Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tiền của các cá nhân, doanh nghiệp cũng
phát triển không ngừng. Điều này được thể hiện rõ trong sự tồn tại hai trạng thái của nền kinh tế
giữa một bên là nhu cầu về tiền và một bên là khả năng về tiền. Vần đề đặt ra cho các cá nhân,
doanh nghiệp là làm thế nào để sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả. Trước tình hình
này, nhiều hình thức huy động vốn linh hoạt đã nảy sinh và phát triển để giải quyết cân đối về cung
và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, và nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở
hữu với nhau. Trên cở sở đó, thị trường tài chính đã ra đời.
Thị trường tài chính gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Nói riêng về thị trường tiền tệ,
đây là nơi diễn ra các hoạt động cung và cầu về vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ gồm các loại tín
phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gởi, thương phiếu… Đây là loại chứng từ có giá trị được thực hiện
thông qua hoạt động giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp và cá nhân, hoặc giữa các doanh
nghiệp với nhau… Chúng giúp cho các chủ thể kinh tế có nhiều điều kiện để sử dụng và phát triển
nguồn vốn của mình một cách hiệu quả.
Trước thực trạng như vậy, chúng tôi quyết định tìm hiểu về các loại chứng từ có giá trị của
thị trường tiền tệ: tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gởi và thương phiếu. Với việc nghiên cứu này,
chúng tôi hi vọng sẽ mang đến cho bản thân cũng như các bạn một cái nhìn tổng quan về đặc điềm
của các loại chứng từ cũng như sự khác nhau cơ bản của chúng. Đó là nền tảng để chúng ta đi sâu
tìm hiểu về tài chính và tiền tệ.
K09402B_Nhóm 2 đô
5
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
CHƯƠNG 1: TÍN PHIẾU KHO BẠC
1.1. Định nghĩa
Tín phiếu kho bạc là loại giấy nợ do chính phủ phát hành có kỳ hạn dưới một năm để bù đắp
thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước và là một công cụ trong những công cụ quan trọng để
Ngân hàng Trung ương điều hành chính sách tiền tệ. (tại Việt Nam, tín phiếu kho bạc do Bộ Tài
chính phát hành). Tín phiếu kho bạc thường có kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 9 tháng với một
hay nhiều mức mệnh giá. Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng (rủi ro phá
sản).
1.2. Hình thức, mệnh giá tín phiếu kho bạc
1.2.1. Hình thức
Tín phiếu kho bạc đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được phát hành dưới hình
thức chứng chỉ hoắc bút toán ghi sổ; có ghi danh hoặc không ghi danh.
- Đối với hình thức chứng chỉ: Bộ Tài chính quy định nội dung để Kho bạc Nhà nước in và
phân phối cho các tổ chức trúng thầu.
- Đối với hình thức bút toán ghi sổ: Do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ghi và quản lí sổ
sách.
Tín phiếu kho bạc khi phát hành được thực hiện theo hính thức bút toán ghi sổ. Trường hợp
chủ sở hữu muốn nhận chứng chỉ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo cho Kho bạc
Nhà nước để cấp chứng chỉ.
1.2.2. Mệnh giá
Mệnh giá của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính (Kho bạc Nhà nước) thông báo cho từng đợt
phát hành.
1.2.3. Kỳ hạn tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc có các kỳ hạn: 91 ngày, 182 ngày, 273 ngày và 364 ngày.
1.2.4. Lãi suất tín phiếu kho bạc
- Bộ trưởng Bộ Tài chính thông báo lãi suất trần trong từng thời kỳ. Tổng Giám đốc Kho bạc
Nhà nước quyết định lãi suất cụ thể cho từng phiên đấu thầu trong phạm vi mức lãi suất trần cho
phép.
K09402B_Nhóm 2 đô
6
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
Tùy điều kiện cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể không quy định mức lãi suất trần để tổ
chức đấu thầu.
- Lãi suất phát hành tín phiếu kho bạc được xác định trên cơ sở kết quả của từng phiên đấu
thầu.
1.2.5. Nguyên tắc đấu thầu
- Bí mật mọi thông tin đấu thầu của các đơn vị đặt thầu và các thông tin có liên quan đến lãi
suất tổ chức đấu thầu.
- Tổ chức đấu thầu công khai, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các tổ chức tham gia
đấu thầu.
- Đơn vị trúng thầu có trách nhiệm mua tín phiếu kho bạc theo khối lượng và lãi suất trúng
thầu được thông báo.
1.2.6. Hình thức đấu thầu
Việc đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện theo một trong hai hình thức: Đấu thầu cạnh
tranh lãi suất, hoặc kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất với đấu thầu không cạnh tranh lãi suất.
Trường hợp áp dụng hình thức đấu thầu kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất với đấu
thầu không cạnh tranh lãi suất thì khối lượng tín phiếu đấu thầu không cạnh tranh lãi suất không
vượt quá 30% tổng khối lượng tín phiếu thông báo phát hành của đợt đấu thầu đó. Tổng Giám đốc
Kho bạc Nhà nước quyết định hình thức đấu thầu cụ thể của từng phiên đấu thầu.
1.2.7. Hình thức bán tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được bán theo 2 hình thức:
ngang mệnh giá và chiết khấu.
1.2.7.1. Bán tín phiếu kho bạc theo hình thức ngang mệnh giá.
- Giá bán tín phiếu kho bạc bằng 100% mệnh giá.
- Số tiền thanh toán tín phiếu kho bạc khi đến hạn được tính theo công thức sau:
n
T = G + ( G x Ls x )
365
Trong đó:
T: Tổng số tiền (gốc + lãi) tín phiếu được thanh toán khi đến hạn.
G: Giá bán tín phiếu kho bạc.
Ls: Lãi suất tín phiếu trúng thầu (tính theo tỷ lệ %/365 ngày).
n: Số ngày trong thời hạn tín phiếu.
K09402B_Nhóm 2 đô
7
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
1.2.7.2. Bán tín phiếu kho bạc theo hình thức chiết khấu:
- Giá bán tín phiếu được xác định theo công thức:
MG
G =
Ls x n
1 +
365
Trong đó:
G: Giá bán tín phiếu kho bạc.
MG: Mệnh giá tín phiếu kho bạc.
Ls: Lãi suất tín phiếu trúng thầu (tính theo tỷ lệ %/365 ngày).
n: Số ngày trong thời hạn tín phiếu.
- Khi đến hạn thanh toán được thanh toán bằng mệnh giá tín phiếu.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể về cách tính tròn giá tín phiếu kho bạc.
1.2.8. Thanh toán tiền mua tín phiếu kho bạc.
- Ngày phát hành tín phiếu kho bạc được phát hành vào ngày thứ 2 kể từ ngày đấu thầu.
Trong phạm vi 2 ngày làm việc tiếp theo ngày đấu thầu, các đơn vị trúng thầu phải chuyển tiền mua
tín phiếu kho bạc theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước mở
tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ghi có tài khoản của Kho bạc Nhà nước số tiền thu từ bán tín
phiếu kho bạc và ghi có tài khoản tín phiếu kho bạc cho tổ chức trúng thầu. Trường hợp tổ chức
trúng thầu có nhu cầu nhận chứng chỉ tín phiếu, Ngân hàng nhà nước Việt Nam thông báo cho kho
bạc nhà nước để cấp chứng chỉ.
- Trường hợp các thành viên trúng thầu làm thủ tục thanh toán chậm so với ngày quy định,
Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện trích tài khoản hoặc yêu cầu Ngân hàng nơi thành viên mở
tài khoản trích tiền gởi của thành viên trúng thầu chuyển cho kho bạc nhà nước. Nếu số dư trên tài
khoản tiền gởi của các thành viên trúng thầu vẫn không đủ để thanh toán thì phần kết quả trúng thầu
chưa được thanh toán sẻ bị hủy bỏ và đơn vị bị phạt 5% trên số tiền hủy bỏ để chuyển nộp ngân
sách nhà nước.
- Căn cứ giấy báo có của Sở giao dịch ngân hàng nhà nước Việt Nam chuyển đến, kho bạc
nhà nước làm thủ tục ghi ngân sách Trung ương hoặc hạch toán theo quy định của bộ tài chính.
1.2.9. Thanh toán tín phiếu kho bạc
1.2.9.1. Thanh toán tín phiếu kho bạc khi hết hạn
K09402B_Nhóm 2 đô
8
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
- Việc thanh toán gốc, lãi tín phiếu kho bạc khi đến hạn được thực hiện thông qua Ngân hàng
nhà nước Việt Nam. Trước ngày đến hạn thanh toán gốc, lãi 1 ngày làm việc.
- Nhà nước, Ngân hàng nhà nước Việt Nam được tự động trích tài khoản tiền gởi của kho bạc
Nhà nước tại Sở giao dịch ngân hàng nhà nước để thanh toán cho chủ sở hữu tín phiếu kho bạc.
- Nếu ngày đến hạn thanh toán gốc, lãi tín phiếu kho bạc, là ngày chỉ theo chế độ, thì tiền
gốc, lãi tín phiếu, trái phiếu được thanh toán vào ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
1.2.10. Chi phí phát hành, thanh toán
.Toàn bộ chi phí tổ chức đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc do ngân sách Trung ương
đảm bảo và chi trả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo tỉ lệ là 0.05% trên giá trị tín phiếu kho bạc
trúng thầu.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam được sử dụng kinh phí đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc
vào các mục đích sau:
- Chi mua sắp thiết bị phục vụ cho đấu thầu tín phiếu kho bạc.
- Chi bảo dưỡng định kì, sữa chữa đột xuất máy móc, thiết bị.
- Chi thiết kế và xây dựng phần mềm chương trình đấu thầu tín phiếu kho bạc.
- Chi thông tin quảng cáo về đấu thầu tín phiếu trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Chi phí trực tiếp cho từng phần đấu thầu.
- Chi hội thảo, khảo sát, học tập kinh nghiệm đấu thầu tín phiếu.
- Chi hội nghị khách hàng hàng năm tổng kết công tác đấu thầu.
- Chi khen thưởng đột xuất và định kì cho các thành viên ban đấu thầu, cán bộ phục vụ công
tác đấu thầu và các cơ quan có liên quan. Khoảng chi này không vượt quá 10% tổng kinh phí đấu
thầu và thanh toán tín phiếu kho bạc được hưởng.
- Chi họp ban đấu thầu tín phiếu, định kì sơ kết tình hình đấu thầu và bàn phương hướng
công tác.
- Chi văn phòng phẩm.
- Các khoản chi cho công tác đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc được hoạch toán vào chi
nghiệp vụ của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
K09402B_Nhóm 2 đô
9
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
CHƯƠNG 2: CHỨNG CHỈ TIỀN GỬI
2.1. Chứng chỉ tiền gửi (CD) là gì?
Nói đến CD, người ta thường nghĩ ngay tới những lúc nghe nhạc thư giãn khi ngồi trong xe
hơi. Tuy nhiên, trong giới tài chính, CD được biết đến như một công cụ tài chính ưa thích của các
nhà đầu tư. Đối với những nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn thì CD - chứng chỉ tiền gửi sẽ thỏa mãn
điều này. Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ đầu tư thuộc nhóm tài sản đầu tư có thu nhập cố định và
thích hợp cho các nhà đầu tư dài hạn.
Vậy, CD là gì?
CD là viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh: ‘Certificates of Deposit’, dịch sang tiếng Việt là
‘Chứng chỉ tiền gửi’. Một chứng chỉ tiền gửi là một hình thức tiền gửi có thời hạn thường được cung
cấp bởi các định chế tài chính: ngân hàng, các tổ chức tín dụng Điều khoản của một chứng chỉ tiền
gửi có quy định thời hạn ít nhất là 3 tháng và dài nhất là 5 năm. Thời hạn càng dài thì lãi suất mà
ngân hàng cung cấp chứng chỉ tiền gửi cho người gửi sẽ càng cao hơn, đây chính là phần bù vì việc
các nhà đầu tư sẽ phải gửi tiền của mình trong thời gian lâu hơn.
“Chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành để huy động vốn từ
các tổ chức và cá nhân khác”.
Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn
bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiền gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định
cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai.
Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu “có thể trao đổi”, nghĩa là có thể chuyển nhượng đơn giản
bằng cách trao cho người mua. Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao đối với người sở hữu,
đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời gian. Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi
được trả sáu tháng một lần nếu chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm và được trả khi đúng hạn
nếu có thời hạn dưới một năm. Chứng chỉ tiền gửi áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm
60, sau đó được lưu hành ở Anh.
2.2. Các hình thức chứng chỉ tiền gửi và phương thức thanh toán gốc, lãi suất
2.2.1. Hình thức
- Chứng chỉ ghi danh: Là chứng chỉ có ghi tên người sở hữu.
- Chứng chỉ vô danh: Không ghi tên người sở hữu. Chứng chỉ vô danh thuộc sở hữu của
người nắm giữ giấy tờ có giá.
K09402B_Nhóm 2 đô
10
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
- Ghi sổ: chi nhánh phát hành mở cho chủ sở hữu một tài khoản chứng chỉ và giao cho chủ sở
hữu một chứng chỉ với nộng dung có tài khoản chứng chỉ.
2.2.2. Đặc tính
- Kỳ hạn: Có kỳ hạn tối thiểu 1 năm.
- Đồng tiền: VNĐ, ngoại tệ.
- Mệnh giá tối thiểu: 100.000 VNĐ, 100 USD, ngoại tệ tương đương.
- Mệnh giá tối đa: 01 tỷ VNĐ, 100.000 USD, ngoại tệ tương đương.
2.2.3. Thanh toán gốc
- Thanh toán đúng hạn: Được thanh toán toàn bộ gốc.
- Thanh toán sau hạn: Nếu đến hạn, người mua chưa rút vốn, các ngân hàng không chuyển
sang kỳ hạn tiếp theo. Số tiền gốc được hưởng lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn hiện hành đối với thời
gian quá hạn.
- Thanh toán trước hạn: Một số ngân hàng không chấp nhận thanh toán trước hạn, một số
ngân hang khác thì không những mất số tiền lãi có thể nhận được mà còn bị mất 10% số tiền gốc.
2.2.4. Lãi
- Phương pháp điều chỉnh lãi suất: lãi suất cố định hoặc lãi suất được điều chỉnh theo từng
thời kỳ.
- Cách tính lãi:
Số tiền lãi = Mệnh giá x Lãi suất x Kỳ hạn
- Trả lãi: Lãi được trả sau theo mỗi định kỳ 6 tháng hoặc kỳ là bội số của 6 tháng.
2.3. Ưu nhược điểm của chứng chỉ tiền gửi
2.3.1. Ưu điểm
- Chứng chỉ tiền gửi là một tài sản đầu tư phi rủi ro vì thường được bảo đảm bởi các chính
phủ.
Ví dụ: Mỹ, chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng được bảo đảm bởi Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang
(Federal Deposit Insurance Corporation), còn chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức tín dụng phát hành
được bảo đảm bởi Hội liên hiệp tín dụng quốc gia (National Credit Union Administration). Cả gốc
và lãi đều được bảo đảm trong toàn bộ thời gian đầu tư. Điều này là rất hấp dẫn đối với những nhà
đầu tư đang tìm kiếm sự an toàn.
- Chứng chỉ tiền gửi thường có lãi suất cao hơn so với các tài khoản tiết kiệm thông thường.
Các cá nhân muốn tối đa hóa lợi nhuận khoản tiền tiết kiệm của mình có thể tìm đến với các chứng
chỉ tiền gửi, như vậy sẽ tốt hơn so với việc gửi ở tài khoản tiết kiệm hay tham gia thị trường tiền tệ.
K09402B_Nhóm 2 đô
11
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
Ví dụ: Lãi suất một chứng chỉ tiền gửi thời gian đáo hạn 3 tháng thường sẽ cao hơn là lãi suất của
một thương phiếu thời hạn 3 tháng trên thị trường tiền tệ. Bạn cũng có thể dùng số tiền khi đáo hạn
của chứng chỉ tiền gửi để mua tiếp một chứng chỉ tiền gửi thêm 3 tháng nữa thay vì rút tiền mặt về.
- Cùng với việc huy động vốn của tổ chức kinh tế, cá nhân thông qua tài khoản tiền gửi tiết
kiệm, phát hành các loại giấy tờ có giá, trong đó có chứng chỉ tiền gửi đang trở thành một trong
những sản phẩm huy động vốn “ưa thích” của các ngân hàng. Bởi vì ngân hàng thu hút được một
nguốn lớn để hoạt động và biết trước thời hạn thanh toán cho khách hàng, do đó ngân hàng sẽ yên
tâm hơn trong việc sử dụng nguồn vốn.
2.3.2. Nhược điểm
Nhược điểm lớn nhất của CD là tính thanh khoản của nó không cao bằng tiền gửi ở tài khoản
tiết kiệm.
CD có hình phạt nếu bạn muốn rút tiền của mình trước khi đáo hạn. Bạn không chỉ bị mất số
tiền lãi có thể nhận được mà còn bị mất 10% tài sản gốc của mình. Đây gọi là hình phạt rút sớm cho
các nhà đầu tư.
Về dài hạn, CD trả lãi suất thấp hơn so với trái phiếu doanh nghiệp. Nếu bạn muốn gửi tiền
của mình trong vòng 5 năm, tốt nhất là bạn nên tìm mua một trái phiếu có độ tín nhiệm cao nhất. Dù
sẽ không được chính phủ đảm bảo nhưng lãi suất của chúng vẫn cao hơn nhiều so với chứng chỉ tiền
gửi.
2.4. Thuận lợi và hạn chế của chứng chỉ tiền gửi
2.4.1. Đối với ngân hàng
- Ngân hàng yên tâm hơn đối với việc sử dụng số vốn thu được vì ít khách hàng muốn rút lại
tiền trước thời gian đáo hạn. Trong trường hợp nếu khách hàng rút lại tiền trước thời hạn thì ngân
hàng không phải trả lãi trước đó mà còn thu được một số tiền đền bù của khách hàng.
- Tiền lãi phải trả cho khách hàng đối với chứng chỉ tiền gửi cao hơn so với gửi tiết kiệm.
2.4.2. Đối với người gửi
- So với tiết kiệm tính an toàn của nó cũng không kém trong khi lãi suất lại cao hơn. Vì thế,
đối với những người có số vốn mà không sử dụng trong lâu dài thì nên mua chứng chỉ tiền gửi hơn
là gửi tiết kiệm.
- Nhưng cần tính toán kỹ khi mua.
Theo trợ lý đầu tư của một ngân hàng thương mại cổ phần, về lý thuyết, người mua chứng chỉ tiền
gửi không được thanh toán trước hạn và vì thế, ngân hàng sẽ “yên tâm” hơn trong kế hoạch sử dụng
nguồn vốn.
K09402B_Nhóm 2 đô
12
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
Nếu có nhu cầu về vốn mà giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán, người mua chỉ có thể “cầm cố”
giấy tờ có giá này để vay vốn và tất nhiên, lãi suất cho vay lại sẽ cao hơn lãi suất mà ngân hàng trả
cho người mua. Như vậy, lợi tức cao của giấy tờ có giá sẽ giảm đi rất nhiều nếu khách hàng thực
hiện việc “cầm cố”.
Chẳng hạn trong thể lệ của đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi này, Sacombank quy định, nếu khách
hàng có nhu cầu sử dụng vốn trước thời gian đáo hạn thì khách hàng có thể chiết khấu hoặc cầm cố
chứng chỉ tiền gửi để vay lại.
Khách hàng được chiết khấu khi đã nắm giữ chứng chỉ tiền gửi tối thiểu 1/2 thời gian kể từ ngày
phát hành và thời gian chiết khấu là thời hạn còn lại của chứng chỉ tiền gửi được. Trường hợp khách
hàng cầm cố chứng chỉ tiền gửi, tỷ lệ cho vay/mệnh giá chứng chỉ tiền gửi sẽ được tính theo quy
định của Sacombank về cho vay cầm cố.
Thậm chí, khi ngân hàng “ưu đãi” cho phép khách hàng chủ động nguồn vốn đột xuất bằng cách
thanh toán trước hạn thì mức lãi suất mà khách hàng được hưởng cũng không hề hấp dẫn.
Như trong quy định phát hành chứng chỉ tiền gửi của một ngân hàng lớn, lãi suất thanh toán trước
hạn được căn cứ vào thời gian thực gửi, cụ thể: dưới 1 tháng hưởng lãi suất không kỳ hạn; từ 1 - 3
tháng lãi suất bằng 45% lãi suất cam kết; từ 3 - 6 tháng bằng 50% lãi suất cam kết; từ 6 - 9 tháng
bằng 60% lãi suất cam kết và từ 9-12 tháng bằng 70% lãi suất cam kết.
Bởi vậy, theo bà trợ lý trên, mặc dù có lãi suất cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn, nhưng
người mua cần tính toán kỹ, chỉ nên mua khi đã kế hoạch hóa được việc sử dụng vốn của mình.
Đặc biệt, người mua nên nắm rõ mức lãi suất cho vay nếu ngân hàng quy định chỉ có thể rút vốn
bằng cách cầm cố giấy tờ có giá để vay lại tiền hoặc mức lãi suất thanh toán trước hạn nếu được
phép thanh toán trước.
2.5. So sánh chứng chỉ tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
2.5.1. Giống nhau
- Ở cả hai hình thức, Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng. Sau khi hết kỳ hạn, ngân hàng
có nghĩa vụ trả cho khách hàng tiền gốc và tiền lãi (tiền lãi này tương ứng với thời hạn gửi).
- Lãi suất không thay đổi trong suốt thời gian gửi.
- Các mức lãi suất thay đổi theo từng thời hạn gửi: 1,3, 6 tháng…
- Đều là hình thức tiết kiệm an toàn.
2.5.2. Khác nhau
- Ưu điểm của chứng chỉ tiền gửi so với gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ huy động vốn mới so với huy động tiền gửi tiết kiệm vốn
đã quen thuộc từ lâu. Có thể nói tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là một nguồn vốn bảo đảm thường
K09402B_Nhóm 2 đô
13
Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu
xuyên của ngân hàng, người tiết kiệm có thể gửi tiền vào ngân hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong
năm. Trong khi đó chứng chỉ tiền gửi (thường là ngắn hạn) chỉ được ngân hàng phát hành theo từng
đợt, một đợt kéo dài khoảng 2 tháng, do nhu cầu vốn đặc biệt của ngân hàng hay do nhu cầu cạnh
tranh vốn giữa các ngân hàng với nhau. Do đó trong mỗi đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi, để thu
hút được sự chú ý của khách hàng cũng như tăng thêm tính hấp dẫn của CDs, nâng cao hiệu quả của
đợt phát hành, các ngân hàng thường phát hành chứng chỉ tiền gửi kèm với một số ưu đãi cũng như
lợi ích hơn hẳn so với tiền gửi tiết kiệm như sau:
Lãi suất hấp dẫn: Lãi suất chứng chỉ tiền gửi thường cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có
cùng kỳ hạn.
VD: Chứng chỉ tiền gửi dài hạn của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV phát hành đợt
I/2009 có lãi suât đối với các chứng chỉ trên 1 năm là 8,2-8,6%/năm; trong khi đó lãi suất tiền gửi có
kỳ hạn của ngân hàng này tại cùng thời điểm với cùng kỳ hạn là 7,8-8,4%/năm.
Ngân hàng TMCP quân đội MB, đợt phát hành đầu tháng 8 vừa qua mức lãi suất của chứng
chỉ tiền gửi cao hơn lãi suất tiền gửi thông thường từ 0,05 – 0,15%.
Trong trường hợp lãi suất chứng chỉ tiền gửi có cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thì các
ngân hàng lại đưa ra các hình thức khuyến mãi, bốc thăm trúng thưởng thu hút không ít khách hàng
mua chứng chỉ tiền gửi.
VD: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) ngày 20.8.09 phát hành
“chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn dự thưởng 2009” tại hơn 2.000 chi nhánh trên toàn quốc. Mệnh giá tối
thiểu 1 triệu đồng, kỳ hạn gửi năm tháng lãi suất 8%/năm, bảy tháng 8,3%, 12 tháng lãi 8,6%.
Tại phòng giao dịch Agribank Lê Lợi, sau khi so sánh thấy mức lãi suất chứng chỉ tiền gửi dự
thưởng kỳ hạn 5 – 7 tháng chỉ 8 – 8,3%/năm, trong khi lãi suất tiết kiệm thông thường ngân hàng áp
dụng cho kỳ hạn sáu tháng lên đến 8,4%/năm, một số khách hàng đã chọn cách gửi thông thường.
“Tuy nhiên, không ít người tỏ ra quan tâm đến chương trình quay số trúng thưởng và đã chấp
nhận mức lãi suất thấp hơn để nhận phiếu dự thưởng”.
- Hạn chế của chứng chỉ tiền gửi
Cũng như tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi sẽ được Ngân hàng lên kế hoạch sử dụng theo thời
hạn đã định. Do đó nếu khách hàng có nhu cầu về vốn khi chứng chỉ tiền gửi chưa đáo hạn thì:
+ Hoặc khách hàng phải cầm cố “giấy tờ có giá” này để vay vốn và tất nhiên, lãi suất cho vay
lại sẽ cao hơn lãi suất mà ngân hàng trả cho người mua. Như vậy, lợi tức cao của giấy tờ có giá sẽ
giảm đi rất nhiều nếu khách hàng thực hiện việc “cầm cố”.
+ Hoặc nếu ngân hàng cho phép thì khách hàng được quyền thanh toán trước hạn với lãi suất
bị giảm đi đáng kể:
VD: BIDV, đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt II/2009, cho phép người mua được thanh toán
trước hạn với lãi suất rút trước hạn căn cứ thời gian thực gửi như sau:
K09402B_Nhóm 2 đô
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét