MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động
theo cơ chế thò trường, quan hệ buôn bán với nước ngoài được mở rộng và xu thế
phải hòa nhập vào nền kinh tế thế giới đã trở thành tất yếu và cấp bách, với
điểm xuất phát thấp, Việt Nam cần phải tìm cho mình một hướng đi riêng để vừa
có thể khai thác được lợi thế của đất nước, đồng thời nhanh chóng đuổi kòp đà
phát triển của thế giới.
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công
nghiệp Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với
những lợi thế riêng biệt như: vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh,
thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thò trường trong và ngoài
nước, ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi
nhọn và có tiềm năng phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, do có cùng những thế
mạnh riêng nên ngành dệt may cũng là ngành được hầu hết các nước đang phát
triển tham gia. Do đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lónh vực này phải đương
đầu với sự cạnh tranh hết sức gay gắt ngay cả trên thò trường nội đòa và thò
trường xuất khẩu. Đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế như
hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đang phải đối đầu với nhiều thách thức lớn,
phải cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc xuất khẩu như Trung Quốc, Ấn
Độ, Pakistan, Hàn Quốc
Tình hình trên đòi hỏi mọi doanh nghiệp phải tự thân vận động để tồn tại
và phát triển. Tuy hàng dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu cao, nhưng chủ yếu
làm gia công, nguyên liệu sản xuất hầu như hoàn toàn phải nhập khẩu từ nước
ngoài, hàng xuất khẩu phải qua khâu trung gian nên đã làm giảm hiệu quả công
tác xuất khẩu. Trước những thách thức này, nếu ngành dệt may không kòp đầu tư
đổi mới công nghệ, nâng cấp quản lý và chất lượng sản phẩm, thay đổi phương
thức kinh doanh phù hợp thì sẽ bò mất thời cơ và sẽ khó có khả năng hội nhập và
phát triển trong thời gian tới.
Trong thời gian qua, mặc dù công ty May Tây Đô rất thành công trên thò
trường nội đòa (chủ yếu là thò trường ở khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long),
doanh số bán hàng tăng lên rất nhanh hàng năm. Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn
4
chiếm một vò trí rất quan trọng quyết đònh doanh thu của một công ty có truyền
thống về may gia công này. Song doanh thu về xuất khẩu trong những năm gần
đây liên tục bò biến động trên thò trường thế giới như việc giảm dần áp dụng hạn
ngạch của các nước EU, Canada nhằm bảo hộ ngành dệt may trong nước. Bên
cạnh đó, doanh thu từ các khách hàng truyền thống đặt hàng may gia công như
Nhật Bản, Đài Loan cũng giảm mạnh do thò trường tiêu thụ chính của các khách
hàng này là Mỹ đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng về kinh tế …
Từ thực tế đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may và phát triển thò
trường trong cũng những ngoài nùc, hơn lúc nào hết đã và đang trở nên vô cùng
quan trọng cho tương lai của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của cả ngành dệt
may Việt Nam nói chung. Xuất phát từ nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
CHO CÔNG TY MAY TÂY ĐÔ ĐẾN NĂM 2010” làm luận văn Thạc só Kinh tế
chuyên ngành Kinh tế, Quản trò kinh doanh.
Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Công ty May Tây Đô.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu xoay quanh thò trường xuất khẩu
của Công ty May Tây Đô để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng thò
trường xuất khẩu.
Các phương pháp nghiên cứu
Để có thông tin làm nền tảng đề xuất những giải pháp, người nghiên cứu sử
dụng những phương pháp cơ bản như: phương pháp đọc tài liệu, phương pháp
quan sát. Phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lòch sử nhằm vận dụng các kiến thức tổng hợp thuộc chuyên ngành kinh
tế, quản trò kinh doanh về phương pháp nghiên cứu, sử dụng các phương pháp
phân tích và phương pháp tổng hợp như phương pháp thống kê-toán, phương
pháp logic và lòch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp nghiên cứu tương
quan…làm căn cứ, áp dụng các thành tựu nghiên cứu về giải pháp chiến lược mở
rộng và phát triển thò trường.
5
Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm thò trường và các nội dung của phân khúc thò trường
• Theo quan điểm marketing, thò trường là tập hợp tất cả những người mua
thật sự hay người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm. Khái niệm này cho phép
các doanh nghiệp có thể dự đoán được dung lượng thò trường một cách chính xác.
Để hiểu rõ hơn về từng thò trường, doanh nghiệp phải tiến hành phân loại
nó dựa trên những tiêu thức sau:
- Theo điều kiện đòa lý tự nhiên
- Theo sản phẩm
- Theo sự cạnh tranh trên thò trường
- Theo vai trò quyết đònh của người mua và người bán trên thò trường
- Theo khả năng tiêu thụ sản phẩm
- Nhiều loại thò trường đặc biệt để đáp ứng yêu cầu kinh doanh như thò
trường chứng khoán, thò trường hối đoái, thò trường lao động, thò trường
những nhà hảo tâm…
• Thò trường không có tính đồng nhất mà có sự khác biệt. Do đó, việc phân
khúc thò trường là một vấn đề khách quan, nhằm hướng chiến lược sản phẩm phù
hợp với từng phân khúc, qua đó có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt
nhất.
Tùy theo đốùi tượng phân khúc thò trường là tư liệu tiêu dùng hay tư liệu sản
xuất mà phương pháp phân khúc thò trường sẽ khác nhau. Ở đây, chúng ta chỉ đi
sâu nghiên cứu đối tượng phân khúc thò trường hàng tiêu dùng.
Không có một phương pháp phân khúc thò trường thống nhất nào. Nhà hoạt
động thò trường cần phải thử các phương án phân khúc trên cơ sở những tham
biến khác nhau, một hay đồng thời nhiều tham biến với ý đồ tìm kiếm cách tiếp
cận có lợi nhất cho việc nghiên cứu cấu trúc của thò trường. Bây giờ chúng ta sẽ
xem xét những biến cơ bản: đòa lý, nhân khẩu học, tâm lý và hành vi, được sử
dụng khi phân khúc thò trường.
6
* Phân khúc thò trường theo nguyên tắc đòa lý:
Việc phân khúc thò trường theo nguyên tắc đòa lý đòi hỏi phải chia cắt thò
trường thành những đơn vò đòa lý khác nhau: quốc gia, bang, vùng, tỉnh, thành
phố, xã…Công ty có thể thông qua quyết đònh hoạt động: (1) trong một hay nhiều
vùng đòa lý, hay (2) trong tất cả các vùng nhưng có chú ý đến những điểm khác
biệt về nhu cầu và sở thích do vùng đòa lý quyết đònh.
* Phân khúc thò trường theo nguyên tắc nhân khẩu học:
Là phân chia thò trường thành những nhóm căn cứ vào những biến nhân
khẩu như giới tính, tuổi tác, quy mô gia đình, giai đoạn của chu kỳ gia đình, mức
thu nhập, loại nghề nghiệp, học vấn, tín ngưỡng, chủng tộc, dân tộc. Các biến
nhân khẩu học là những yếu tố phổ biến nhất làm cơ sở để phân biệt các nhóm
người tiêu dùng.
Một trong những nguyên nhân tạo nên tính phổ biến như vậy là nhu cầu, sở
thích cũng như cường độ tiêu dùng hàng hóa thường có liên quan chặt chẽ với
chính những đặc điểm của nhân khẩu học. Một nguyên nhân nữa là những đặc
điểm của nhân khẩu học dễ đo lường hơn đa số các biến khác. Ngay cả trong
những trường hợp thò trường được xem xét không phải theo quan điểm nhân
khẩu học thì dù sao cũng cần phải gắn với những tham số của nhân khẩu học.
* Phân khúc thò trường theo nguyên tắc tâm lý học:
Khi phân khúc thò trường theo nguyên tắc tâm lý học thì người mua được
phân thành các nhóm theo các đặc điểm giai tầng xã hội, lối sống, và/hay đặc
tính nhân cách. Những người cùng một nhóm nhân khẩu học có thể có những đặc
điểm tâm lý học khác nhau.
- Giai tầng xã hội: Nguồn gốc của giai tầng xã hội có ảnh hưởng mạnh
đến sở thích của con người đối với xe hơi, quần áo, đồ dùng gia đình, cách nghỉ
ngơi, thói quen đọc sách báo, cách lựa chọn các điểm bán lẻ Nhiều công ty đã
thiết kế hàng hóa và/hay dòch vụ của mình nhằm vào khách hàng thuộc vào một
giai tầng xã hội cụ thể, dự tính đưa vào những tính chất và đặc tính làm vừa lòng
chính những người này.
- Lối sống: Lối sống có ảnh hưởng đến sự quan tâm của con người đối với
những hàng hóa nhất đònh.
7
- Kiểu nhân cách: Những biến đặc tính nhân cách cũng được người bán
hàng sử dụng làm cơ sở để phân chia thò trường. Những nhà sản xuất tạo cho
hàng hóa của mình những đặc tính nhân cách tương ứng với những đặc tính cá
nhân của người tiêu dùng.
* Phân khúc thò trường theo nguyên tắc hành vi:
Khi phân khúc thò trường trên cơ sở những đặc điểm hành vi của người mua
được chia thành nhóm tùy theo kiến thức, thái độ của họ, tính chất sử dụng hàng
hóa và phản ứng đối với món hàng đó.
- Lý do mua hàng: Có thể phân loại người mua dựa theo lý do nảy sinh ý
tưởng mua hàng hay sử dụng hàng. Việc phân khúc thò trường trên cơ sở các lý
do có thể giúp các công ty nâng cao mức sử dụng hàng hóa.
- Những lợi ích đang tìm kiếm: Việc phân khúc thò trường căn cứ vào
những lợi ích đang tìm kiếm đòi hỏi phải phát hiện được những lợi ích chính mà
mọi người đang trông đợi ở những hàng hóa thuộc phẩm cấp cụ thể, những dạng
người mua đang tìm kiếm từng loại lợi ích đó và những nhãn hiệu chủ yếu mà
trong một chừng mực nào đó đã có sẵn những lợi ích đó.
- Tình trạng người sử dụng: Nhiều thò trường có thể phân chia thành
những khúc thò trường của người sử dụng hàng hóa, những người đã sử dụng,
những người sử dụng tiềm năng, những người sử dụng sản phẩm mới và những
người sử dụng thường xuyên. Những công ty lớn cố gắng giành cho mình một thò
phần lớn. Họ rất quan tâm đến việc thu hút những người sử dụng tiềm năng; còn
những công ty nhỏ hơn thì cố gắng giành cho nhãn hiệu của mình những người
sử dụng thường xuyên. Những người sử dụng tiềm năng và những người sử dụng
thường xuyên đòi hỏi các phương pháp Marketing khác nhau.
- Cường độ tiêu thụ: Thò trường cũng có thể được phân khúc theo nhóm
những người tiêu dùng ít, vừa phải và nhiều. Những người tiêu dùng nhiều
thường chiếm một phần nhỏ của thò trường, nhưng tỷ lệ phần trăm hàng hóa
được tiêu thụ của họ lại lớn. Những người tiêu dùng nhiều có chung những đặc
điểm nhân khẩu học và tâm lý học, cũng như thái độ trung thành với các phương
tiện quảng cáo.
- Mức độ trung thành: Việc phân khúc thò trường có thể thực hiện theo
mức độ trung thành của người tiêu dùng đối với hàng hóa. Người tiêu dùng có
8
thể trung thành với các nhãn hiệu hàng hóa, các cửa hàng và những đối tượng
độc lập nhau. Có thể chia người tiêu dùng thành ra bốn nhóm:
• Trung thành vô điều kiện: đó là những người tiêu dùng luôn luôn mua
hàng cùng một nhãn hiệu.
• Trung thành tương đối: đó là những người tiêu dùng trung thành với hai,
ba nhãn hiệu hàng hóa.
• Trung thành không cố đònh: đó là những người tiêu dùng thay đổi sở
thích của mình từ nhãn hiệu hàng hóa này sang nhãn hiệu hàng hóa
khác.
• Không trung thành: đó là những người tiêu dùng không thể hiện sự trung
thành với một nhãn hiệu hàng hóa nào.
Mọi thò trường đều bao gồm những người mua của cả bốn nhóm này với
những tỷ lệ kết hợp khác nhau. Công ty có thể biết được nhiều điều khi phân tích
sự phân bố lòng trung thành trên thò trường của mình.
- Mức độ sẵn sàng chấp nhận hàng hóa của người mua: tại bất kỳ thời
điểm nhất đònh nào con người cũng ở mức độ sẵn sàng mua hàng hóa khác nhau.
Có một số người không am hiểu gì về hàng hóa, có người rất am hiểu, loại thứ
ba là mới được thông tin, loại thứ tư là quan tâm, loại thứ năm là muốn có, loại
thứ sáu là có ý đònh mua. Nhìn chung, chương trình marketing phải được xây
dựng làm sao để nó phản ánh được sự phân bố lại tỷ lệ các nhóm người ở các
mức độ mua hàng sẵn sàng khác nhau.
- Thái độ đối với hàng hóa: Đối với hàng hóa người ta có thể có thái độ
vui mừng, tốt, bàng quan, xấu hay thù ghét. Càng thấy rõ được mối liên hệ giữa
thái độ và các biến nhân khẩu học thì công tác tổ chức chiếm lónh những khách
hàng tiềm ẩn có triển vọng nhất càng có thể có hiệu quả.
1.2 Tác động của môi trường kinh doanh đến thò trường của dệt may
1.2.1 Môi trường vó mô
Mặc dù có nhiều vấn đề khác nhau về môi trường vó mô nhưng chúng ta
chọn năm vấn đề đặc trưng: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính phủ và chính trò,
yếu tố văn hóa-xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ. Mỗi yếu tố môi
9
trường vó mô nói trên có ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong mối
liên kết với các yếu tố khác. Môi trường vó mô gồm hai loại: môi trường vó mô
trong nước và môi trường vó mô quốc tế.
1.2.1.1 Các yếu tố kinh tế
Là hệ thống các hoạt động, các chỉ tiêu về kinh tế của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ. Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh các doanh nghiệp.
Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm các yếu tố như: giai đoạn của
chu kỳ kinh tế, những xu hướng thu nhập quốc dân, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân
hàng, những chính sách tiền tệ, mức độ thất nghiệp, cán cân thanh toán…Vì các
yếu tố này tương đối rộng nên các doanh nghiệp cần chọn lọc để nhận biết các
tác động cụ thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp nhất đến công ty.
Mỗi yếu tố kinh tế nói trên có thể là một cơ hội hoặc nguy cơ đối với doanh
nghiệp.
1.2.1.2 Yếu tố chính phủ và chính trò
Các yếu tố chính phủ và chính trò có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt
động của các doanh nghiệp.
Chính phủ là cơ quan hành pháp; cơ cấu tổ chức hình thành từ trung ương
xuống các đòa phương của mỗi quốc gia. Hoạt động của chính phủ có ảnh hưởng
đến các ngành kinh tế và từng doanh nghiệp theo mức độ và chiều hướng khác
nhau. Nhà quản trò các doanh nghiệp cần có thông tin thường xuyên về hoạt
động của chính phủ, nhất là các chính sách nhằm nắm bắt cơ hội hoặc ngăn
chặn, hạn chế nguy cơ từ yếu tố này. Trong chừng mực nhất đònh, các doanh
nghiệp có thể vận động hành lang, đối thoại với cơ quan chính phủ để tạo cơ hội
hay hạn chế nguy cơ nhất thời cho ngành và doanh nghiệp.
Yếu tố chính trò thể hiện qua thể chế chính trò của mỗi quốc gia, mức độ ổn
đònh hay biến động của thể chế chính trò; động cơ thúc đẩy hoạt động chính trò
của các đảng phái cầm quyền mỗi quốc gia…
Yếu tố chính trò tác động đến hệ thống luật pháp và hoạt động của chính
phủ; thể hiện động cơ chính trò qua các công cụ quản lý nhà nước nhằm bảo vệ
lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội theo mức độ khác nhau. Yếu tố này còn ảnh
10
hưởng đến việc bang giao quốc tế, ảnh hưởng đến việc mở rộng hay bó hẹp thò
trường mua bán của các doanh nghiệp mỗi quốc gia.
1.2.1.3 Yếu tố văn hóa - xã hội
Văn hóa- xã hội của mỗi quốc gia là tập hợp tri thức và hành vi của con
người một cách có hệ thống. Nó quyết đònh khả năng nhận thức và cách cư xử
của con người với con người, và con người với thiên nhiên.
Trong từng thời kỳ, văn hóa-xã hội có giá trò theo mức độ từ thấp đến cao,
có tính kế thừa. Văn hóa-xã hội do con người tạo ra và tác động trở lại mặt nhân
cách của con người trong xã hội. Đây là vấn đề mà các nhà quản trò doanh
nghiệp cần nghiên cứu đặc điểm văn hóa-xã hội ở các quốc gia có quan hệ mua
bán trong quá trình hoạt động của mình để có cách ứng xử phù hợp.
1.2.1.4 Yếu tố tự nhiên
Môi trường thiên nhiên tác động đến hoạt động của nhiều ngành kinh tế.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật giúp cho con người có điều kiện tác động
đến môi trường thiên nhiên ngày càng nhiều hơn.
Những doanh nghiệp kinh doanh từ lâu đã nhận ra những tác động của hoàn
cảnh thiên nhiên vào quyết đònh kinh doanh của họ. Tuy nhiên, những yếu tố
này liên quan tới việc bảo vệ môi trường tự nhiên đã gần như hoàn toàn bò bỏ
quên cho đến thời gian gần đây. Sự quan tâm của những người quyết đònh kinh
doanh ngày càng tăng, phần lớn sự quan tâm của công chúng ngày càng gia tăng
đối với phẩm chất môi trường thiên nhiên.
Những nhóm công chúng đã nêu ra những vấn đề khác nhau về môi trường
cho chính quyền chú ý đến như tình trạng ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng,
sử dụng lãng phí các tài nguyên thiên nhiên cùng sự gia tăng các nhu cầu về
nguồn tài nguyên do thiên nhiên cung cấp. Tất cả những vấn đề đó buộc các nhà
quan trọng phải thay đổi các quyết đònh và các biện pháp thực hiện các quyết
đònh.
1.2.1.5 Yếu tố công nghệ và kỹ thuật
Trong những thập niên vừa qua, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật của thế
giới diễn ra nhanh chóng; công nghệ mới ra đời thay thế công nghệ cũ diễn ra
11
liên tục; chu kỳ đời sống sản phẩm ngày càng rút ngắn. Ít có ngành công nghiệp
và doanh nghiệp nào lại không phụ thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật- công
nghệ ngày càng hiện đại. Sẽ càng có nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời,
tạo ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp và
doanh nghiệp nhất đònh. Các nhà nghiên cứu phát triển và chuyển giao công
nghệ hàng đầu nói chung đang lao vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật
mới nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại và xác đònh các công nghệ hiện đại có
thể khai thác trên thò trường.
Tùy theo loại công nghệ mới ra đời, ảnh hưởng này có mức độ cụ thể,
nhiều hay ít, tích cực hay tiêu cực khác nhau đối với mỗi ngành, mỗi doanh
nghiệp. Vì vậy, các nhà quản trò doanh nghiệp cần có hệ thống thông tin nhạy
bén để tận dụng cơ hội và ngăn chặn nguy cơ kòp thời. Đặc biệt, các doanh
nghiệp cần quan tâm đúng mức đến việc tận dụng công nghệ thông tin mới để
có thể tạo lợi thế trong cạnh tranh trên thò trường hiện tại và xu hướng trong
tương lai.
1.2.2 Môi trường vi mô
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại
cảnh đối với doanh nghiệp, quyết đònh tính chất và mức độ cạnh tranh trong
ngành sản xuất kinh doanh đó. Các yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, khách
hàng, người cung cấp, các trung gian Marketing.
1.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh (Competitors)
Mọi công ty đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau. Sự hiểu biết về
các đối thủ cạnh tranh có một ý nghóa quan trọng đối với các doanh nghiệp do
nhiều nguyên nhân. Các đối thủ cạnh tranh nhau quyết đònh tính chất và mức độ
cạnh tranh hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào các đối thủ
cạnh tranh. Mức độ cạnh tranh dữ đội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu
tố như số lượng công ty tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ
cấu chi phí cố đònh và mức độ đa dạng hóa sản phẩm. Sự hiện hữu của các yếu
tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu hoặc nguyện vọng của công ty muốn đạt
được và bảo vệ thò phần của mình.Vì vậy, chúng làm cho sự cạnh tranh thêm gay
gắt. Ngoài ra, các đối thủ cạnh tranh mới và các giải pháp công nghệ mới cũng
thường làm thay đổi mức độ và tính chất cạnh tranh.
12
Các công ty cần phải phân tích từng đối thủ cạnh tranh để nắm và hiểu
được các biện pháp phản ứng mà họ có thể thông qua. Các phần chủ yếu của
việc phân tích đối thủ cạnh tranh được phản ánh qua hình sau:
Điều gì đối thủ cạnh tranh Điều gì đối thủ cạnh tranh đang
muốn đạt tới làm và có thể làm được
Mục đích tương lai Chiến lược hiện tại
Ở tất cả các cấp quản lý Doanh nghiệp hiện đang cạnh
và đa chiều tranh như thế nào
Vài vấn đề cần trả lời về đối thủ cạnh tranh
- Đối thủ có bằng lòng với vò trí hiện tại không ?
- Khả năng đối thủ chuyển dòch và đối hướng chiến lược
như thế nào ?
- Điểm yếu của đối thủ cạnh tranh là gì ?
- Điều gì có thể giúp đối thủ cạnh tranh trả đũa một cách
mạnh mẽ và hiệu quả nhất?
Nhận đònh Các tiềm năng
Ảnh hưởng của nó và Cả mặt mạnh và mặt yếu
ngành công nghiệp
Các dạng đối thủ cạnh tranh tiêu biểu như:
- Đối thủ cạnh tranh trực tiếp hay đối thủ cạnh tranh nhãn hiệu: là các
doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có công dụng giống nhau, cung cấp cho
cùng đối tượng khách hàng mục tiêu với giá cả tương tự.
- Đối thủ cạnh tranh các sản phẩm thay thế: là các doanh nghiệp sản xuất
các sản phẩm khác đáp ứng cùng nhu cầu của khách hàng mục tiêu.
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: là các doanh nghiệp ra đời sau, ứng dụng
công nghệ mới để sản xuất sản phẩm mới thay thế sản phẩm hiện tại của doanh
nghiệp mình và các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
- Đối thủ cạnh tranh cùng phân chia túi tiền của khách hàng mục tiêu: là
các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm khác công dụng nhưng cùng hướng đến túi
tiền của khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp mình. Nổ lực hoạt động
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét