5
Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng lãi suất thì lượng tiền mà NHTM cho vay giảm và ngược lại.
5. Hạn mức tín dụng:
Khái niệm : là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ khi cấp tín dụng cho
nền kinh tế để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng.
III – CHÍNH SÁCH ĐIÊU CHỈNH MỨC CUNG TIỀN CỦA NHNN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY:
Việc thay đổi trong điều tiết cung cầu tiền trong nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam
trên nhiều phương diện trong những năm từ đầu 2008 đến nay. Hiện nay, kinh tế vĩ mô chưa ổn định,
lạm phát và lãi suất tín dụng còn cao, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng, thanh khoản của một số ngân
hàng thương mại khó khăn, dự trữ ngoại hối thấp, áp lực đối với tỉ giá còn lớn, thị trường chứng khoán,
thị trường bất động sản giảm sút. Sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn.
Đầu năm 2008 Trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu chính phủ đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt
Những dấu mốc đáng ghi nhớ trong việc sử dụng các công cụ để điều hành chính sách tiền tệ vào những
tháng đầu năm 2008:
- Ngày 16/01/2008, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1%. (Quyết định 187/QĐ-NHNN).
- Ngày 30/01/2008, điều chỉnh tăng các loại lãi suất: Lãi suất cơ bản tăng 0,5%, tái cấp vốn tăng 1,0%,
lãi suất chiết khấu tăng 1,5% (Quyết định 305/QĐ-NHNN).
- Ngày 13/2/2008, thông báo về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, thực hiện vào ngày 17/3, với tổng giá
trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,8%/năm (Quyết định 346/QĐ-
NHNN).
Cả ba giải pháp trên đều hướng tới mục tiêu rút bớt tiền trong lưu thông về. Các giải pháp sau đó cũng
không kém phần quyết liệt. Theo Quyết định 305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25
tháng giữ ổn định ở mức 8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm. Sau hơn 3 tháng
thực hiện, đến 19/5/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 tháng sau, ngày 11/6/2008,
Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất cơ bản lên mức 14%/năm.
NHTW thắt chặt tiền tệ,muốn giảm lượng tiền cung ứng.Lãi suất cơ bản tăng sẽ tác động tới các lãi suất
khác như chiết khấu,tái chiết khấu,lãi suất trái phiếu,tín phiếu,huy động,cho vay Tức là NHTW muốn
VND đỡ mất giá,giảm áp lực lạm phát,hoặc có thể đề phòng trước về lạm phát.
Năm 2008, tính chung cả hệ thống, tổng dư nợ tín dụng chỉ tăng 21%-22% thấp hơn nhiều so với con số
tương ứng của năm 2007 là 53,7%; nợ xấu khoảng 43.500 tỉ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng; vốn
tín dụng đầu tư vào khu vực dân doanh tăng khoảng 35-37%, khu vực sản xuất tăng 34-36%, khu vực
6
nông nghiệp và nông thôn tăng 30%, cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác tăng 40-42%; khu
vực DN Nhà nước có mức tăng thấp nhất, chỉ tăng khoảng 12-14%.
Năm 2009 . nới lỏng tiền tệ
Ngày 12/5/2009 chính phủ cung cấp gói kích cầu tương đương 8 tỷ USD được chia thành 8 phần có các
giá trị khác nhau. Cụ thể các phần của gói kích cầu này bao gồm:
+ Thứ nhất, hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng.
+ Thứ hai, tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng.
+ Thứ ba, ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách khoảng 37.200 tỷ đồng.
+ Tứ tư, chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng 30.200 tỷ đồng.
+ Thứ năm, phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng.
+ Thứ sáu, thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng.
+ Thứ bảy, tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ đồng.
+ Thứ tám, các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội
khoảng 7.200 tỷ đồng.
- Ngân hàng nhà nước đã có những thay đối trong chính sách tiền tệ
Hỗ trợ lãi suất 4% 2%
.Lãi suất cơ bản 7% 8%
Lãi suất tái chiết khấu 5% 6%
Tăng rưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của năm
2008, nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch. Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền
kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như trên là một
thành công lớn.
Giải quyết vấn đề việc làm:
Trong năm 2009, nhờ gói kích cầu kinh tế đã tạo việc làm cho 1,51 triệu lao động, đạt 88,8% kế hoạch
năm, trong đó, tạo việc làm trong nước là 1,437 triệu người và xuất khẩu lao động trên 73.000 người.
Năm 2010 thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt
NHNN đã duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn định ở mức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm
và thực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm trước sức ép của lạm phát.
7
NHNN từng bước bỏ các quy định rằng buộc về các loại lãi suất của các
TCTD. Cụ thể là trong năm, NHNN đã ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN; Thông tư
07/2010/TT-NHNN; Thông tư 12/2010/TT-NHNN cho phép TCTD được thực hiện cho vay bằng VND
theo cơ chế lãi suất thoả thuận
Lãi suất cho vay trong năm 2010 thể hiện hai điểm nóng là trong những tháng đầu năm (trước và sau khi
thực hiện lãi suất thoả thuận theo Thông tư số 07/2010/TT-NHNN) và hai tháng cuối năm thì lãi suất cho
vay ở mức khá cao (khoảng 14,5 – 18%).
N
g
u
ồ
n
:
T
ổ
n
g
h
ợ
p
8
v
à
t
í
n
h
t
o
á
n
c
ủ
a
t
á
c
g
i
ả
Các tháng giữa năm, bắt đầu từ tháng 5/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị Quyết 23 ngày 7/5/2010 chỉ
đạo NHNN có biện pháp phù hợp để khẩn trương hạ lãi suất huy động xuống khoảng 10%, lãi suất cho
vay khoảng 12% và điều hành tỷ giá ở mức hợp lý. Tăng tính thanh khoản cho nền kinh tế thông qua
việc tăng tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng. Để thực hiện nhiệm vụ này, NHNN đã
tích cực hỗ trợ vốn cho các NHTM thông qua hoạt động của thị trường mở và thị trường liên ngân hàng
nên mặt bằng lãi suất cho vay VND có xu hướng giảm dần (giảm khoảng 1%), một số đối tượng và
ngành nghề kinh doanh có mức giảm lớn hơn (giảm 2 - 2,5%) như: các khoản vay để sản xuất nông –
lâm – ngư nghiệp, doanh nghiệp xuất khẩu, chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên,
trước những diễn biến không thuận lợi của kinh tế vĩ mô, mặt bằng lãi suất đã tăng cao trở lại trong hai
tháng cuối năm, giao động trong khoảng 13,5 – 18,5%.
Năm 2011 thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém về kinh tế vĩ mô, tháng 2/2011 Chính phủ Việt Nam đã có Nghị
quyết 11 tập trung “ưu tiêm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội” với 6 gói
9
các biện pháp chính sách, bao gồm: “Thắt chặt chính sách tiền tệ; thắt chặt chính sách tài chính; kìm
hãm thâm hụt thương mại; tăng giá điện đồng thời với việc hỗ trợ người nghèo và sử dụng một cơ chế
mang tính thị trường hơn đối với việc định giá xăng dầu; tăng cường an sinh xã hội; nâng cao hiệu quả
việc phổ biến thông tin chính sách”.
Triển khai Nghị quyết 11, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã điều chỉnh mục tiêu trần tăng
trưởng tín dụng từ 23% xuống còn 20% trong năm, và tăng trưởng nguồn cung tiền (M2) trong năm
2011 từ 21-24% xuống còn 15-16%. Cả hai mục tiêu này đều được điều chỉnh thấp hơn khá nhiều so với
năm 2010 (năm 2010 tín dụng tăng ở mức 32,4% và M2 tăng 33,3%).
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, SBV đã yêu cầu các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác phải
kìm hãm tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20% trong năm; các tổ chức tín dụng hạn chế cấp tín dụng
cho những hoạt động không mang tính sản xuất như bất động sản và chứng khoán xuống dưới 22%
trong tổng số tiền cho vay tính đến cuối tháng 6/2011, và 16% tính đến cuối năm 2011. Đồng thời SBV
sẽ phạt những tổ chức tín dụng nào không đáp ứng được những mục tiêu trên bằng cách bắt buộc tăng
gấp đôi tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Ngày 08/03/2011, NHNH ban hành quyết định tăng lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn và lãi suất cho
vay qua đêm lên 12%. Mức lãi suất tái chiết khấu chỉ còn kém 1% so với mức đỉnh 13% của thời kỳ
”siêu lạm phát” năm 2009.
Cùng với việc nâng lãi suất chính sách, chỉ trong vòng tháng 2 và tháng 3 vừa qua NHNN đã hút
về gần 80 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở.
Ngoài ra, NHNN vừa ban hành Thông tư 02 trong đó luật hóa trần huy động lãi suất 14%. Điều
này đã gây khó khăn cho rất nhiều ngân hàng nhỏ khi huy động vốn trên thị trường. Thực tế thể hiện qua
việc các ngân hàng lại ”chạy đua” tăng lãi suất không kỳ hạn và lãi suất ngắn hạn 1-2 tuần lên gần bằng
mức trần. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng lên cơn sốt. Lãi suất qua đêm cao hơn các kỳ hạn
dài hơn và có những giao dịch lãi suất đã vượt mức 20%.
Bất chấp lãi suất cao và căng thẳng trên thị trường tiền tệ NHNN đang cân nhắc quyết định tăng
dự trữ bắt buộc. Hiện tại tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với đồng nội tệ chỉ là 1 và 3%, với mức kỳ hạn là trên
và dưới 12 tháng, đây là mức rất thấp so với khoảng thời gian trước đó. Đối với ngoại tệ, ngày
09/03/2011, NHNN vừa quyết định nâng dự trữ bắt kỳ hạn dưới 12 tháng từ 4% lên 6% và kỳ hạn trên
12 tháng từ 2% lên 4%.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là với quy định Thông tư 13, các tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng
không quá 80% số vốn huy động thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực tế cao hơn rất nhiều so với con số chính
thức trên.
Do vậy, nếu NHNN tiếp tục tăng dự trữ bắt buộc mà vẫn giữ nguyên quy định tại Thông tư 13 thì
hệ thống ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
10
Tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức rất cao
11
Mặt khác, SBV cũng tìm cách hạn chế cho vay bằng ngoại tệ đối với việc nhập khẩu những hàng hóa
không thiết yếu (bao gồm tất cả hàng hóa tiêu dùng); giới hạn việc nhập khẩu vàng và chỉ cho phép một
số ít công ty được nhập khẩu vàng, cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường. Những động thái có tính
quyết liệt của SBV đưa ra là nhằm giảm thiểu những giao dịch đầu cơ tích trữ ngoại tệ và vàng để đảm
bảo ổn định tiền đồng VND.
Để thực hiện gói giải pháp tài chính thắt chặt, Bộ Tài chính đã sửa đổi mục tiêu thâm hụt ngân sách năm
2011 xuống mức dưới 5,0% GDP (thấp hơn so với mức ban đầu là 5,3%). Các Bộ, ngành khác… được
yêu cầu phải cắt giảm 10% các chi phí hoạt động không cần thiết (không bao gồm lương và phụ cấp)
đến hết năm 2011. Thu ngân sách năm 2011 cũng được điều chỉnh tăng thêm 7-8% và Chính phủ đặt
mục tiêu thu thêm thuế thông qua việc nâng cao hiệu quả thực thi quản lý thuế, đồng thời giám sát chặt
chẽ hoạt động đầu tư của các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước. Bộ Công Thương cũng
xây dựng một kế hoạch giảm thâm hụt thương mại thông qua việc cố gắng cải thiện hiệu quả các hoạt
động sản xuất để xuất khẩu, hạn chế những mặt hàng nhập khẩu nhất định
IV- ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH THAY ĐỔI MỨC CUNG TIỀN CỦA NHNNVN:
1:Năm 2008
Tích cực :Trong năm 2008, NHNN đã tập trung vào 2 nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát tổng phương
tiện thanh toán ở mức hợp lý và kiểm soát dư nợ tín dụng và tính đến hết tháng 10/ 2008 các chỉ tiêu này
lần lượt đạt là 10,59% (cùng kỳ năm ngoái tăng 32%) và 19,6% (cùng kỳ năm ngoái tăng 37%). Từ việc
kiểm soát 2 chỉ tiêu chủ yếu này, NHNN đã rút về một lượng lớn tiền mặt khỏi lưu thông và từ đó giảm
bớt áp lực của sự tăng lạm phát. Do đó lạm phát năm 2008 đã được hạ nhiệt nhanh chóng.
12
Trong 6 tháng đầu năm 2008 trước áp lực lạm phát ( CPI 6 tháng bình quân đạt 15.03%) và thâm
hụt cán cân thương mại đạt mức kỷ lục ( hơn 14% GDP), NHNN đã sử dụng chính sách tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc cho các NHTM. Tuy nhiên, các NHTM đã không phản ứng kịp
thời trước hành động thắt chặt tín dụng nên vẫn đẩy mạnh tín dụng, cùng với việc quản lý thanh khoản
của các NHTM còn bất cập đã gây nên tình trạng thiếu khả năng thanh khoản tại nhiều NH.
Trước diễn biến thị trường như vậy, NHNN đã kịp thời tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách
bơm mạnh tiền qua nghiệp vụ thị trường mở, chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đầu thầu khối lượng, tăng
cường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM, thắt chặt điều kiện mở chi nhánh
Tuy nhiên, các biện pháp chính sách trên chưa ngăn chặn được đà tăng lãi suất huy động và mở rộng tín
dụng của các NHTM, do vậy buộc NHNN phải quy định trần lãi suất huy động tiền gửi của các NHTM
không được vượt quá 12%. Giải pháp trên đã có tác động nhanh chóng, tích cực “giảm đà tăng lãi suất
huy động của các NHTM” chỉ trong vài ngày.
Bước tiếp theo để tiếp tục tạo sự bình ổn thị trường bền vững, NHNN thực hiện cơ chế điều hành lãi
suất mới, theo đó quy định các NHTM cho vay nền kinh tế không vượt quá 150% lãi suất cơ bản và mức
lãi suất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm lên 14%/năm.
Quy định này phù hợp với Bộ luật Dân sự hiện nay, đó như là một liệu pháp mạnh mang tính tình thế đã
có tác động ổn định lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã chậm lại từ tháng 5 cho đến hết năm.
Đầu tháng 5/2008 một loạt ngân hàng mất tính thanh khoản. Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo của Chính phủ,
chính sách tiền tệ thông qua điều hành lãi suất tiền gửi và lãi suất dự trữ bắt buộc kịp thời đã giúp ngân
hàng vượt qua được thời kỳ sóng gió đó. Qua một năm đầy sóng gió nhưng hoạt động của hệ thống
13
Ngân hàng đã góp phần quan trọng kiềm chế lạm phát, hạn chế nhập siêu, duy trì tăng trưởng kinh tế.
Thị trường tiền tệ giữ được bình ổn
Các chỉ số thị trường tiền tệ (tốc độ tăng M2, tín dụng và lãi suất) và các chỉ số kinh tế đạt được trong
những tháng cuối năm cho thấy việc thực thi CSTT của NHNN năm 2008, mặc dù có những bất cập
nhất định, nhưng thực sự đã có những tác động rất rõ nét đến việc ổn định thị trường tiền tệ, ngăn chặn
đà lạm phát đang gia tăng rất cao, tạo thế chủ động cho NHNN trong thực thi CSTT, thiết lập được kỷ
luật trên thị trường tiền tệ mà trước đây rất lỏng lẻo, làm thay đổi thái độ và hành vi ứng xử của các
thành viên thị trường theo chiều hướng tích cực.
Tiêu cực :Tuy nhiên, thắt chặt CSTT cũng có những ảnh hưởng đến sản xuất của các doanh nghiệp,
nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đó là cái giá phải trả trong ngắn hạn để ngằn chặn đà lạm phát
đang gia tăng, tạo sự tăng trưởng bền vững trong tương lai.
Bên cạnh đó, một bài học cũng cần rút ra cho thực thi CSTT, đó là do chưa lường trước được phản ứng
của thị trường, nên các biện pháp CSTT phần nào gây cú sốc thị trường, làm cho các NHTM có sự chao
đảo nhất định trong kinh doanh.
2:Năm 2009:
Cung tiền đã vượt tốc độ tăng GDP theo giá thực tế là điều mà các chuyên gia của Tổng cục Thống
kê đang lo ngại.
Tính chung, GDP 6 tháng đầu năm tăng theo giá thực tế là 12,4%. Nhưng, cung tiền đã tăng tới 17% so
với cùng kỳ năm 2008 và có thể sẽ khiến lạm phát vì thế mà bùng nổ trở lại dù thực tế chỉ số CPI 6
tháng đầu năm chỉ là 10,27% (chỉ số giá bình quân so cùng kỳ năm 2008).
Vào tháng 8 năm 2009, CPI đã xuống mức thấp nhất 1.97% so với cùng kỳ năm trước. Tương ứng vào
tháng đó tăng trưởng tín dụng và cung tiền M2 lần lượt là 37% và 40%. Tuy nhiên, cách đó 8 tháng thì
tăng trưởng tín dụng vào cung tiền M2 đều ở mức 20%. Tăng trưởng tín dụng lên cao nhất được thiết
lập hồi tháng 9 với mức 43.61%. Cung tiền M2 tăng 40.36% trong tháng 8. Nếu đúng quy luật độ trễ
tương quan giữa lạm phát và tiền tệ xảy ra thì CPI sẽ tăng cao nhất vào Q2/2010.
Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối có
những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến
động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ.
Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi
suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua
ngoại tệ, dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng.
Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều giải pháp như
mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3% lên +/-5%
so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên
14
thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất
và đời sống; điều hòa ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên ngân hàng
Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp và người
dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại
hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ (lãi suất cho
vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức
không quá 3%/năm kể từ ngày 01/6/2009, lãi suất huy động giảm xuống mức không quá l,5%/năm kể từ
ngày 01/6/2009)
Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng 21,3% xuất khẩu), nguồn bù đắp
cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm sút mạnh so với năm 2008, đầu
tư gián tiếp nước ngoài không tăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng giảm do khủng hoảng kinh tế
toàn cầu do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình này tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn
định tỷ giá.
Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngân sách ở mức 6,5% GDP buộc
ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áp lực giảm giá VND.
Trên thị trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫn nhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng
cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm, biểu hiện ở áp
lực tăng lãi suất, thanh khoản VND mỏng manh.
Sự khan hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá. Nhưng chính sách điều tiết vĩ mô thì
lãi suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ trợ, trần lãi suất cho vay ) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời kích
thích nhu cầu sử dụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiền đồng, gây áp
lực cho NHNN phải cung ứng thêm tiền đồng. Điều này tiếp tục gây áp lực giảm giá VND. Đồng thời,
sự biến động mạnh của giá vàng cũng có những tác động bất lợi đến tỷ giá.
Trước tình hình này, ngày 26/11, NHNN đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá, nâng tỷ giá công bố lên 17.980
VND/USD, tăng 5,4% so với ngày trước đó, thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% xuống còn +/-3%, đồng
thời yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm biên độ tỷ giá.
Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống lại được NHNN bán ngoại
tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng cam kết cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu, đặc biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất.
Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHNN đã thực hiện nâng các mức lãi suất chỉ đạo lên thêm 1%. Đây là
giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế, vừa có tác dụng tiếp tục duy trì tăng trưởng của
nền kinh tế đồng thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước mắt ổn định thị trường ngoại hối.
Tín dụng tăng mạnh cùng với gói hỗ trợ 4% lãi suất và chính sách tiền tệ nới lỏng của NHNN. Kết thúc
năm 2009, tín dụng trong nền kinh tế tăng tới 37% và đã gây áp lực mạnh lên lạm phát trong năm 2010.
Nhìn chung việc điều hành của Ngân hàng Nhà nước có vẻ đã khoa học hơn nhờ việc tiếp thu được các
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét