Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty Bia - Nước giải khát hải Dương

của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoăch đơn
vị giá trị. Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tuỳ thuộc vào đặc
trưng của sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ,
kg, m, m
3
, lít, Các đơn vị có thể là đồng, triệu đồng , ngoại tệ , Kết
quả cũng có thể phản ảnh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn
tòan định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản
phẩm, Cần chú ý rằng không phải chỉ kết quả định tính mà kết quả đinh
lượng của một thời kỳ kinh doanh nào đó thường là rất khó xác định bởi
nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản
phẩm dở dang, bán thanh phẩm Hơn nữa, hầu như quá trình sản xuất
lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản suất xong ở một
thời kỳ nào đó cũng chưa thể khẳng định được liệu sản phẩm đó có tiêu
thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ được và thu được tiền về ,
Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ảnh trình độ lợi dụng các
nguồn lực sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng
các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý
rằng trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ảnh bằng tỷ số
tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực. Tránh nhầm lẫn giữa
phạm trù hiệu quả kinh doanh với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa kết
quả và hao phí nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số
tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào
đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình kinh doanh và không
bao giờ phản ảnh được trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu kết
quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hỉệu quả là phương
tiện để có thể đạt được mục tiêu đó .
Hao phí nguồn lực của một thời kỳ trước hết là hao phí về mặt
hiện vật , cũng có thể được xác định bởi đơn vị hiện vật và đơn vị giá
trị .Tuy nhiên , thông thường người ta hay sử dụng đơn vị giá trị vì nó
mang tính so sánh cao .Rõ ràng ,việc xác định hao phí nguồn lực của
một thời kỳ nhất định cũng là vấn đề không đơn giản .Không đơn giản
ngay sự nhận thức về phạm trù này:hao phí nguồn lực được đánh giá
thông qua phạm trù chi phí , chi phí kế toán hay chi phí kinh doanh ?
Cần chú ý rằng , trong các phạm trù trên chỉ phạm trù chi phí kinh doanh
là phản ảnh tương đối chính xác hao phí nguồn lực thực thế .Mặt khác ,
việc có tính toán được chi phí kinh doanh trong từng thời kỳ kinh doanh
ngắn hay khôngcũng như có tính toán được chi phí kinh daonh đến từng
bộ phận doanh nghiệp hay không còn phụ thuộc vào trình độ phát triển
của khoa học quản trị chi phí kinh doanh .
Cũng cần chú ý rằng hiệu quả kinh doanh phản ảnh trình độ lợi
dụng các nguồn lực sản xuất trong một thời kỳ kinh doanh nào đó hoàn
toàn khác với việc so sánh sự tăng lên của kết quả với sợ tăng lên của sự
tham gia các yếu tố đầu vào .
Vậy hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ảnh trình độ lợi
dụng các nguồn lực, phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh
doanh ,phức tạp và khó tính toán bởi cả phạm trù kết quả và hao phí
nguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể nào đó đều khó xác định một cách
chính xác.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh
Phân loại hiệu quả kinh doanh là một việc làm hết sức thiết thực, nó
là phương cách để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả mà
mình đạt được và là cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lược, kế
hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù
hiệu quả được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện
những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh
doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc
điều hành tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.
2.1. Hiệu qủa cá biệt và hiệu quả kinh tế quôc dân
Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của
từng doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và
chất lượng thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra cho nó. Hiệu quả kinh
tế quốc dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm
thăng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu
được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài
nguyên đã hao phí.
Trong việc thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh của từng doanh nghiệp, mà còn cần phải đạt được hiệu quả của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân; mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ
thuộc vào mức hiệu quả cá biệt. Nghĩa là phụ thuộc vào sự cố gắng của
mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp. Đồng thời xã hội thông qua
hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến
hiệu quả cá biệt. Một cơ chế quản lý đúng tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nâng cao hiệu quả cá biệt, ngược lại một chính sách lạc hậu, sai lầm
lại trở thành lực cản kìm hãm nâng cao hiệu quả cá biệt.
2.2. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận
Thứ nhất , hiệu quả kinh doanh tổng hợp . Hiệu quả kinh doanh tổng
hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của
toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (hay một đơn vị bộ
phận của doanh nghiệp ) trong một thời kỳ xác định
Thứ hai , hiệu quả kinh doanh bộ phận .Hiệu quả kinh doanh bộ phận là
hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động ( sử dụng vốn , lao
động, máy móc thiết bị ,nguyên vật liệu , ) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu
quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ảnh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp chứ không phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp .
Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp doanh
nghiệp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể
của doanh nghiệp.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu
thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ
phận, khi đó chỉ có hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận
chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận của
doanh nghiệp mà thôi
2.3. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
Thứ nhất , hiệu quả kinh daonh ngắn hạn, là hiệu quả kinh doanh
được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian. Hiệu quả kinh doanh
ngắn hạn chỉ đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng,
quý, năm, vài năm,
Thứ hai, hiệu quả kinh doanh dài hạn, là hiệu quả kinh doanh được
xem xét ,đánh giá trong thời gian dài gắn với các chiến lược, các kế
hoạch dài hạn hoặc thậm chí, nói dến hiệu quả kinh doanh dài hạn người
ta hay nhắc đến hiệu quả lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp.
Cần chú ý rằng, giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và hiệu quả kinh
doanh ngắn hạn vừa có mối quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều
trường hợp có thể mâu thuẫn nhau.Về nguyên tắc, chỉ có thể xem xét và
đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được
hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai. Trong thực tế, nếu mâu
thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, chỉ có thể lấy hiệu
quả kinh doanh dài hạn làm thước đo chất lượng hoat động kinh doanh
của doanh nghiệp vì nó phản ánh xuyên suốt quá trình lợi dụng các nguồn
lực sản xuất của doanh nghiệp.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG.
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạp trù khan hiếm: càng ngày người
ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất
phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi các nguồn lực sản
xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng
và tăng không có giới hạn. Điều này phản ảnh quy luật khan hiếm. Quy luận
khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn vầ trả lời chính xác ba
câu hỏi :sản xuất cái gì ? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? vì thị
trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại
sản phẩm (dich vụ ) với số lượng và chất lượng phù hợp. Mọi doanh nghiệp
trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội
để sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được trên thi trường - tức kinh doanh
không có hiệu quả, lãnh phí nguồn lực xã hội - sẽ không có khả năng tồn tại.
Mặt khác, mọi doanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế thị trường mở
cửa và ngày càng hội nhập phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh
.muốn chiến thắng trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo và duy trì các
lợi thế cạnh tranh :chất lượng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ cung
ứng .Để duy trì lợi thế về giá cả doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các
nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Chỉ trên cơ
sở sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp mới có khả
năng đạt được điều này .
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
là tối đa hoá lợi nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến
hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm (dịch vụ )cung
cấp cho thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản
xuất xã hội nhất định. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiêm các nguồn lực
này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được lợi nhuận bấy nhiêu. Hiệu quả
kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao
trùm, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản
ánh doanh nghiệp dã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất.Vì vậy,
nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp
thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH
Hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lượng
tổng hợp, nó liên quan tới tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh,
do đó nó chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau.
Muốn đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trước
hết doanh nghiệp phải xác định được nhân tố nào tác động đến kinh
doanh và tác động đến hiệu quả kinh doanh, nếu không làm được điều
này thì doanh nghiệp không thể biết được hiệu quả hình thành từ đâu và
cái gì sẽ quyết định nó. Xác định nhân tố ảnh hưởng, ảnh hưởng như thế
nào và mức độ, xu hướng tác động là nhiệm vụ của bất cứ nhà kinh
doanh nào.
Nói đến nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có rất nhiều,
nhưng chúng ta có thể chia làm hai nhóm chính: nhân tố thuộc về doanh
nghiệp và nhân tố ngoài doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp
phải có biện pháp tác động lên các yếu tố một cách hợp lý, có hiệu quả,
làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển tốt hơn, phát huy tốt hơn các
nhân tố tích cực và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn hoạt động được thì nó phải có một hệ
thống cơ sở vật chất, con người, đây chính là nhân tố thuộc về bản thân
doanh nghiệp. Trong guồng máy hoạt động chung của doanh nghiệp,
mỗi nhân tố đóng một vai trò nhất định, mà thiếu nó thì toàn bộ hệ
thống sẽ hoạt động kém hiệu quả hay ngừng hoạt động. Dưới đây xin
đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng chính đến hiệu quả kinh doanh.
1.1. Nhân tố quản trị doanh nghiệp và lực lượng lao động
Con người là khởi nguồn của mọi hoạt động có ý thức. Hoạt động
kinh doanh được bắt đầu là do con người, tổ chức thực hiện nó cũng
chính do con người. Một đội ngũ công nhân viên tốt là cơ sở để doanh
nghiệp thực hiện kinh doanh có hiệu quả. Với khả năng lao động và sáng
tạo thì nhân tố con người được đánh giá là nhân tố nòng cốt cho sự phát
triển. Kết hợp với hệ thống tư liệu sản xuất con người đã hình thành lên
quá trình sản xuất. Sự hoàn thiện của nhân tố con người sẽ từng bước
hoàn thiện quá trình sản xuất và xác lập hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp. Tuy vậy mỗi cá nhân đặt ngoài sự phân công lao động sẽ lại là
một nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh, khắc phục điều này chính là
nguyên nhân ra đời của bộ máy tổ chức, quản lý
Bộ máy tổ chức, quản lý là sự tác động trực tiếp của của các cấp
lãnh đạo xuống các cá nhân, công nhân viên nhằm mục đích buộc phải
thực hiện một hành động hay một công việc nào đó. Bộ máy tổ chức,
quản lý có hiệu quả là yếu tố quyết định sự thành công của doanh
nghiệp. Sự kết hợp yếu tố sản xuất không phải là tự phát như quá trình tự
nhiên mà là kết quả của hoạt động có tổ chức, có kế hoạch, có điều khiển
của con người, vì vậy hình thành bộ máy tổ chức có hiệu quả là một đòi
hỏi để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo ra một cơ cấu sản xuất phù
hợp và thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Một cơ cấu
hợp hợp lý còn góp phần xác định chiến lược kinh doanh thông qua
cơ chế ra quyết định và ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu và
chiến lược đó.
Cơ cấu tổ chức phù hợp góp phần phát triển nguồn nhân lực. Xác
định rõ thực lực của từng cá nhân cụ thể, đặt họ đúng vị trí trong doanh
nghiệp sẽ là cách thúc đẩy hiệu quả và phát huy nhân tố con người. Đồng
thời nó tạo động lực cho các cá nhân phát triển, nâng cao trình độ khả
năng của mình.
1.2. Vốn kinh doanh
Ngày nay, nói đến kinh doanh thì nhân tố đầu tiên được quan tâm
chính là vốn, đây là yếu tố nền tảng cho một hoạt động kinh doanh bắt
đầu. Ngay trong luật pháp của Việt Nam cũng có quy định điều luật một
doanh nghiệp được xã hội thừa nhận thì phải có số vốn tối thiếu là bao
nhiêu. Vì vậy có thể khẳng định tầm quan trọng của vốn trong kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản của doanh nghiệp dùng trong kinh doanh, bao gồm:
- Tài sản cố định hữu hình: Nhà của, kho tàng, của hàng, quày
hàng, các thiết bị máy móc
- Tài sản cố định vô hình: Bằng phát minh sáng chế, bản quyền sở
hữu công nghiệp, uy tín của công ty trên thị trường, vị trí địa lý, nhãn
hiệu các hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có vai trò quyết định trong
việc thành lập loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện
quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của
doanh nghiệp. Vốn lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng
để xếp doanh nghiệp vào loại có quy mô lớn, trung bình, nhỏ.
Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở để hoạch định chiến lược và
kế hoạch kinh doanh. Nó là một chất keo để chắp nối, dính kết các quá
trình và các quan hệ kinh tế.
Vốn kinh doanh là điều kiện, khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc tối đa hoá lợi ích dựa
trên cơ sở chi phí bỏ ra hay là tối thiếu hoá chi phí cho một mục tiêu
nhất định nào đó. Trong kinh doanh không thể thiếu khái niệm chi phí
khi muốn có hiệu quả. Vì vậy mà vốn chính là cơ sở để tạo ra lợi nhuận,
đạt được mục đích cuối cùng của nhà kinh doanh.
Thiếu vốn cho kinh doanh sẽ làm giảm hiệu quả do không tận dụng
được lợi thế quy mô, không tận dụng được các thời cơ, cơ hội. Tuy
nhiên, thiếu vốn là vấn đề mà các doanh nghiệp luôn luôn gặp phải.
Đứng trên góc độ của nhà kinh doanh thì cách thức giải quyết sẽ là tối đa
hoá lợi ích trên cơ sở số vốn hiện có.
1.3. Nghệ thuật kinh doanh và xử lý thông tin
Nghệ thuật kinh doanh là việc sử dụng có hiệu quả nhất các phương
pháp, các tiềm năng, các cơ hội và các kinh nghiệm được tích luỹ trong
quá trình kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
Nghệ thuật kinh doanh là đảm bảo cho doanh nghiệp luôn tồn tại và
phát triển. Đó là việc sử dụng các tiềm năng của bản thân doanh nghiệp
cũng như của người khác, các cơ hội các phương pháp thủ đoạn kinh
doanh có thể để: bỏ ra chi phí ít, thụ lại được nhiều, che dấu những
nhược điểm của doanh nghiệp, giữ bí mật kinh doanh và khai thác được
những điểm mạnh, điểm yếu của người khác, giải quyết nhanh ý đồ của
doanh nghiệp mà không lôi kéo các đối thủ mới vào cuộc. Bảo đảm cho
doanh nghiệp phát triển lâu dài.
Ngày nay sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật
đang làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó công nghệ thông
tin đóng vai trò quan trọng .thông tin được coi là hàng hoá
Trong kinh doanh nếu biết mình, biết người và nhất là hiểu rõ các
đói thủ cạnh tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy nắm được các
thông tin cần thiết và biết xử lý, xử dụng nó kịp thời là một điều kiện rất
quan trọng dể ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả cao
Tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ vừa đáp ứng nhu cầu thông
tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho quá trình
thu thập, xử lý ,lưu trữ vã xử lý thông tin. Do nhu cầu thông tin ngày càng
lớn nên nhiệm vụ này cũng là nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản trị
hiện nay. Phù hợp với xu thế phát triển hệ thống thông tin nội bộ pâhỉ là
hệ thống thông tin nối mạng cục bộ trong nước và quốc tế.
1.4. Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay mỗi doanh nghiệp cần
phải mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình, vì mạng lưới kinh doanh
là cách thức để doanh nghiệp có thể tiêu thụ được sản phẩm của mình.
Có tiêu thụ được sản phẩm thì mới thực hiện được kết quả kinh doanh và
thực hiện lợi nhuận. Mở rộng mạng lưới tiêu thụ cho phép doanh
nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, tăng doanh số bán và lợi nhuận.
Mạng lưới kinh doanh phù hợp sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
Hiện nay tình hình thị trường rất biến động và cạnh tranh ngày
càng gay gắt, mỗi doanh nghiệp cần phải năng động sáng tạo tìm ra cái
mới, cái cần và ngày càng hoàn thiện mạng lưới kinh doanh để thích
nghi trong cơ chế thị trường và đưa doanh nghiệp ngày càng đi lên.
1.5. Đòn bẩy kinh tế trong doanh nghiệp.
Việc doanh nghiệp sử dụng các hình thức trách nhiệm vật chất,
thưởng phạt nghiêm minh sẽ tạo ra động lực cho người lao động nỗ lực
hơn trong phần trách nhiệm của mình, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Nhân tố này cho phép doanh nghiệp khai thác tối đa tiềm năng
lao động, tạo điều kiện cho mọi người, mọi bộ phận phát huy đầy đủ
quyền chủ động sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.
2. Những nhân tố ngoài doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố thuộc doanh nghiệp thì hệ thống nhân tố ngoài
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.1. Thị trường.
Thị trường là tổng hợp các thoả thuận thông qua đó người mua và
người bán trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Chức năng cơ bản của thị trường
là ấn định giá cả đảm bảo sao cho số lượng mà những người muốn mua
bằng số lượng của những người muốn bán. Thị trường được cấu thành
bởi người bán, người mua, hàng hoá và hệ thống quy luật thị trường.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì
tất yếu phải chịu sự tác động và tuân theo các quy luật của thị trường,
việc thực hiện ngược lại các quy luật tất yếu sẽ bị đào thải. Thị trường
tác động đến kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các nhân tố sau:
Cầu về hàng hoá
Cầu về hàng hoá là số lượng hàng hoá dịch vụ mà người mua muốn
mua và sẵn sàng mua tại những mức giá cụ thể. Cầu là một bộ phận cấu
thành lên thị trường, nó là lượng hàng hoá tối đa mà doanh nghiệp có thể
tiêu thụ tại một thời điểm tại một mức giá nhất định. Khi cầu thị trường
về hàng hoá của doanh nghiệp tăng thì lượng tiêu thụ tăng lên, giá trị
được thực hiện nhiều hơn, quy mô sản xuất mở rộng và doanh nghiệp đạt
được lợi nhuận ngày một tăng. Chỉ có cầu thị trường thì hiệu quả kinh
doanh mới được thực hiện, thiếu cầu thị trường thì sản xuất sẽ luôn trong
tình trạng trì trệ, sản phẩm luôn tồn trong kho, giá trị không được thực
hiện điều này tất yếu là không có hiệu quả.
Vấn đề cầu thị trường luôn được các doanh nghiệp quan tâm.
Trước khi ra quyết định thực hiện một hoạt động kinh doanh cụ thể nào
thì công việc đầu tiên được các doanh nghiệp xem xét đó là cầu thị
trường và khả năng đưa sản phẩm của mình vào thị trường. Ngày nay

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét