Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Mô hình và cơ chế hoạt động của tổ chức đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH ở Việt Nam

Luận văn cuối khoá
của đất nớc.
- Về bản chất, quỹ BHXH vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội.
+ Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của ngời lao
động và gia đình họ luôn đợc bảo đảm trớc những bất trắc rủi ro xã hội.
+ Về mặt xã hội, do có sự san sẻ rủi ro của BHXH, ngời lao động chỉ phải
đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhng xã hội sẽ có
một lợng vật chất đủ lớn để trang trải những rủi ro xảy ra. ở đây, BHXH thực hiện
nguyên tắc lấy của số đông bù trù cho số ít điều này thể hiện sự tơng thân, tơng ái
lẫn nhau giữa các thành viên trong xã hội.
- Quá trình phân phối và sử dụng đợc chia làm hai phần:
+ Phần thực hiện chế độ hu trí mang tính chất bồi hoàn, mức độ bồi hoàn phụ
thuộc vào mức đóng góp vào quỹ BHXH, Vì vậy có thể nói rằng, quỹ BHXH là một
quỹ tiết kiệm dài hạn (bắt buộc hoặc thoả thuận) đòi hỏi ngời lao động phải đóng
góp đều đặn liên tục mới đảm bảo nguồn chi trả. Nó chỉ khác với quỹ tiết kiệm là
không đợc rút tiền ra trớc lúc nghỉ hu. Nhng nó lại tạo điều kiện cho việc đầu t dài
hạn để bảo toàn và phát triển quỹ BHXH.
+ Phần thực hiện các chế độ còn lại vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang
tính chất không bồi hoàn. Nghĩa là khi ngời lao động đang trong quá trình lao động
không bị ốm đau, tai nạn thì không đ ợc bồi hoàn; khi bị ốm đau tai nạn thì đợc bồi
hoàn, mức bồi hoàn phụ thuộc vào mức độ ốm đau, tai nạn Phần này phản ánh tính
chất cộng đồng của quỹ BHXH. Vì vậy, để đảm bảo cho quá trình sản xuất phát triển
bình thờng và góp phần thực hiện an toàn xã hội, đòi hỏi không chỉ ngời lao động mà
còn cả ngời sử dụng lao động và Nhà nớc có trách nhiệm đóng góp và tổ chức quản lý
quỹ BHXH.
- Sự tổ chức và phát triển của quỹ BHXH phụ thuộc vào điều kiện phát triển
kinh tế, xã hội của từng quốc gia. BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng
hoá. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì
hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
5
Luận văn cuối khoá
ra đời và phát triển của BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng phản ánh sự phát
triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém
không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh. Ngợc lại kinh tế càng phát triển, hệ
thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH càng mở rộng, các hình thức BHXH
ngày càng phong phú. Vì vậy việc vận dụng và thực hiện các chế độ BHXH do Tổ
chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng nớc, để vừa ổn định đời sống của ngời lao động, vừa ổn định phát
triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
- Tuỳ theo mô hình quản lý BHXH của từng nớc, quỹ BHXH có thể bao gồm
nhiều quỹ thành phần nh quỹ BHXH cho các chế độ BHXH dài hạn, quỹ BHXH cho
các chế độ BHXH ngắn hạn hoặc có nớc chia ra từng loại quỹ nh: quỹ bảo hiểm hu
trí, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ bảo hiểm ốm đau Tuy nhiên dù đ ợc tổ chức nh
thế nào thì quỹ BHXH cũng nhằm mục đích chủ yếu là chi trả trợ cấp các chế độ
BHXH cho những trờng hợp đợc bảo hiểm. Ngoài ra quỹ BHXH còn phải trang trải
cho bộ máy hoạt động BHXH chuyên nghiệp và các chi phí quản lý khác.
1.1.3. Vai trò của quỹ Bảo hiểm xã hội
Trong nền kinh tế thị trờng việc tạo lập quỹ BHXH có vai trò rất to lớn và thể
hiện trên các mặt sau đây:
- Về chính trị xã hội, việc hình thành quỹ BHXH tạo ra hệ thống an toàn xã
hội. Bởi vì, khi ngời lao động mất việc làm, hoặc không còn khả năng lao động phải
nghỉ việc, nếu không còn nguồn tài chính đảm bảo cho họ khi mất thu nhập thì có thể
đa họ tới con đờng tệ nạn xã hội Tệ nạn xã đó là nguyên nhân làm cho xã hội đó
mất ổn định về kinh tế, rối ren về mặt chính trị và làm suy yếu đất nớc. Nhng nếu có
BHXH chi trả cho họ khi gặp rủi ro để duy trì cuộc, thì những hiện tợng tiêu cực xã
hội sẽ đợc hạn chế. Trên giác độ đó có thể nói rằng thông qua việc tạo lập, phân phối
và sử dụng quỹ BHXH góp phần tạo lập hệ thống an toàn chính trị - xã hội, giữ vững
trật tự an ninh xã hội.
- Về kinh tế, quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập ngoài ngân sách nhà nớc
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
6
Luận văn cuối khoá
do các bên tham gia bảo hiểm đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho mọi
thành viên khi bị ngừng hay giảm thu nhập gây ra bởi tạm thời hay vĩnh viễn mất khả
năng lao động Thông qua quá trình phân phối lại quỹ BHXH góp phần thực hiện
mục tiêu bảo đảm an toàn xã hội về kinh tế cho ngời đợc bảo hiểm trong xã hội trớc
những trắc trở rủi ro. Mặt khác với chức năng phân phối lại theo nguyên tắc lấy của
số đông bù cho số ít, BHXH góp phần ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển,
khuyến khích động viên ngời lao động an tâm sản xuất.
- Về thị trờng tài chính, những khoản đóng góp của các chủ thể tham gia quỹ
phần lớn đợc tích tụ, mà không phải ngay lập tức chi trả trợ cấp do tính chất đặc thù
của rủi ro mà ngời lao động gặp phải là sự xuất hiện của rủi ro là trong tơng lai.
Cùng với nguyên tắc có rủi ro mới chi trả, đặc thù này đã làm cho các khoản đóng
góp BHXH trở nên nhàn rỗi. Trong nền kinh tế thị trờng, nguồn tài chính nhàn rỗi đó
của BHXH sẽ đợc chuyển vào thị trờng tài chính nh một sự vận động tất yếu. Sự vận
động của quỹ BHXH vào thị trờng tài chính có thể đợc mô tả qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sự vận động của quỹ BHXH vào thị trờng tài chính:
Trên thị trờng tài chính, quỹ BHXH thực hiện mua bán các công cụ tài chính
nh các loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán tiền tệ Nh vậy, thông qua hoạt động
đầu t tài chính của quỹ, các khoản đóng góp BHXH đã đợc chuyển hoá thành vốn
cung cấp cho ngời thiếu vốn trên thị trờng. Với vai trò này, quỹ BHXH đợc xếp vào
các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng. Chu trình tài chính của quỹ BHXH là
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
7
Những người thiếu vốn
-Cá nhân
-Người SDLĐ
-Đối tượng khác
Đóng góp
Quỹ BHXH
Vốn
Thị trường
tàichính
Vốn
Vốn
Luận văn cuối khoá
chu trình tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thị trờng tài chính.
Quá trình tham gia của quỹ BHXH vào thị trờng tài chính đợc thực hiện trên
hai thị trờng: Sơ cấp và thứ cấp. Trên thị trờng tài chính sơ cấp, việc mua bán chứng
khoán phát hành lần đầu của quỹ BHXH sẽ làm tăng quy mô vốn đầu t cho thị trờng.
Còn trên thị trờng thứ cấp, hoạt động mua bán các công cụ tài chính nhằm tìm kiếm
lợi ích của quỹ sẽ góp phần tăng tính thanh khoản cho thị trờng.
Hoạt động tích cực của quỹ BHXH sẽ không chỉ có tác dụng tài trợ vốn cho
nền kinh tế, mà còn làm giảm rủi ro thanh khoản và chuyển hóa tốt hơn thời hạn của
công cụ tài chính.
Nh vậy BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể
thiếu của mỗi quốc gia nhằm góp phần làm vững chắc thể chế chính trị, ổn định đời
sống kinh tế - xã hội và làm lành mạnh hoá thị trờng tài chính.
1.2. Đầu t tăng trởng quỹ: tính tất yếu trong hoạt động của quỹ BHXH
1.2.1.Khái niệm của đầu t
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc hoạt động đầu t có một vị
trí vô cùng quan trọng. Hoạt động đầu t có đặc điểm là thờng sử dụng một khối lợng
lớn các nguồn lực và kết quả của nó thờng phát huy tác dụng lâu dài, có ảnh hởng rất
đa dạng đối với nền kinh tế. Những sai lầm trong quyết định đầu t có thể gây ra
những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho từng doanh nghiệp cũng nh cho toàn xã
hội. Vì vậy trớc khi quyết định bỏ vốn đầu t vào một hoạt động nào đó chủ đầu t phải
tiến hành công việc chuẩn bị đầu t bao gồm tính toán cân nhắc tất cả các khía cạnh tài
chính, kinh tế, xã hội, pháp lý nhằm làm cho hoạt động đầu t mang lại hiệu quả cao
nhất. Đây là một công việc khó khăn và phức tạp vì vậy cần đợc thực hiện theo một
phơng pháp luận khoa học và bài bản. Vì: Đầu t là quá trình sử dụng các nguồn lực
nhằm mục tiêu tài chính và lợi ích kinh tế - xã hội.
1.2.2. Đầu t tăng trởng: Yêu cầu khách quan để bảo toàn quỹ BHXH.
Xuất phát từ nhiều lý do khách nhau, đòi hỏi quỹ BHXH phải đợc đem ra đầu
t nhằm mục đích tăng trởng quỹ.
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
8
Luận văn cuối khoá
Đầu t tăng trởng là việc dùng nguồn ngân quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi để đầu
t nhằm mang lại lợi nhuận và làm tăng quy mô của quỹ. Tăng trởng ở đây không đợc
hiểu là việc tăng có tính cơ học mức thu của ngời lao động và ngời sử dụng lao động,
mà nó phải đợc đặt trong mối quan hệ với lạm phát và kết quả của việc đầu t vốn
nhàn rỗi từ quỹ BHXH. Những lý do sau đây cho thấy sự cần thiết phải đầu t tăng tr-
ởng quỹ BHXH.
Thứ nhất: Bên cạnh những nội dung chi cho các chế độ BHXH ngắn hạn (ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động ), quỹ BHXH phần lớn chi cho các chế độ BHXH dài
hạn. Nhìn theo khía cạnh cơ học có thể thấy việc thu quỹ BHXH từ các khoản đóng
góp vào quỹ là khó có thể đáp ứng đợc các nhu cầu chi trả cho các chế độ BHXH.
Nếu quỹ BHXH không đợc đa ra đầu t thì theo thời gian nó sẽ bị mất đi phần lớn giá
trị do lạm phát. Để quỹ BHXH có đủ khả năng chi trả thờng xuyên, ngoài các nguồn
đóng góp, cần thiết phải có các khoản thu nhập từ bản thân hoạt động đầu t quỹ.
Thứ hai: Trong nền kinh tế thị trờng, mọi nguồn lực đều phải không ngừng
vận động. Thông thờng nguồn đóng góp quỹ của các đối tợng tham gia bảo hiểm xã
hội sẽ đợc tập trung vào quỹ BHXH, sau khi nhập quỹ phần lớn sẽ không đợc mang
ra sử dụng ngay vì kỳ thanh toán cho các chế độ hu trí, mất sức lao động, tử tuất th-
ờng kéo dài. Đây là nguồn vốn nhàn rỗi to lớn mà BHXH cần phải cung cấp để tài trợ
cho nền kinh tế.
Thứ ba: Thực tế cho thấy đến cuối năm 2003 quỹ BHXH đã có số d lên tới
33.698 tỷ đồng, dự kiến đến năm 2010 số d quỹ BHXH sẽ lên tới trên 100.000 tỷ.
Tuy nắm giữ trong tay một khoản tiền khổng lồ nhng quỹ BHXH đang gặp một số
khó khăn có thể ảnh hởng đến khả năng an toàn của quỹ. Trong tơng lai quỹ BHXH
càng phải chi nhiều hơn do số ngời hởng chế độ ngày càng nhiều. Không những thế
các chính sách từ thời điểm ra đời cho tới thời điểm thực thi cũng đã có sự thay đổi
bất lợi cho việc chi trả BHXH. Ví dụ, nh sự biến đổi theo chiều hớng tăng lên của tiền
lơng đã gây khó khăn cho quỹ BHXH khi phải chi trả cho đối tợng hởng theo mức l-
ơng hiện tại lúc họ nghỉ hu
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
9
Luận văn cuối khoá
Với những lý do và thực tế nêu trên , có thể khẳng định rằng nếu không có các
biện pháp đầu t tăng trởng quỹ BHXH để tiến tới tự cân đối thu chi quỹ BHXH thì tới
một lúc nào đó, số chi quỹ BHXH sẽ vợt quá số thu và quỹ BHXH sẽ rơi vào tình
trạng mất cân đối. Vì vậy việc tìm ra các giải pháp đầu t tăng trởng quỹ BHXH là hết
sức cần thiết trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.
Hiện nay, ở Việt Nam hoạt động đầu t vẫn do Ban kế hoạch thuộc BHXH đảm
nhiệm. Việc kiêm nghiệm nhiều vai trò nh vậy làm cho hiệu quả của công tác đầu t ở
mức độ không cao, điều này có ảnh hởng trực tiếp đến công tác chi trả trong tơng lai.
Do vậy đòi hỏi phải có một tổ chức chuyên nghiệp thực hiện công tác này với mục
đích không những bảo toàn mà còn có khả năng phát triển đợc đồng vốn bỏ ra.
1.3. Sự cần thiết của tổ chức đầu t tăng trởng quỹ BHXH.
1.3.1. Xét về lý luận
Quy luật cung cầu về vốn trên thị trờng.
Cũng nh các loại hàng hoá thông thờng khác, vốn đầu t cũng vận động theo
quy luật cung cầu về vốn. Đó là quy luật vận động từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn và từ
sự chênh lệch lãi suất trên thị trờng để đảm bảo yêu cầu của quy luật cung cầu là cân
đối vốn. Song sự vận động của vốn trên thị trờng cũng có những đặc điểm riêng biệt.
+ Sự vận động của vốn trên thị trờng đợc thực hiện dới hình thức mua bán vốn
(các chứng chỉ có giá), hoặc dới hình thức vay và cho vay (tiền tệ), các hình thức vận
động này tuy khác nhau nhng cùng bản chất và chuyển quyền sử dụng vốn, còn
quyền sở hữu vốn không thay đổi. Ngời đầu t thực hiện việc cho vay vốn hoặc đầu t
vào thị trờng chứng khoán mua các cổ phiếu, trái phiếu và thực hiện việc chuyển
quyền sử dụng vốn của mình trong một khoảng thời gian nhất định để đợc một khoản
lãi. Hết thời hạn quy định, kết thúc quá trình mua bán vốn, vốn đó lại trở về ngời đầu
t đúng bằng số lợng vốn ban đầu và thêm phần lãi. Lãi suất đầu t trên thị trờng vốn
thờng đợc gọi là giá vốn. Đó là ngời đi vay vốn phải trả cho ngời đầu t trong thời gian
mợn quyền sử dụng vốn. Tuy nhiên cũng có trờng hợp ngời đầu t bị lỗ vốn.
+ Yêu cầu của quy luật cung cầu về vốn là phải bảo đảm cung phải phù hợp
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
10
Luận văn cuối khoá
với cầu. Từ yêu cầu đó vốn trên thị trờng luôn vận động từ nơi thừa đến nơi thiếu để
tạo nên sự cân đối cung cầu. Quá trình vận động đó là khách quan, song cung phù
hợp với cầu chỉ là tạm thời, ngẫu nhiên, còn cung không phù hợp với cầu, cung cầu
mất cân đối mới là những biểu hiện thờng xuyên của quy luật cung cầu. Sự mất cân
đối giữa cung và cầu về vốn ở các không gian và thời gian khác nhau là nguyên nhân
làm cho cung cầu về vốn luôn vận động. Và đó cũng là nguyên nhân, là cơ sở cho thị
trờng vốn ra đời và tồn tại.
- Quy luật hình thành và vận động của lãi suất trên thị trờng
Giá vốn hay lãi suất trên thị trờng cũng đợc hình thành theo yêu cầu của quy
luật giá trị. Đó là giá cả (giá vốn) phải phù hợp với giá trị trên thị trờng. Nhng giá vốn
- lãi suất thị trờng lại đợc hình thành trên cơ sở khách quan của quy luật cung cầu
vốn. Vốn cung ứng trên thị trờng nhiều hơn cầu thì lãi suất giảm, ngợc lại vốn cung
ứng trên thị trờng ít hơn cầu thì lãi suất tăng. Nghĩa là lãi suất hình thành theo thị tr-
ờng và phản ánh đúng giá trị của vốn ở mọi không gian và thời gian. Quy luật giá trị,
quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh trên thị trờng vốn tác động khách quan đến
quá trình hình thành và vận động của lãi suất trên thị trờng làm cho giá vốn - lãi suất
tăng lên hay giảm đi phù hợp với giá trị của vốn. Đơng nhiên sự hình thành và vận
động của lãi suất trên thị trờng cũng mang tính không gian và thời gian rõ nét nh giá
cả các loại hàng hoá thông thờng. Vì vậy vận dụng quy luật lãi suất trên thị trờng là
phải quy định và điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với từng không gian và thời gian.
Không thể áp đặt một lãi suất cứng nhắc trên thị trờng toàn quốc hoặc ổn định lãi suất
trong một thời gian dài không tính đến sự vận động của cung, cầu về vốn giữa các
vùng và giữa các thời gian khác nhau.
- Nguyên tắc hình thành và vận động của lãi suất đầu t tăng trởng quỹ BHXH.
Do yêu cầu của hoạt động đầu t trên thị trờng là phải bảo toàn đợc vốn. Hơn
thế nữa hoạt động đầu t quỹ BHXH còn phải đợc tăng trởng. Phần vốn tạm thời nhàn
rỗi phải đợc phát triển ngày càng lớn để đáp ứng nhu cầu chi trả dài hạn. Từ mục đích
đó đòi hỏi hoạt động đầu t quỹ BHXH phải có lãi, lãi suất đầu t phải lớn hơn tỷ lệ trợt
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
11
Luận văn cuối khoá
giá trên thị trờng, nghĩa là phải có lãi suất thực dơng.
Nếu gọi P là hiệu suất đầu t quỹ BHXH; G là tỷ lệ trợt giá trên thị trờng thì
nguyên tắc lãi suất trong đầu t quỹ BHXH là: P G.
Cơ chế hình thành lãi suất dơng của hoạt động đầu t tăng trởng quỹ BHXH
cũng phù hợp với cơ chế hình thành lãi suất đầu t nói chung trên thị trờng vốn. Lãi
suất dơng là đảm bảo lợi ích kinh tế của đầu t quỹ BHXH, đồng thời cũng là biện
pháp duy nhất bảo tồn và phát triển quỹ.
Đơng nhiên lãi suất đầu t quỹ BHXH cũng phải đảm bảo lợi ích của ngời sử
dụng vốn. Ngời sử dụng vốn phải có hiệu quả, hiệu quả đó đảm bảo lợi ích cho cả hai
bên đó là trả đợc nợ vay, lãi vay và còn mang lại lợi nhuận cho ngời sử dụng vốn. Vì
vậy lãi suất cho vay đảm bảo G P Q (Q là phần lãi suất của ngời sử dụng vốn). Sự
hình thành lãi suất cho vay tù quỹ BHXH phải tuân theo quy luật khách quan đó.
Tất cả các dự án đầu t của quỹ BHXH dù tồn tại dới bất kỳ hình thức nào
cũng phải đảm bảo lợi ích kinh tế của quỹ, nghĩa là đầu t phải có lãi, đồng thời cũng
phải tính đến lợi ích kinh tế của ngời sử dụng vốn.
Do tính chất đặc thù của quỹ BHXH là quỹ thuộc sở hữu của các bên tham gia
bảo hiểm xã hội, quỹ của xã hội, quỹ đợc hình thành để chi trả cho những ngời đợc
bảo hiểm. Vì vậy yêu cầu của công tác đầu t tăng trởng quỹ là phải an toàn, phải có
lợi nhuận và có tính lỏng cao. Từ yêu cầu này đòi hỏi việc đầu t quỹ phải cân nhắc
lựa chọn các đối tợng đầu t, nói chung, các đối tợng đầu t quỹ BHXH phải là các đơn
vị làm ăn có lãi, trừ các trờng hợp có sự chỉ định của chính phủ thì do chính phủ bảo
lãnh.
Nh vậy, khi quỹ BHXH tham gia vào thị trờng vốn, lãi suất phải tuân thủ quy
luật trên thị trờng, không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan. Đây là nguyên tắc cơ bản
để hình thành lãi suất cho vay của quỹ. Việc chính phủ hoặc các cấp đợc uỷ quyền
quy định lãi suất cho vay từ quỹ BHXH phải tuân theo quy luật lãi suất thị trờng. Nhà
nớc không nên chỉ định mức lãi suất u đãi, kể cả lãi suất cho ngân sách nhà nớc vay
trong trờng hợp NSNN bội chi và quỹ BHXH hoạt động độc lập với NSNN.
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
12
Luận văn cuối khoá
Mặt khác lãi suất trên thị trờng vốn cũng thờng xuyên biến động theo quan hệ
cung cầu về vốn. Mức lãi suất thị trờng thờng đợc các ngân hàng kinh doanh tiền tệ
áp dụng, điều chỉnh kịp thời. Vì vậy lãi suất cho vay của quỹ BHXH cũng phải đợc
điều chỉnh thờng xuyên cho phù hợp với lãi suất thị trờng.
Từ những vấn đề trên đây đòi hỏi khi xây dựng mô hình và cơ chế hoạt động
của tổ chức đầu t tăng trởng quỹ BHXH phải tuân theo những quy luật của thị trờng
đó là quy luật cung cầu về vốn và quy luật vận động của lãi suất trên thị trờng.
1.3.2. Xét về thực tiễn
* Thực trạng về mô hình tổ chức
Theo quyết định 606/TTg ngày 26/09/1995 của Thủ tớng Chính phủ về việc
ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam thì cơ cấu tổ chức bộ
máy BHXH Việt Nam bao gồm 8 ban và văn phòng và trung tâm, quyết định này chỉ
rõ, khi thực hiện phơng án bảo toàn và phát triển quỹ sẽ thành lập tổ chức riêng do
Thủ tớng Chính phủ quy định. Theo Nghị định số 100/2002/NĐ - CP của Chính phủ
ban hành ngày 06 tháng 12 năm 2002 quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, thì BHXH Việt Nam bao gồm các ban, văn phòng
và trung tâm nh sau:
1. Ban Chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội;
2. Ban Kế hoạch - tài chính;
3. Ban Thu BHXH;
4. Ban Chi BHXH;
5. Ban BHXH tự nguyện;
6. Ban giám định y tế;
7. Ban tuyên truyền BHXH;
8. Ban hợp tác quốc tế;
9. Ban tổ chức cán bộ;
10. Ban kiểm tra;
11. Văn phòng;
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
13
Luận văn cuối khoá
12. Trung tâm nghiên cứu khoa học BHXH;
13. Trung tâm Công nghệ thông tin;
14. Trung tâm đào tạo và bồi dỡng nghiệp vụ BHXH;
15. Trung tâm lu trữ;
16. Báo Bảo hiểm xã hội;
17. Tạp chí Bạo hiểm xã hội;
Trong điều 2 của Nghị định này có chỉ rõ BHXH Việt Nam xây dựng, trình
Thủ tớng Chính phủ phê duyệt đề án bảo tồn giá trị và tăng trởng quỹ BHXH.
Nh vậy theo quyết định 606/TTg và Nghị định 100/2002/NĐ-CP thì BHXH
Việt Nam vẫn cha có tổ chức chuyên trách giúp tổng giám đốc về công tác đầu t tăng
trởng quỹ. Hiện nay toàn bộ các hoạt động đầu t tăng trởng quỹ BHXH đều do Ban kế
hoạch tài chính đảm nhiệm. Trong Ban kế hoạch tài chính cũng cha có phòng chuyên
trách về công tác đầu t, các nghiệp vụ phát sinh về đầu t thờng đợc Ban kế hoạch tài
chính giao cho 2 phòng quản lý, đó là phòng kế toán và phòng kế hoạch tổng hợp.
Phòng kế toán chịu trách nhiệm theo dõi kết quả các hoạt động đầu t, bao gồm: vốn
đầu t ban đầu, thời hạn thu hồi vốn, hiệu quả đầu t vốn Còn phòng kế hoạch tổng
hợp chịu trách nhiệm các công việc trớc hoạt động đầu t đợc tiến hành nh: thẩm định
dự án, xác định tính pháp lý, soạn thảo các văn bản và làm thủ tục cho vay.
Nh vậy, nhiệm vụ của Ban Kế hoạch tài chính về công tác đầu t tăng trởng quỹ
mới chỉ dừng lại ở các công việc hành chính, thực hiện các công việc mang tính chất
pháp lý cho các hoạt động đầu t, cha thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ đầu t.
Do cha có bộ phận chuyên trách giúp Tổng giám đốc điều hành công tác đầu t
tăng trởng, nên trong thời gian qua, công tác đầu t tăng trởng có nhiều hạn chế.
* Những hạn chế của công tác đầu t tăng trởng quỹ BHXH Việt Nam
Thứ nhất: Về công tác tổ chức bộ máy.
Do cha có đơn vị chuyên trách về công tác đầu t tăng trởng nên cha tham mu
cho Tổng Giám đốc lựa chọn đợc các dự án đầu t có hiệu quả nhất, từ đó chủ động đề
xuất Chính phủ cho phép quỹ đợc đầu t. Điều 21 của quy chế quản lý tài chính đối
SV: Nguyễn Đức Long Lớp : K39 01.01
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét