năm 2015.



















Trang 9/85
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP NGÂN HÀNG

1.1 KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP:
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh:
Thuật ngữ “ cạnh tranh” và “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất rộng rãi
trong giao tiếp hàng ngày, trong sách báo chuyên môn, cũng như trên các phương tiện
thông tin đại chúng…Vậy cạnh tranh và năng lực cạnh tranh là gì? Có rất nhiều đònh
nghóa khác nhau, nhưng có thể hiểu như sau:
“Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở
đó, dưới các điều kiện về thò trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản
phẩm hàng hóa và dòch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thò trường, đồng thời tạo ra
việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế”.
Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường xuyên
đưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các
sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính
về chất lượng hay dòch vụ ngang bằng hay tốt hơn. Nhìn chung, khi xét đến tính cạnh
tranh của một doanh nghiệp ta cần phải xét đến tiềm năng sản xuất một loại sản phẩm
hàng hóa hay sản phẩm dòch vụ nào đó ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức
giá phổ biến mà không cần đến các yếu tố trợ giúp.
“ Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số
kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm
cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thò trường hiện tại và làm nảy sinh
thò trường mới”.
Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh ( các
đối thủ) về doanh thu, thò phần, khả năng sinh lợi và đạt được thông qua các hành vi
chiến lược, được đònh nghóa như là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động
tới môi trường thò trường nhờ đó làm tăng lợi nhuận của công ty, cũng như bằng các
công cụ marketing khác. Nó cũng đạt được thông qua việc nâng cao chất lượng sản
phẩm và sự sáng tạo sản phẩm-là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh
tranh.
1.1.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Theo Micheal Porter thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm bốn yếu tố :
Trang 10/85
(1) - Các yếu tố của bản thân doanh nghiệp: Bao gồm các yếu tố về con người
( chất lượng, kỹ năng); các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thò
trường); các yếu tố về vốn các yếu tố này có thể chia thành 2 loại: một là các yếu tố
cơ bản như: môi trường tự nhiên, đòa lý, lao động; hai là các yếu tố nâng cao như:
thông tin, lao động có trình độ cao . . .
Trong đó, yếu tố thứ hai có ý nghóa quyết đònh đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Chúng quyết đònh những lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công
nghệ có tính độc quyền. Trong dài hạn thì đây là yếu tố có tính quyết đònh phải được
đầu tư một cách đầy đủ và đúng mức.
(2) - Nhu cầu của khách hàng: Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát
triển của doanh nghiệp. Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể tận
dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh và dòch vụ
của mình. Nhu cầu của khách hàng còn có thể gợi mở cho doanh nghiệp để phát triển
các loại hình sản phẩm và dòch vụ mới. Các loại hình này có thể được phát triển rộng
rãi ra thò trường bên ngoài và khi đó doanh nghiệp là người trước tiên có được lợi thế
cạnh tranh.
(3) - Các lónh vực có liên quan và phụ trợ : sự phát triển của doanh nghiệp
không thể tách rời sự phát triển các lónh vực có liên quan và phụ trợ như: thò trường tài
chính, sự phát triển của công nghệ thông tin… Ngày nay, với sự phát triển của công
nghệ thông tin, các ngân hàng có thể theo dõi và tham gia vào thò trường tài chính
24/24 giờ trong ngày.
(4) - Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh : Sự
phát triển các hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu được quản lý và tổ chức
trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của nó. Sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và thay đổi nhằm
hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng dòch vụ.
Trong 4 yếu tố trên, yếu tố (l) và (4) được coi là yếu tố nội tại của doanh nghiệp,
yếu tố (2) và (3) là những yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy sự phát triển của
chúng. Ngoài ra, còn hai yếu tố mà doanh nghiệp cần tính đến là những cơ hội và vai
trò của Chính phủ. Vai trò của Chính phủ có tác động tương đối lớn đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nhất là trong việc đònh ra các chính sách về công nghệ, đào
tạo, trợ cấp.



Trang 11/85
1.2
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI (NHTM):
Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả
các lợi thế so sánh, để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM
khác.
Năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng trong ngành về cơ bản cũng giống như
năng lực cạnh tranh của các công ty sản xuất nhưng do sản phẩm của ngân hàng là các
sản phẩm dòch vụ, vì vậy các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân
hàng có sự khác biệt so với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường.
1.2.1
Các yếu tố nội tại:
1.2.1.1
Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp cũng như
ngân hàng nào. Lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung
thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ
phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp. Nhân sự của một ngân hàng là
yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của
mọi cải tiến hay đổi mới. So với các ngành khác, các phẩm chất quan trọng đối với một
nhân viên ngân hàng là: "sự trung thực, độ tin cậy, tính cẩn thận và tinh thần sẵn sàng
tiếp thu tư tưởng mới trong quá trình đáp ứng các nhu cầu về dòch vụ của khách hàng ".
Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm và trình độ
cao được tích luỹ theo thời gian. Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viên
ngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức. Hiệu quả của các chính
sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một ngân
hàng.
1.2.1.2
Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức:
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của Hội đồng quản trò, Ban giám
đốc ngân hàng. Năng lực quản lý thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của
Hội đồng quản trò đối với Ban giám đốc; mục tiêu, động cơ, mức độ cam kết của Ban
giám đốc, Hội đồng quản trò đối với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của
ngân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập đối với Ban giám đốc; số lượng, chất
lượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanh
cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm toán kiểm soát nội bộ. Năng lực quản lý sẽ
quyết đònh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng.
Trang 12/85
Năng lực quản lý của Hội đồng quản trò cũng như Ban giám đốc cũng bò chi phối
bởi cơ cấu tổ chức của ngân hàng. Cơ cấu tổ chức phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn
lực của một ngân hàng có phù hợp với quy mô, trình độ quản lý của ngân hàng; phù
hợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thò trường hay không. Cơ cấu tổ
chức của một ngân hàng thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng, các bộ phận
tác nghiệp, các đơn vò trực thuộc . . . Hiệu quả của cơ chế quản lý phản ánh ở số lượng
các phòng ban, sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban, mức độ phối hợp giữa các
phòng ban, các đơn vò trong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động
nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến
động của ngành hay những biến động trong môi trường vó mô.
1.2.1.3
Tiềm lực tài chính:
Tiềm lực tài chính là yếu tố quan trọng đặc biệt trong lónh vực ngân hàng, đó là
yếu tố quyết đònh đến năng lực cạnh tranh. Một ngân hàng có tiềm lực tài chính càng
mạnh thì mức độ rủi ro, về phía khách hàng và về phía bản thân ngân hàng càng giảm.
Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
- Quy mô vốn và mức độ an toàn vốn: thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như: quy
mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn (CAR - Capital Adequacy Ratio). Tiềm lực về
vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ
rủi ro của ngân hàng đó. Ngoài ra, khả năng cơ cấu lại vốn, khả năng huy động thêm
vốn cũng phản ánh tiềm lực về vốn của ngân hàng.
- Chất lượng tài sản có: phản ánh “sức khoẻ" của một ngân hàng. Chất lượng tài
sản có được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức
độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng
hoá của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn
- Khả năng sinh lời: là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng, đồng
thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng. Chỉ tiêu mức sinh lợi
có thể được phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trò tuyệt đối của lợi
nhuận sau thuế; tốc độ tăng trưởng lợi nhuận; cơ cấu của lợi nhuận; tỷ số ROE; tỷ số
ROA; các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương quan với chi phí . . .
- Khả năng thanh khoản: được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả năng
thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh, đánh giá các đònh tính về năng lực
quản lý thanh khoản của các ngân hàng, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh
khoản của các NHTM.
1.2.1.4
Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dòch vụ ngân hàng:
Hệ thống kênh phân phối thể hiện ở số lượng các chi nhánh, các đơn vò trực
thuộc khác và sự phân bố các chi nhánh trên lãnh thổ. Các công nghệ ngân hàng hiện
Trang 13/85
đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng
lưới chi nhánh rộng khắp đối với lợi thế cạnh tranh của ngân hàng. Tuy nhiên, vai trò
của một mạng lưới chi nhánh rộng lớn vẫn rất có ý nghóa khi mà các dòch vụ truyền
thống của ngân hàng vẫn còn phát triển. Đi kèm với một mạng lưới chi nhánh rộng
phải là hiệu quả hoạt động của mạng lưới, thể hiện thông qua tính hợp lý trong phân bố
chi nhánh ở các vùng, miền cũng như vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chi
nhánh.
Mức độ đa dạng hoá các dòch vụ cung cấp cũng là một yếu tố tạo nên lợi thế
cạnh tranh của một ngân hàng. Một ngân hàng có nhiều loại hình dòch vụ cung cấp phù
hợp với nhu cầu thò trường sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh. Sự đa dạng hoá
các dòch vụ một mặt tạo cho ngân hàng phát triển ổn đònh hơn, mặt khác cho phép ngân
hàng phát huy lợi thế nhờ quy mô . Tất nhiên, sự đa dạng hoá các dòch vụ cần phải
được thực hiện trong sự tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng. Nếu
không, việc triển khai quá nhiều dòch vụ có thể khiến ngân hàng kinh doanh không
hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.
1.2.1.5
Công nghệ:
Trong lónh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một
trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng của mỗi ngân hàng. Công
nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ
thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM mà
còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro trong nội bộ ngân
hàng. Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các ngân hàng cũng là chỉ tiêu
phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng. Vì thế, năng lực công nghệ không
chỉ thể hiện ởû số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng
mở (nghóa là khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như
kinh tế.
1.2.2
Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài:
1.2.2.1
Môi trường vó mô:
Việc phân tích môi trường vó mô giúp các nhà quản trò ngân hàng trả lời cho câu
hỏi: Ngân hàng đang trực diện với những gì?

Yếu tố luật pháp, chính phủ và chính trò:
Luật pháp, Chính phủ và chính trò là một yếu tố mang tính chất xúc tác rất quan
trọng đối với sự phát triển của bất kỳ ngành nào ở một nước. Đối với lónh vực ngân
hàng, luật pháp, chính phủ và chính trò lại càng đóng một vai trò quan trọng.
Trang 14/85
Chính trò, Chính phủû và luật pháp tác động đến sự phát triển của các ngân hàng
thông qua: các điều lệ hoặc sự bác bỏ các quy đònh của chính phủ, sự ổn đònh của chính
quyền, những khuyến khích hoặc kích thích đặc biệt, mức trợ cấp của chính phủ, luật
chống độc quyền, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ, thuế khoá của chính phủ, các
cam kết đa phương,. . .

Các yếu tố kinh tế:
Các yếu tố kinh tế có ảnh hướng có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng là: giai
đoạn của chu kỳ kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thu nhập thực tế bình quân đầu
người, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lãi suất, tỷ lệ lạm phát, chính sách tiền tệ, mức
độ thất nghiệp, cán cân thanh toán, . . .

Yếu tố công nghệ và kỹ thuật:
Yếu tố công nghệ và kỹ thuật là thành phần ngày càng quan trọng nhất trong
lónh vực ngân hàng. Các yếu tố kỹ thuật công nghệ có thể được phản ánh thông qua các
chỉ tiêu như: số lượng và trình độ nhân lực về nghiên cứu và phát triển; việc bảo vệ và
thực thi quyền sở hữu trí tuệ; những sản phẩm mới ra đời; sự chuyển giao kỹ thuật mới;
dung lượng và tính ổn đònh của đường truyền quốc gia; các quy đònh pháp lý liên quan
đến bảo mật và các giao dòch điện tử; các chi phí sử dụng công nghệ

Những yếu tố văn hóa, xã hội, đòa lý và nhân khẩu:
Năng lực cạnh tranh của một ngành có thể chòu tác động rất nhiều bởi một số
yếu tố về văn hoá, xã hội, đòa lý và nhân khẩu. Những đặc điểm đó có tác động đến
nhiều mặt của một ngành và trong lónh vực ngân hàng các đặc điểm đó tác động nhiều
nhất đến yếu tố con người thông qua việc tác động đến nhu cầu và nguồn nhân lực.
Có thể kể đến những đặc điểm văn hoá, xã hội, đòa lý, nhân khẩu ảnh hưởng
đến hoạt động ngân hàng như: lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng; thói quen tiêu
dùng và tiết kiệm của người dân; trình độ dân trí và khả năng hiểu biết về các dòch vụ
của ngân hàng, thái độ đối với nghề nghiệp, sự biến động của dân số theo giới tính,
tuổi, thành phố, vùng, . . .
1.2.2.2
Môi trường vi mô:
So với môi trường vó mô thì các yếu tố của môi trường vi mô thường đơn lẻ, tác
động trực tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức. Mỗi một tổ chức
thường chỉ có một môi trường vi mô mang tính đặc thù của mình.
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và các yếu tố ngoại cảnh đối
với doanh nghiệp, quyết đònh tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành. Michael

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét