điểm, đúng chất lợng và đúng số lợng, phù hợp với yêu cầu của hoạt động
theo mục tiêu đã đặt ra.
- Tính hiệu quả: Là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực đầu vào cho
một mức đầu ra cho trớc hay tối đa hoá các sản phẩm đầu ra với mức đầu vào
cho trớc. Nh vậy tính hiệu quả phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố đầu
vào và đầu ra, nó liên quan đến quá trình sử dụng các nguồn lực.
- Tính hiệu lực: thể hiện mức độ thực hiện các mục tiêu đề ra của hoạt
động. Nh vậy, tính hiệu lực phản ánh sự tác động kết quả của những sản
phẩm dịch vụ đầu ra của hoạt động so với những mục tiêu dự định của hoạt
động.
Tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực có mối quan hệ mật thiết, phản
ánh tính thống nhất trong toàn bộ quá trình thực hiện một hoạt động.
Tính hiệu
qủa
Tính
kinh tế
Kết quả
Đầu ra
Quy trình
hoạt động
Đầu vào
Kế
hoạch
Tính hiệu lực
Mục đích
4
Một số nhà nghiên cứu về KTHĐ còn đề cập đến vấn đề đánh giá tính
kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực cùng với việc đánh giá trách nhiệm của
nhà quản lý và sự tuân thủ pháp luật và các quy trình trong quá trình tổ chức
thực hiện các hoạt động. Tuy nhiên, khi nghiên cứu trách nhiệm với tính cách
là những quy định xác định quyền và nghĩa vụ của các cấp quản lý thì nó nằm
trong khái niệm "pháp luật và những quy định "; khi nghiên cứu " trách nhiệm
" với tính cách là kết quả của thực tiễn thì nó đợc đo bằng tính kinh tế, tính
hiệu quả và tính hiệu lực của hoạt động. Do vậy, trong thực tiễn "kiểm toán
trách nhiệm kinh tế " có nội hàm của KTHĐ. Mặt khác sự tuân thủ pháp luật
và các quy định trong hoạt động của mỗi đơn vị, đặc biệt là của các tổ chức
công đợc coi nh một điều kiện, một cơ sở cho hoạt động; do vậy, trên góc
độ kiểm toán, việc xác định sự tuân thủ pháp luật và những quy định trong quá
trình quản lý của đơn vị đợc coi nh là một cơ sở, một điều kiện để đánh giá
đúng đắn tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực.
Trên cơ sở những phân tích trên có thể đa ra định nghĩa về KTHĐ nh sau:
KTHĐ là hoạt động kiểm toán trong đó chủ thể kiểm toán hớng đến
việc kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực trong quá
trình quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế cho một hay toàn bộ hoạt động
của đơn vị đợc kiểm toán.
1.1.1.2. Mục tiêu của KTHĐ
Mục tiêu của kiểm toán là những hớng đích mà hoạt động của một
cuộc kiểm toán cần đạt đợc. Việc xác định rõ ràng, đúng đắn mục tiêu kiểm
toán là cơ sở cho chủ thể kiểm toán xác định đối tợng, phạm vi, phơng
pháp, trình tự kiểm toán. Các mục tiêu của KTHĐ đều phản ánh sự liên hệ với
một trong 3 nội dung hoặc kết hợp cả 3 nội dung về tính kinh tế, tính hiệu quả,
tính hiệu lực của hoạt động cần kiểm toán.
Có thể xác định những mục tiêu phổ biến của một cuộc KTHĐ nh sau:
- Kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của hoạt động;
5
- Kiểm tra, đánh giá trách nhiệm của ngời quản lý trong quản lý và sử
dụng các nguồn lực của đơn vị;
- Kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong quá
trình quản lý và sử dụng các nguồn lực của đơn vị;
- Kiểm tra, đánh giá hệ thống thông tin quản lý và hiệu năng của bộ máy
quản lý.
Trong những mục tiêu trên, mục tiêu kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, tính
hiệu quả, tính hiệu lực của hoạt động thờng đợc xác định là mục tiêu trọng
tâm.
1.1.1.3. Đối tợng của KTHĐ
Việc xác định đối tợng của kiểm toán có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó
là cơ sở trực tiếp cho xác định các phơng pháp và trình tự thực hiện kiểm toán.
Đối tợng chung của KTHĐ là quá trình quản lý và sử dụng các nguồn
lực (tài chính và phi tài chính) cho hoạt động của một tổ chức với những mục
tiêu xác định. Trên cơ sở đó có thể xác định đối tợng cụ thể chủ yếu của
KTHĐ nh sau:
- Chi phí về các nguồn lực (tài chính và phi tài chính) cần có và đã thực
hiện cho hoạt động của tổ chức;
- Các kết quả đầu ra về hoạt động của tổ chức;
- Các mục tiêu đạt đợc hoạt động của tổ chức;
- Các quy trình tổ chức thực hiện hoạt động của tổ chức;
- Việc chấp hành pháp luật, quy trình, thủ tục trong lĩnh vực hoạt động
của tổ chức .
Nh vậy, đối tợng chung của KTHĐ là những chơng trình dự án, các
chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; đối tợng cụ thể của KTHĐ là toàn bộ
những nội dung cụ thể trong quá trình quản lý và sử dụng các nguồn lực và
kết quả hoạt động của tổ chức đó.
1.1.1.4. Phạm vi KTHĐ
Phạm vi KTHĐ xác định giới hạn mà chủ thể kiểm toán cần thực hiện
các hoạt động để đạt đợc mục tiêu của cuộc kiểm toán. Việc xác định đúng
6
đắn phạm vi kiểm toán nhằm đảm bảo cho việc đạt đợc mục tiêu kiểm toán
với chi phí hợp lý. Phạm vi KTHĐ thể hiện ở những nội dung cơ bản sau
(thông thờng thể hiện là sự kết hợp các nội dung đó):
- Về không gian kiểm toán:
+ Các bộ phận của tổ chức;
+ Các chơng trình, dự án, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức hoặc của
bộ phận thuộc tổ chức;
+ Hệ thống các công cụ quản lý của tổ chức;
+ Quy trình dịch vụ hoặc sản xuất sản phẩm;
- Về thời gian: Giai đoạn hoặc thời lợng của hoạt động cần kiểm toán;
Nh vậy, xác định phạm vi kiểm toán phải đảm bảo cho việc xác định
ranh giới rõ ràng, hỗ trợ cho việc kiểm toán đảm bảo đợc tính bao quát để
thực hiện đợc các mục tiêu kiểm toán.
1.1.2. Đặc điểm của quy trình KTHĐ
KTHĐ là một loại hình nghiệp vụ kiểm toán có đối tợng và mục tiêu
cụ thể riêng; song xét về lịch sử phát triển nó là sự phát triển với cấp độ cao
hơn (và xuất phát từ) kiểm toán BCTC ; do vậy, quy trình KTHĐ, một mặt có
những yếu tố có sự tơng đồng với quy trình kiểm toán BCTC ; mặt khác, với
mục tiêu, đối tợng có sự độc lập tơng đối nó có những yếu tố về quy trình
có tính độc lập.
Về tổng quan quy trình thực hiện KTHĐ (đối với chủ thể kiểm toán là
KTNN) cũng giống nh kiểm toán BCTC chia làm 4 giai đoạn:
- Chuẩn bị kiểm toán;
- Thực hiện kiểm toán;
- Lập báo cáo kiểm toán;
- Kiểm tra (hoặc theo dõi) sau kiểm toán.
7
Về hình thức và các thủ tục của 4 giai đoạn trên của mọi cuộc kiểm
toán đều có sự tơng đồng. Tuy nhiên, những nội dung và phơng pháp kiểm
toán của từng bớc thực hiện kiểm toán lại có những đặc điểm cụ thể riêng.
1.1.2.1. Chuẩn bị kiểm toán
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán của cuộc KTHĐ cũng có những thủ tục
công việc cơ bản giống nh đối với cuộc kiểm toán BCTC; Tuy nhiên, do mục
tiêu kiểm toán khác nhau nên nội dung của một số bớc công việc có sự khác
nhau; cụ thể:
- Công việc khảo sát kiểm toán; do mục tiêu chung của cuộc KTHĐ
thờng mang tính định hớng cao; đồng thời khác với cuộc kiểm toán BCTC ,
do KTHĐ gắn liền với hoạt động quản lý nên liên quan đến quy trình quản lý
của nhiều bộ phận, nhiều khâu hoạt động của tổ chức; việc khảo sát cần đợc
tiến hành với phạm vi rộng hơn mới tạo đợc cơ sở cho việc xác định các mục
tiêu cụ thể của cuộc kiểm toán.
- Xác định những mục tiêu và đối tợng cụ thể của kiểm toán; trong
một cuộc KTHĐ với một mục tiêu chung thờng liên quan đến rất nhiều vấn
đề quản lý của tổ chức, do vậy nó có tính đa dạng hơn đối với cuộc kiểm toán
BCTC ; việc lựa chọn mục tiêu và đối tợng cụ thể của cuộc KTHĐ thờng
toàn diện hơn và liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý.
- Việc bố trí KTV đối với cuộc KTHĐ phụ thuộc rất nhiều vào tính
chất, hoạt động của tổ chức, mục tiêu của cuộc kiểm toán; do vậy, việc bố trí
KTV cho cuộc KTHĐ phải đợc xem xét với một cơ cấu chuyên môn đa dạng
hơn cuộc kiểm toán BCTC .
- Xác định tiêu chuẩn đánh giá trong cuộc KTHĐ là một trong những
đặc thù của KTHĐ khác với kiểm toán BCTC (các tiêu chuẩn đánh giá đã
đợc quy định rõ ràng trong chuẩn mực kế toán, chế độ tài chính) các tiêu
chuẩn đánh giá KTHĐ không thống nhất giữa các ngành, các tổ chức và ngay
trong từng loại hình tổ chức việc lựa chọn và thoả thuận với đơn vị đợc kiểm
8
toán về tiêu chuẩn của mục tiêu, tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả là một quy
trình quan trọng và phức tạp
1.1.2.2. Thực hiện kiểm toán
Giai đoạn thực hiện kiểm toán ở mọi loại hình kiểm toán, trớc hết phải
đánh giá hệ thống KSNB làm cơ sở cho các cuộc khảo sát chi tiết để đi đến
những đánh giá kiểm toán.
- Khảo sát hệ thống KSNB là một trọng tâm của KTHĐ vì đây chính là
một trong những mục tiêu của KTHĐ. KTV khi thực hiện KTHĐ phải xem
xét đánh giá hiệu quả, hiệu lực của mọi quy trình kiểm soát và xử lý các phát
hiện; Việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát mở rộng chỉ tiến hành khi cần
thiết phải làm rõ vấn đề (khi đã rõ vấn đề có thể không cần đến thử nghiệm
mở rộng). Trong khi đó KTV khi thực hiện khảo sát hệ thống KSNB trong
kiểm toán BCTC chủ yếu quan tâm đến -KSNB lĩnh vực tài chính để xác định
rủi ro kiểm toán làm cơ sở cho các thử nghiệm chi tiết, nên các thử nghiệm
kiểm soát mở rộng là hoạt động bắt buộc.
- Tiến hành các thủ tục kiểm toán. KTHĐ dù với những đối tợng kiểm
toán là một chức năng, một nhiệm vụ, một chơng trình của một tổ chức hay
kiểm toán toàn diện hoạt động của một tổ chức thì hoạt động kiểm toán cũng
có đặc thù là thực hiện các thủ tục để đánh giá cả một quá trình; bao gồm:
+ Quy trình thực hiện mục tiêu của hoạt động gồm: mua các yếu tố đầu
vào; quy trình quản lý và sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ; số lợng và chất
lợng các yếu tố đầu ra; mức độ tác động của kết quả đầu ra vào thực tiễn
(mục tiêu).
+ Quá trình quản lý gồm: lập kế hoạch; tổ chức; điều hành; kiểm tra,
kiểm soát.
Trong khi đó kiểm toán BCTC chỉ chú trọng đến kết quả sau cùng của
các quá trình trên (các số d, các tài khoản).
9
- KTHĐ tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động đợc thực hiện với mọi
nguồn lực của đơn vị gồm nguồn lực tài chính và các nguồn lực phi tài chính
chủ yếu dựa trên phơng pháp phân tích; trong khi đó kiểm toán BCTC chủ
yếu thực hiện đối với các thông tin tài chính - kế toán, dựa trên phơng pháp
kiểm tra chi tiết.
1.1.2.3. Báo cáo kiểm toán
Giai đoạn này xét về thể thức và thủ tục lập báo cáo thì có sự tơng
đồng giữa các loại hình kiểm toán. Điểm khác nhau chủ yếu của báo cáo
KTHĐ với báo cáo kiểm toán BCTC là:
- Báo cáo KTHĐ lấy việc trình bày logic tự đánh giá thực trạng, xác
định nguyên nhân đến kiến nghị làm trọng tâm; còn BCKT BCTC lấy việc
trình bày những kết quả so sánh số liệu kiểm toán, xác định những sai phạm
và đi đến kết luận (xác nhận báo cáo tài chính) làm trọng tâm.
- Cấu trúc nội dung của báo cáo KTHĐ thờng đa dạng hơn báo cáo
kiểm toán BCTC .
1.1.2.4. Kiểm tra đơn vị thực hiện kiến nghị kiểm toán
Việc kiểm tra đơn vị thực hiện kiến nghị kiểm toán trong cuộc KTHĐ
đợc thể hiện chủ yếu dới hình thức theo dõi đơn vị; đặc biệt là đánh giá
những biện pháp để thực hiện kiến nghị và sự tác động, hiệu quả của nó đối
với quản lý. Trong khi đó kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán của kiểm
toán BCTC tập trung chủ yếu đến việc đơn vị sửa chữa sai phạm về thủ tục và
chế độ tài chính, kế toán . Về hình thức, việc tổ chức kiểm tra đơn vị trong
KTHĐ chủ yếu dới hình thức trao đổi, thảo luận về các biện pháp thực hiện
kiến nghị; trong khi đó, đối với kiểm toán BCTC , việc kiểm tra thực hiện
bằng hình thức tổ kiểm tra thu thập các bằng chứng để xác nhận việc sửa chữa
sai phạm tại đơn vị.
Từ những phân tích trên có thể tổng hợp những đặc diểm về quy trình
KTHĐ ( trong sự so sánh với kiểm toán BCTC ) nh sau:
10
Đặc điểm quy trình của KTHĐ trong sự so sánh với KTBCTC
Giai
đoạn
Bớc công việc
(so sánh)
KTHĐ KT BCTC
Chuẩn
bị
kiểm
toán
1. Khảo sát
2. Xác định mục tiêu
KT
3. Bố trí KTV
4. Xác định tiêu chuẩn
đánh giá
Quy trình quản lý của mọi bộ
phận
Các chức năng quản lý của tổ
chức
Khác nhau về chuyên môn
Lựa chọn, XD, thảo luận
Quy trình quản lý TC
Chức năng quản lý TC
Đồng nhất về chuyên
môn
Các quy định có sẵn
Thực
hiện
kiểm
toán
1. Khảo sát hệ thống
KSNB
2. Tiến hành thủ tục
kiểm toán
3. Các phơng pháp chủ
đạo trong kiểm toán
Mọi quy trình kiểm soát; là
một nhiệm vụ trọng tâm của
kiểm toán
Quá trình quản lý và sử dụng
các nguồn lực đầu vào để thực
hiện mục đích hoạt động
Các phơng pháp phân tích
Chủ yếu là quy trình
KSNB về thông tin; là
nhiệm vụ hỗ trợ trong
kiểm toán
Kết quả sau cùng của
hoạt động tài chính
Các ph/pháp kiểm tra
chi tiết tài khoản, chứng
từ
Báo cáo
kiểm
toán
1. Nội dung
2. Hình thức
Trình bày logic thực trạng -
nguyên nhân-kiến nghị (trọng
tâm)
Đa dạng
Xác định những sai
phạm-kếtluận (trọng
tâm)
Tơng đối chuẩn hoá
Kiểm
tra đơn
vị
th/hiện
KN KT
1. Nội dung trọng tâm
2. Hình thức
Đơn vị thực hiện các biện
pháp để nâng cao hiệu quả
hoạt động quản lý
Trao đổi, thảo luận
Đơn vị sửa chữa những
sai phạm về chế độ TC -
KT
Thu thập bằng chứng để
chứng minh
11
1.1.3. Các phơng thức tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán
Hiểu theo nghĩa chung nhất, phơng thức tổ chức thực hiện một cuộc
kiểm toán là cách thức tổ chức hoạt động kiểm toán phù hợp với đối tợng
kiểm toán để đạt đợc mục tiêu của cuộc kiểm toán. Cũng nh bất kỳ phơng
thức tổ chức hoạt động xã hội nào của con ngời, phơng thức tổ chức hoạt
động kiểm toán (KTHĐ) cũng gồm 2 mặt cơ bản là phơng pháp và hình thức
tổ chức thực hiện cuộc kiểm toán.
Phơng thức tổ chức thực hiện cuộc kiểm toán đề cập đến hai vấn đề
chủ yếu là:
- Tổ chức lực lợng thực hiện cuộc kiểm toán đó là các KTV và những
chuyên gia khác (gọi chung là KTV). So với một cuộc kiểm toán BCTC việc
tổ chức lực lợng KTV trong KTHĐ có những điểm khác chủ yếu là:
+ Trình độ chuyên môn hoá cao là một yêu cầu bắt buộc vì trong
KTHĐ, khi tiến hành kiểm toán tại một đơn vị đòi hỏi sự hiểu biết trên rất
nhiều lĩnh vực: kỹ thuật, tổ chức quản lý hành chính, quản lý kinh doanh,
quản lý tài chính; nghiệp vụ kế toán; thống kê và hiểu biết sâu sắc nhiều chức
năng khác của đơn vị cũng nh đối với nhiều đơn vị khác nhau. Trong điều
kiện đó không thể đào tạo mọi KTV với năng lực toàn diện nh vậy; đòi hỏi phải
tổ chức lực lợng kiểm toán gồm một vài KTV có chuyên môn không giống
nhau.
+ Việc tổ chức hoạt động của KTV có chuyên môn khác nhau trong
một cuộc kiểm toán là một hoạt động hết sức quan trọng; do vậy, việc tổ chức
lực lợng kiểm toán mang tính chất tập thể cao; mỗi KTV (với chuyên môn
riêng) đều có vị trí quan trọng, do vậy cuộc kiểm toán chỉ có thể thành công
trong hoạt động có tính liên kết của cả nhóm. Trong khi đó ở cuộc kiểm toán
BCTC thì sự liên kết có ý nghĩa chủ yếu nh việc tăng tiến độ công việc.
12
- Tổ chức quan hệ quản lý trong KTHĐ. Đây là một yêu cầu xuất phát
từ chính việc tổ chức lực lợng KTV quy định. Trong KTHĐ, quan hệ quản lý
nhằm phối hợp hoạt động giữa các KTV có ý nghĩa quyết định hoạt động
kiểm toán; trong đó:
+ Vai trò quản lý cuộc kiểm toán của tổ trởng, trởng đoàn kiểm toán
nh một "nhạc trởng", vừa phối hợp nhịp nhàng giữa các KTV; vừa hiểu biết
ở mức độ cần thiết để định hớng hoạt động cho từng KTV (dù có chuyên
môn khác nhau);
+ Vai trò của mỗi KTV có vị trí độc lập cao hơn so với cuộc kiểm toán
BCTC ; đồng thời cũng là ngời chịu trách nhiệm đến cùng về những nhận
xét, đánh giá mang tính chuyên môn sâu của mình.
Ngoài ra, trong cuộc KTHĐ sự phối hợp giữa các chuyên gia bên ngoài
thờng là một hoạt động phổ biến, cũng đòi hỏi có những thiết chế ràng buộc
và cách thức quản lý phù hợp.
Tóm lại, cuộc KTHĐ có phơng thức tổ chức thực hiện cũng nh ý
nghĩa của nó là một cuộc kiểm toán thuộc về một cấp độ phức tạp hơn cuộc
kiểm toán BCTC. Điều đó đợc quy định bởi chính đối tợng và mục tiêu của
cuộc kiểm toán đó.
Có thể chỉ ra các phơng thức cụ thể (dựa trên sự kết hợp các phơng
pháp và hình thức tổ chức) chủ yếu thờng đợc thực hiện dới hình thức các
cuộc KTHĐ nh sau:
1.1.3.1. Phơng thức tổ chức cuộc kiểm toán các chức năng của một
tổ chức
Cuộc kiểm toán các chức năng của một tổ chức liên quan đến một hoặc
nhiều chức năng trong một tổ chức (mỗi tổ chức thờng có một số chức năng
xác định). Phơng thức tổ chức cuộc kiểm toán các chức năng của một tổ chức
(sau đây gọi tắt là phơng thức kiểm toán chức năng) thờng có đặc điểm sau:
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét