Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Phát triển đồng bộ các loại thị trường

Đề án Kinh tế chính trị
Trong môi trường quốc tế hóa, sự phát triển đồng bộ các loại thị
trường không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn nhằm vươn tới thị
trường ngoài nước, tranh thủ cơ hội quốc tế để phát triển.
Như vậy, cả điều kiện chủ quan và khách quan, điều kiện trong nước
và ngoài nước, trước mắt và lâu dài đòi hỏi phải phát triển đồng bộ các loại
thị trường. Đồng bộ là có sự ăn khớp giữa tất cả các bộ phận hoặc các khâu,
tạo nên một sự hoạt động nhịp nhàng của chỉnh thể. Để có thể ăn khớp với
nhau, các khâu, các bộ phận của một chỉnh thể phải được sắp xếp và hoạt
động theo một tương quan tỷ lệ nhất định gọi là tỷ lệ đồng bộ. Vậy, sự phát
triển đồng bộ các loại thị trường là sự ăn khớp giữa các thị trường về loại
hình, trình độ phát triển và quy mô tạo nên một sự hoạt động nhịp nhàng của
hệ thống thị trường và nền kinh tế quốc dân.
Sự đồng bộ của thị trường trước hết là hệ thống thị trường với đầy đủ
các loại hình : thị trường tiền tệ, thị trường công nghệ, thị trường lao động,
thị trường đất đai, thị trường hàng hóa dịch vụ Các thị trường này vừa độc
lập với nhau vừa liên hệ với nhau trong hệ thống thị trường. Mỗi loại thị
trường đều có cung - cầu, giá cả, người mua - người bán đặc thù ; có quy
luật vận hành đặc trưng và khuynh hướng phát triển khác nhau. Sự quan hệ
lệ thuộc, tác động biện chứng giữa các thị trường do quá trình trao đổi hoạt
động và phối hợp cung ứng hình thành sản phẩm cuối cùng. Sự độc lập
tương đối của các thị trường luôn có xu hướng phá vỡ sự cân bằng tổng thể.
Sự phụ thuộc và liên hệ giữa các thị trường đòi hỏi sự cân bằng mới và ăn
khớp với nhau. Vấn đề ở đây là, để cân bằng tự phát hay chủ động điều tiết
để có sự ăn khớp hợp lý. Vai trò tạo điều kiện và chủ động điều tiết của Nhà
nước để tạo sự đồng bộ, ăn khớp và hợp lực các hệ thống thị trường là đặc
biệt quan trọng.
5
Đề án Kinh tế chính trị
Vấn đề thứ hai của sự đồng bộ các loại thị trường là vấn đề ăn khớp
về cấp độ hay mức độ phát triển thị trường. Về phương diện lịch sử thị
trường, có ba cấp độ phát triển như sau :
- Cấp độ thị trường cổ điển : Đây là dạng thức của thị trường mà ở
cùng một không gian, thời gian, địa điểm ba yếu tố người mua, người bán và
hàng hóa xuất hiện đồng thời với nhau. Với dạng thức thị trường này, người
ta có thể nhận biết về quy mô, động thái mua bán trên thị trường.
- Cấp độ thị trường phát triển : Ở dạng thức thị trường này, hàng hóa
không nhất thiết phải xuất hiện đồng thời với người mua, người bán. Người
ta có thể mua bán ngay cả trước khi hàng hóa được sản xuất ra. Đó là mua
bán theo hợp đồng ký trước. Với dạng thức thị trường này, tính "hiện hữu"
của thị trường không nhìn thấy được. Thị trường trải rộng cả không gian và
thời gian.
- Cấp độ thị trường hiện đại : Trên thị trường lúc này chỉ xuất hiện
hoặc người mua, hoặc người bán. Khi đó, người trung gian xuất hiện làm các
công việc giao dịch và dịch vụ thương mại. Việc ra đời của các sở giao dịch
chứng khoán, sở giao dịch thương mại đáp ứng yêu cầu dịch vụ mua bán
trên thị trường. Đặc trưng của thị trường hiện đại là các hình thức dịch vụ
phong phú và phát triển rất cao.
Về lịch sử, thị trường lần lượt trải qua ba cấp độ phát triển. Song mỗi
quốc gia, khu vực không phải tuần tự diễn ra như vậy. Khi một cấp độ thị
trường mới xuất hiện thì ở các nước thực hiện kinh tế thị trường đều có thể
xuất hiện dạng thức thị trường đó bất luận trình độ phát triển kinh tế như thế
nào. Tuy nhiên, mức độ phát triển, phạm vi và ảnh hưởng của mỗi dạng thức
không giống nhau. Hiện nay, với các nước phát triển thì cấp độ thị trường
6
Đề án Kinh tế chính trị
hiện đại chiếm ưu thế phổ biến, thị trường phát triển còn chi phối ở phạm vi
rất rộng, thị trường cổ điển là tàn dư. Ở Việt Nam, có thể nói cấp độ thị
trường cổ điển là phổ biến, chừng mực nào đó cấp độ thị trường phát triển đã
có sức chi phối lớn trên thị trường, còn cấp độ thị trường hiện đại đang ở
giai đoạn khởi phát.
Vấn đề thứ ba của phát triển đồng bộ các loại thị trường là sự ăn
khớp, nhịp nhàng, cân đối và tạo hợp lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tương quan giữa các thị trường trong tổng thể nền kinh tế quốc dân hợp lý
thì hoạt động mới có hiệu quả. Từng loại thị trường cũng như hệ thống thị
trường trong nền kinh tế quốc dân là một chỉnh thể thống nhất, không bị chia
cắt bởi địa giới hành chính. Sự ăn khớp nhịp nhàng, cân đối giữa các loại thị
trường theo yêu cầu của sản xuất và đời sống. Tính nhịp nhàng, cân đối về
mặt lượng là tương quan tỷ lệ hợp lý giữa hàng và tiền, cung và cầu ở tầm vĩ
mô. Sự nhịp nhàng cân đối còn thể hiện ở sự khớp nhau về tiến độ, thời gian,
phạm vi trong tiến trình hình thành và phát triển thị trường "đầu vào", "đầu
ra" của quá trình sản xuất.
Sự ra đời của các loại thị trường và khả năng đồng bộ của chúng do
trình độ và yêu cầu sản xuất xã hội quyết định. Nói một cách khác là nó
mang tính khách quan. Nhà nước tạo môi trường và điều kiện để phát triển
sản xuất hàng hóa và tạo cơ sở cho thị trường phát triển. Nhà nước điều tiết,
điều chỉnh thị trường bằng các công cụ quản lý vĩ mô. Không thể chủ quan
tạo thị trường và khuôn ranh giới cho thị trường. Mọi sự tác động duy ý chí
sẽ tạo ra thị trường ngầm, Nhà nước không quản lý được.
7
Đề án Kinh tế chính trị
2.Một số khái niệm về kinh tế thị trường:
2.1 Thị trường:
Trong kinh doanh thị trường được hiểu là nơi mà người mua và người
bán (bên có nhu cầu và bên cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với
nhau để trao đổi mua bán một loại hàng hóa, dịch vụ.
Theo kinh tế hoc, một nghĩa rộng hơn thì thị trường được hiểu là nơi
có các quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những người bán và
người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời
gian nào.
2.2. Đặc trưng cơ bản của các loại thị trường:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng
mang những đặc điểm vốn có của kinh tế thị trường, đều vận động theo
những quy luật vốn có của thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cung -
cầu, quy luật cạnh tranh…Trong nền kinh tế nước ta xét về thuộc tính hàng
hoá cũng phải có đầy đủ các loại thị trường như: thị trường hàng hoá- dịch
vụ, thị trường tài chính (vốn và tiền tệ), thị trường bất động sản, thị trường
lao động, thị trường khoa học - công nghệ…
Tuy nhiên một điều khác biệt căn bản giữa nền kinh tế thị trường
nước ta và kinh tế thị trường ở các nước tư bản đó là mục tiêu phát triển của
nền kinh tế. Nếu như ở các nước tư bản mục lợi nhuận được đặt lên hàng
đầu thì ngược lại ở Việt Nam, mục tiêu quan trọng nhất là giải phóng sức
sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH, nâng
cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân.
8
Đề án Kinh tế chính trị
Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần kiên định vai trò điều tiết của
Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng, tạo ra môi trường cạnh tranh hiệu quả,
bình đẳng, công bằng xã hội. Nhà nước thông qua các công cụ và hệ thống
chính sách kinh tế vĩ mô để tổ chức, quản lý và định hướng các loại thị
trường theo mục tiêu đã đề ra.
3. Mối quan hệ giữa các loại thị trường:
Các loại thị trường có mối quan hệ chặt chẽ và cùng thúc đẩy nhau
phát triển.
3.1.Mối quan hệ giữa thị trường đầu vào và thị trường đầu ra:
Thị trường đầu vào là thị trường các yếu tố sản xuất bao gồm: thị
trường vốn, sức lao động và các điều kiện vật chất khác cho quá trình tái sản
xuất. Có thị trường này thì mới có các yếu tố sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ
hay nói cách khác mới có thị trường đầu ra. Số lượng, chất lượng, tính đa
dạng của thị trường đầu ra do thị trường đầu vào quy định. Tuy nhiên thị
trường đầu ra không phải phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường đầu vào mà nó
là mối quan hệ biện chứng, nó có tác động kích thích tính tích cực của thị
trường đầu vào. Nếu như hàng hóa sản xuất ra mà không thể tiêu thụ thì sẽ
không có tích luỹ cho quá trình tái sản xuất như vậy sản xuất sẽ bị ngưng trệ,
khi đó cả thị trường đầu vào và đầu ra đều ngưng hoạt động.
3.2.Mối quan hệ giữa thị trường trong và ngoài nước:
Sẽ thật là sai lầm nếu như muốn phát triển cân bằng các loại thị
trường mà không chú ý đầy đủ tới thị trường nước ngoài, chú ý tới ngoại
thương. Đặc biệt trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất,
khoa học kĩ thuật, thông tin liên lạc và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện
9
Đề án Kinh tế chính trị
nay, thị trường nước ngoài càng có ý nghĩa to lớn với việc phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thị trường nước ngoài thông qua ngoaị thương có tác động thúc đẩy
và hỗ trợ thị trường trong nước phát triển. Ngược lại, thông qua ngoại
thương thị trường trong nước nhanh chóng tiếp cận thị trường thế giới.
Xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong
nước càng có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài. Ngoại thương
sẽ là cán cân để cân bằng thị trường trong và ngoài nước, đảm bảo sự phát
triển bền vững của nền kinh tế.
II. THỰC TRẠNG:
10
Đề án Kinh tế chính trị
1.Thực trạng chung:
Lịch sử phát triển các loại thị trường phải đi từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ chưa đồng bộ đến đồng bộ. Ở Việt Nam hiện nay bên
cạnh thị trường truyền thống là thị trường hàng hoá - dịch vụ các thị trường
tài chính, bất động sản, thị trường khoa học công nghệ…đang dần dần từng
bước được hình thành.
Nhìn chung các loại thị trường còn sơ khai chưa đồng bộ xét về cả
trình độ, phạm vi và sự phối hợp các yếu tố thị trường trong toàn thể thống
nhất.
2.Thực trạng từng loại thị trường:
2.1.Thị trường hành hóa - dịch vụ
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển khu vực thị trường này đã
đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nếu như trước năm 1986, khi nền kinh tế
theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mọi hàng hoá- dịch vụ đều được
cung ứng bởi Nhà nước dưới hình thức tem phiếu, không hề có khái niệm thị
trường, thì nay mọi thứ hàng hoá - dịch vụ từ thiết yếu đến theo nhu cầu đều
được đáp ứng đầy đủ trên thị trường và chủ thể cung cấp hàng hoá- dịch vụ
không còn độc quyền là Nhà nước nữa. Có thể nói mọi nhu cầu của con
người đều được hệ thống thị trường này đáp ứng.
Một minh chứng cho sự phát tiển này là việc cùng một loại hàng hóa
nhưng có rất nhiều mẫu mã, thương hiệu và giá cả khác nhau cho người tiêu
dung lựa chọn, sẽ thấy rất rõ khi vào bất kì một siêu thị nào, có những dãy
riêng cho từng chủng loại hàng hoá và người tiêu dùng có thể tuỳ ý lựa chọn
cho mình một sản phẩm phù hợp.
11
Đề án Kinh tế chính trị
Nói đến khu vực thị trường hàng hoá - dịch vụ không thể không kể
đến thị trường hàng hóa - dịch vụ xuất nhập khẩu. Thị trường này ngày càng
được mở rộng nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO ngày 17 tháng 1 năm 2007 vừa qua. Trong những năm gần đây, cán
cân thương mại luôn đạt mức xuất xiêu. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là
những mặt hàng có lợi thế so sánh như: gạo, dầu thô, than đá, hải sản, da
giầy… Có thể nói thị trường hàng hoá xuât nhập khẩu ngày càng trở nên sôi
động, đóng góp không nhỏ vào GDP cả nước. Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê, tổng giá trị xuất nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2008 đạt khoảng
18,26 tỉ USD, tăng 27,6 % so với cùng kì năm trước. Nhìn chung các mặt
hàng xuất khẩu đều tăng. Dầu thô đạt sản lượng 4,58 triệu tấn với kim ngạch
3,5 tỉ USD, dệt may đạt 2,6 tỉ USD tăng 24,5 % so với cùng kì năm 2007…
Thị trường dịch vụ - ngành công nghiệp không khói của Việt Nam
cũng ngày càng phát triển. Theo thống kê 4 tháng đầu năm 2008 có 1,7 triệu
lượt khách nước ngoài vào Việt Nam, tăng 16,1% so với cùng kì, trong đó
trên 1 triệu lượt khách là đi thăm quan, du lịch, nghỉ ngơi, tăng 12,3% so với
cùng kì 2007.
Tuy nhiên, hiện nay khu vực thị trường này vẫn còn hạn hẹp và còn
tồn tại nhiều hiện tượng tiêu cực như: hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái
nhãn hiệu…vẫn đang từng ngày từng giờ gây rối thị trường.
Sự hạn hẹp thể hiện ở việc đầu cơ tích trữ hàng hoá, đẩy giá lên cao
nhằm thu lợi nhuận bất chính. Trong mấy ngày vừa qua vì một tin đồn rằng
Việt Nam sẽ thiếu gạo của một số kẻ xấu, điều này đã kích động nhân dân
đổ xô đi mua gạo để dự trữ. Lượng cầu bỗng tăng đột biến, một số chủ đại lý
thấy được tình hình có lợi bèn đẩy giá lên cao đế gấp đôi, gấp ba giá bình
12
Đề án Kinh tế chính trị
thường, số khác thì hạn chế bán ra để chờ cho giá lên cao nữa rồi mới bán.
Thiệt hại lớn nhất thuộc về người tiêu dùng.
Hay như trong lĩnh vực thuốc tân dược cũng vậy. Có không ít những
kẻ xấu, thu được lợi nhuận bất chính từ việc đầu cơ thuốc, đặc biệt là thuốc
ngoại, làm cho giá của các loại thuốc này tăng lên gấp nhiều lần giá thực của
nó. Và người thiệt hại nhất vẫn là những người tiêu dùng.
Một thực trạng nữa hiện nay là nạn hàng nhập lậu. Vì chưa thể ngăn
chặn tận gốc loại hàng hoá này nên chúng vẫn lén lút đem vào thị trường
trong nước. Mới đây khi Nghị định 146 NĐ/CP của Chính phủ có hiệu lực,
thị trường mũ bảo hiểm Việt Nam bỗng trở nên sôi nổi. Và sôi nổi nhất có
thể nói là ở các tỉnh biên giới như: Lạng Sơn, Lào Cai, Móng Cái- Quảng
Ninh…từng ngày từng giờ có hàng nghìn chiếc mũ bảo hiểm được nhập lậu
trái phép vào Việt Nam. Điều đáng lên án là chất lượng của những chiếc mũ
này cực kì kém mặc dù trông bề ngoài thì nó không khác gì so với một chiếc
đã được kiểm định. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng khi đội
những chiếc mũ không đảm bảo như vậy sẽ còn nguy hiểm hơn là không
đội, bởi khi có va đập dù là nhẹ những chiếc mũ này cũng sẽ vỡ ngay lập
tức, và những mảnh vụn từ đó có thể rất nguy hiểm cho người sử dụng.
Mở của đồng nghĩa với việc hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường
trong nước, chất lượng thường cao hơn và sẵn tâm lý sính hàng ngoại nên đã
làm cho thị trường nội địa trở nên yếu thế.
Tóm lại, Thị trường hàng hóa - dịch vụ đã có những bước tiến nhưng
còn rất nhiều hạn chế, bất cập, cần có sự quản lý và điều tiết vĩ mô hiệu quả
hơn nữa của Nhà nước để tạo nên một môi trường kinh doanh phát triển
mạnh mẽ mà ổn định, bền vững.
13
Đề án Kinh tế chính trị
2.2.Thị trường tài chính: Bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường
vốn
Thị trường tiền tệ được hiểu là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra
các hoạt động của cung và cầu về vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn bao gồm cầu
trái phiếu ngắn hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạn rủi ro
thấp, tính thanh khoản cao. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt
động của hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất
trong việc cung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn.
Hiện nay thị trường vốn và tiền tệ nước ta đã có nhiều tiến bộ. Thể
hiện qua sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng trong tất cả các lĩnh
vực. Hệ thống ngân hàng một cấp trước đây được thay bằng hệ thống ngân
hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại (kinh doanh).
Theo cơ cấu ngành kinh tế với tư cách là đối tượng phục vụ, ở Việt Nam có
các ngân hàng chuyên doanh như: Ngân hàng ngoại thương Vietcombank,
Ngân hàng nông nghiệp AgriBank, Ngân hàng đầu tư và phát triển BIDV,
Ngân hàng chính sách xã hội…còn ngân hàng kinh doanh tổng hợp là Ngân
hàng Công thương Vietinbank…Nhờ đó thị trường về vốn ngắn hạn rất dồi
dào.
Một kênh vốn nữa hiện nay mà chúng ta đã và đang coi trọng đó là
kênh vốn đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tổng số
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép kể từ năm 1988 đến
2006 là 29,6 tỉ USD, riêng năm 2006 con số này là 10,2tỉ USD. Bức tranh về
đầu tư nước ngoài ở nước ta trong năm 2006 có màu sắc phong phú hơn với
sự xuất hiện của một số dự án mới có quy mô lớn từ các tập đoàn xuyên
quốc gia Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, như dự án của Công ty thép Posco
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét