trái cây dẫn đầu thế giới là : Trung Quốc (460,6 ngàn tấn cây có múi), Ấn Độ (46,2
ngàn tấn xoài), Mêxicô (71,6 ngàn tấn bơ), Thái Lan (425,2 ngàn tấn dứa).
* Nhập khẩu: Các nước trên thế giới thường nhập khẩu các loại trái cây như:
bơ, xoài, đu đủ và dứa tươi – 4 loại trái cây nhiệt đới chủ yếu trên thò trường quốc
tế dự báo sẽ tăng mạnh từ 750 triệu USD năm 1995 là 1,1 tỷ USD vào năm 2005.
Tỷ trọng nhập khẩu các loại trái cây nhiệt đới của các nước phát triển là 83%,
các nước đang phát triển là 17%. Thò trường nhập khẩu trái cây nhiệt đới tập trung
vào các khu vực EU, Mỹ, Nhật Bản. Năm 2001, EU nhập khẩu 4,6 triệu tấn chuối,
2,3 triệu tấn tấn cam, gần 1 triệu tấn dứa (tươi và đóng hộp), 628 ngàn tấn chanh,
188 ngàn tấn xoài. Mỹ nhập 3,8 triệu tấn chuối, 238 ngàn tấn xoài, hơn nửa triệu
tấn dứa (tươi và đóng hộp). Nhật chủ yếu nhập: 990 ngàn tấn chuối, 264 ngàn tấn
cam và 118 ngàn tấn dứa.
Xu hướng tăng trưởng nhập khẩu trái cây ở các nước đang phát triển cao hơn
các nước phát triển.
* Về xu hướng thò trường: Nói chung thò trường có những xu hướng như sau:
- Nhu cầu thò trường về trái cây nhiệt đới ngày càng gia tăng do ý thức về
dinh dưỡng trong khẩu phần ăn và do thu nhập và đời sống dân chúng ngày càng
được nâng cao.
- EU dự kiến trong 10 năm tới sẽ gia tăng nhập khẩu các loại trái cây như đu
đủ xoài, các loại trái cây nhiệt đới quý hiếm .
- Xu hướng đa dạng hóa sản phẩm trái cây nhiệt đới: Trước đây thò trường
tiêu thụ mạnh chuối, dứa nay chuyển sang cả các loại khác như: xoài, đu đủ, vải,
nhãn, sầu riêng, bơ… Yêu cầu về chất lượng trái cây cũng được cụ thể (như ghi tên
giống, màu sắc, hương vò, cấu trúc phần thòt ăn được, hạt lép hay không hạt.)
- Xu thế nhập khẩu trái cây nhiệt đới có 2 dạng:
Trang 5
. Nhập số lượng lớn và giá rẻ với một số sản phẩm truyền thống (chuối,
dứa)
. Nhập số lượng ít và giá rất cao: xoài, sầu riêng, măng cụt, trái vải…
- Tiêu chuẩn về kiểm đònh trái cây của một số nước phát triển ngày càng
khắt khe (Mỹ, Nhật, Úc, EU…)
- FAO cũng khuyến cáo quy trình và tiêu chuẩn cho việc kiểm phẩm dựa trên
các yêu cầu về vệ sinh, sâu bệnh cần phòng trừ, dư lượng hóa chất trong sản phẩm.
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRÁI CÂY TẠI VIỆT NAM
1.2.1. Về sản xuất:
* Về diện tích :Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích cây
ăn trái ở Việt Nam phát triển khá nhanh, từ 218.000 ha (1985) lên 346.000 ha
(1995), và hiện nay đã lên đến 643.500 ha. Diện tích cây ăn trái Việt Nam liên tục
gia tăng theo những tốc độ khác nhau tùy vùng và tùy từng thời kỳ – Phần lớn dân
chúng trồng tự phát theo cung cầu của thò trường, một số ít là theo sự chỉ đạo, tác
động của Nhà nước. Theo kế hoạch, diện tích vườn cây ăn trái sẽ đạt 1 triệu ha vào
năm 2010.
* Sản lượng : Sản lượng trái cây năm 2003 dự kiến đạt 4 triệu tấn. Tốc độ
tăng sản lượng hàng năm khá cao, đạt 8 %/năm.
* Phân bố: Diện tích vườn cây ăn trái Việt Nam bình quân 0,5 – 02 ha/hộ.
Một số trang trại có diện tích khá lớn từ 05- 50ha/hộ, hầu như rất ít trang trại có
diện tích hàng trăm ha.
Diện tích trồng cây ăn trái tập trung khoảng 70.000 ha chiếm 15% tổng diện
tích cây ăn trái. Một số đòa phương có diện tích cây ăn trái tập trung như: xoài cát
Hòa Lộc (Tiền Giang), Thanh Long (Bình Thuận), nho (Ninh Thuận), vải (Bắc
Giang, Hưng Yên), dứa (Tiền Giang, Long An), nhãn (Tiền Giang, Bến Tre, Vónh
Trang 6
Long) bưởi 5 roi (Vónh Long), cam sành Tam Bình, chôm chôm, sầu riêng
(Bến Tre)…
* Chủng loại: Theo điều tra của các nhà nông học, tại Việt Nam hiện có 39 họ,
124 loài và trên 350 giống cây ăn trái. Cây ăn trái được trồng tại hầu hết các tỉnh
trên cả nước nhưng tập trung nhiều nhất tại miền Đông và Tây Nam bộ. Có thể chia
trái cây ra làm 3 loại chính:
- Trái cây nhiệt đới: chuối, dứa, mít, xoài, ổi, dừa, đu đủ, sầu riêng, măng
cụt, vú sữa, mảng cầu, me, táo, chùm ruột, sa-pô, khế…
- Trái cây cận nhiệt đới: bơ, cam, quýt, vải, nhãn…
- Trái cây ôn đới: mận, đào, lê, nho, dâu tây…
Đặc biệt các tỉnh miền Tây có nhiều điều kiện để phát triển cây ăn trái nhất là
trái cây nhiệt đới do đất đai phì nhiêu, khí hậu ưu đãi, nguồn nước dồi dào, nhân
công rẻ. Có 12 chủng loại cây ăn trái nhiệt đới mang đặc trưng của Nam bộ như:
sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, xoài, thanh long, vú sữa, nhãn , chuối, dứa, mít,
dâu, táo.
- Diện tích cây ăn trái năm 2002 của miền Tây Nam bộ đạt 238.441 ha chiếm
70% diện tích cây ăn trái cả nước, sản lượng đạt gần 3 triệu tấn chiếm 75% tổng
sản lượng cả nước. Tốc độ tăng diện tích gần 7% năm. Dự kiến năm 2003 đạt
253.000 ha
- Bình quân sản xuất trái cây đầu người ở đồng Nam bộ cao nhất nước:
146kg/người/năm trong khi cả nước 48kg/người/năm (Châu Á Thái Bình Dương:
30kg; thế giới: 110kg) ( Xem Biểu 1: Diện tích và sản lượng cây ăn trái của Nam bộ).
* Về năng suất và giá thành
Theo nhận đònh của Cty Les Vergers Du Mekong một công ty vốn 100% nước
ngoài tại Cần Thơ, hầu như mọi cây ăn trái của Việt Nam đều có giá thành sản xuất
cao hơn các nước có cùng chủng loại cây ăn trái như Equador, Zamaica, Kenya,
Trang 7
Uganda, Zambia… Đặc biệt, đối với một số cây chủ lực của Việt Nam đều có giá rất
cao so với Thái Lan và Châu Á (Xem Biểu 2: Giá thành trái cây Việt Nam so với Thái Lan)
Giá thành cao của trái cây Việt Nam phụ thuộc vào các nguyên nhân: năng
suất thấp (do giống, chăm sóc, quy mô nhỏ), phí vận chuyển cao phải qua trung
chuyển nhiều cảng, các phí khác như đóng gói, bảo quản……cũng khá cao.
0
50
100
150
200
250
300
Cam Ca Chua Chuoi Xoai
VN
TL
Biểu 2: Giá thành trái cây Việt Nam so với Thái Lan
Các chuyên gia nước ngoài nhận đònh rằng Việt Nam sản xuất và kinh doanh
trái cây theo kiểu “du kích” trong khi các nước đều được tiêu chuẩn hóa.
* Mùa vụ:
Với khí hậu nhiệt đới đặc trưng cộng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ
thuật, nhiều nông dân đã áp dụng các biện pháp như kích thích sinh trưởng cho ra
hoa trái vụ làm cho xu hướng thời vụ được nới rộng và tương đối chủ động. Nhãn,
các loại cây có múi hầu như có mặt quanh năm trên thò trường.
Trái cây mang đậm nét thời vụ. Thời vụ thu hoạch đóng vai trò rất quan trọng
đối với hiệu quả kinh tế của trái cây thương mại. Chẳng hạn như chôm chôm Bến
Tre thu hoạch trước chôm chôm Long Khánh, chất lượng cao hơn nên giá cao hơn từ
2 đến 3 lần. Sầu riêng hạt lép thu hoạch muộn hơn sầu riêng khổ qua xanh và giá
bán thường cao hơn từ 1,5 – 2 lần. Nhãn tiêu da bò của Việt Nam thu hoạch hầu
Trang 8
như quanh năm , trong khi đó nhãn ở các nước trong khu vực chỉ thu hoạch vào
tháng 7, tháng 8 nên nhãn của chúng ta có thể bán với giá cao hơn vào những tháng
trái vụ.
Thời vụ cũng gắn chặt với giá cả thò trường nội đòa lẫn xuất khẩu. Giá cả của
trái cây phụ thuộc vào hai nhân tố: chất lượng trái cây và sản lượng cung ứng trên
thò trường cùng một thời điểm.
S
T Loại trái cây
Tháng trong năm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
1 Cây có múi Nam Bộ
Cây có múi Bến Tre
2 Nhãn ĐBSCL
Nhãn Bến Tre
3 Xoài Nam bộ
Xoài Bến Tre
4 Sầu riêng Nam bộ
Sầu riêng Bến Tre
5 Chôm chôm ĐBSCL
Chôm chôm Bến Tre
6 Măng cụt Nam bộ
Măng cụt Bến Tre
Biểu 3: Mùa vụ thu hoạch trái cây Nam bộ.
Nguồn : Tạ Minh Tuấn – Phòng nghiên cứu thò trường – SOFRI
1.2.2. Về tiêu thụ:
1.2.2.1. Tiêu thụ nội đòa: (
*
)
Theo kinh nghiệm của các nước xuất khẩu rau quả thì thò trường nội đòa là cơ
sở bền vững cho thò trường rau quả xuất khẩu. Khi nào thò trường tiêu thụ nội đòa
phát triển thì khi đó thò trường nước ngoài sẽ phát triển.
*
Nguồn: Hiệp hội Trái cây Việt Nam
Trang 9
Mức tiêu thụ trái cây bình quân đầu người của nước ta là 40kg/năm, dự báo
đến năm 2010 là 65 kg/năm.
Trái cây Việt Nam được tiêu thụ nội đòa khoảng từ 90% trong tổng sản lượng,
chủ yếu là trái cây tươi. Một phần rất nhỏ trong lượng tiêu thụ nội đòa (khoảng 5%)
được sử dụng cho chế biến công nghiệp tập trung vào các nhà máy chế biến rau
quả. Cũng như các loại hàng khác, thò trường nội đòa tiêu thụ tất cả các loại trái cây,
nhưng giá cả thường không cao bằng xuất khẩu. Đặc điểm nổi bật cần chú ý ở thò
trường nội đòa là việc tiêu thụ bò ảnh hưởng lớn bởi thò hiếu và sức mua của người
tiêu dùng cho từng loại trái cây.
Hiện nay, cả nước có hơn 50 đơn vò có liên quan đến chế biến rau quả và hàng
chục ngàn cơ sở chế biến nhỏ tham gia vào lónh vực sơ chế và chế biến trái cây.
Riêng Tổng Công ty rau quả Việt Nam có 18 Nhà máy trực thuộc. Tình hình chung
là việc quy hoạch vùng nguyên liệu không theo kòp với tốc độ xây dựng nhà máy
nên một số nhà máy hoạt động không hết công suất, thiếu nguyên liệu trầm trọng.
Mạng lưới tiêu thụ trái cây nội đòa ở nước ta còn yếu và thiếu. Chúng ta chưa
xây dựng mạng phân phối trái cây Nam – Bắc. Trái cây chủ yếu do các thương lái
buôn chuyến gom từng xe tải để đưa hàng từ Nam ra Bắc và không theo đònh kỳ,
chủ yếu do nhu cầu đột xuất và giá hấp dẫn trong một thời điểm nào đó.
Hệ thống tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào tập
quán nông dân – chợ. Cả đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay chưa thiết lập được
chợ đầu mối bán buôn tầm cở nào, ngoài chợ đầu mối truyền thống trên sông- chủ
yếu vẫn là trái cây tươi. Trái cây sấy khô và nước hoa quả ép vẫn còn xa lạ do chí
phí sản xuất cao.
Trang 10
Hiện nay, các loại trái cây nội đòa bò cạnh tranh quyết liệt bởi các loại trái cây:
táo, nho, lê, cam, quýt, sầu riêng… nhập từ Singapore, Philippines, Úc, New Zeland,
Thái Lan, Trung Quốc…
1.2.2.2 Xuất khẩu (
*
)
Hiện nay, trái cây Việt Nam đã xuất khẩu sang các nước: Trung Quốc, Đài
Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Mỹ, Hà Lan, Nga, Singapore, Campuchia,
HongKong và nhiều nước khác (khoảng 50 nước). Tuy nhiên, lượng trái cây và kim
ngạch xuất khẩu khá khiêm tốn chỉ bằng 0,29 % so với Thế giới, bằng 5,48% so với
Trung Quốc và bằng 16,51% so với Thái Lan.
(Triệu USD)
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 6 tháng đầu
năm 2003
Trò giá
56 90 69 53 70 200 330 220 85
Biểu 4A : Kim ngạch xuất khẩu rau quả qua các năm – Nguồn: Bộ Thương Mại
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây Việt Nam, thò trường Trung Quốc
chiếm trên dưới 60%. Phần còn lại tập trung vào một số thò trường Đài Loan, Nhật,
HongKong, Nga, Hàn Quốc và các thò trường khác. Có thể khẳng đònh rằng thò
trường xuất khẩu trái cây Việt Nam không vững chắc, tốc độ phát triển không ổn
đònh. (Xem Biểu 4C: Xuất khẩu rau quả theo thò trường)
Việt Nam chưa có thò trường xuất khẩu trái cây ổn đònh,chưa được Nhà nước
bảo trợ, chưa có hợp đồng buôn bán song phương hoặc đa phương giữa Chính phủ ta
và các nước khác. Các doanh nghiệp vẫn còn thói quen dựa dẫm vào Nhà nước,
chưa tích cực tìm kiếm thò trường. Trái cây xuất khẩu còn mang nặng tính buôn
chuyến và do tư nhân đảm nhiệm là chủ yếu. Các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh
trái cây phần lớn cũng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vừa không đủ lực, vừa không có
*
*
Nguồn: FAO và Bộ Thương Mại
Trang 11
sự hỗ trợ của Nhà nước, không liên kết lẫn nhau, mạnh ai nấy làm, thậm chí gây
khó cho nhau và hậu quả là nhà vườn lãnh đủ khi thò trường ế ẩm.
Thò trường Trung Quốc là thò trường trái cây lớn nhất của Việt Nam nên chúng
ta cần nghiên cứu kỹ. Đây là thò trường đầy tiềm năng với yêu cầu về chất lượng
chưa cao lắm và đa dạng về chủng loại. Nhu cầu về trái cây của họ cũng rất lớn
nhất là vùng Tây Nam và Tây Bắc. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của buôn bán biên
mậu nên rủi ro còn cao và rất bấp bênh.
1.3. TRIỂN VỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ TRÁI CÂY TRONG NƯỚC
VÀ XUẤT KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI: (
*
)
- Thò trường trái cây nội đòa: Đây là thò trường quan trọng chiếm đến 90% sản
lượng tiêu thụ. Trong hướng phát triển sắp tới, với dân số 80 triệu người cộng với
lượng du khách hàng năm trên 2 triệu người, thò trường nội đòa được khẳng đònh là
rất hấp dẫn. Thêm vào đó, nhờ vào đời sống được nâng cao do thu nhập tăng, người
dân sẽ có ý thức hơn về nhu cầu dinh dưỡng. Các thức uống có ga, có cồn dần dần
được thay thế bằng nước uống hoa quả. Theo dự báo tiêu thụ trái cây, mức tiêu thụ
trái cây bình quân đầu người sẽ tăng từ 40 kg lên đến 65 kg/người/năm (2005), kéo
theo tổng mức tiêu thụ dự kiến đạt khoảng 5,3 triệu tấn (tăng 63% so với năm
2000).
Phải khẳng đònh rằng thò trường nội đòa là một thò trường đầy tiềm năng và là
nền tảng để xuất khẩu ra nước ngoài.
- Thò trường Trung Quốc: là thò trường trái cây lớn nhất của Việt Nam chiếm
trên dưới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây. Đây là một thò trường đầy tiềm
năng với yêu cầu về chất lượng không đòi hỏi khắt khe lắm và đa dạng về chủng
loại. Dự báo nhu cầu tiêu thụ trái cây Việt Nam tại thò trường này trong thời gian
sắp tới tăng không dưới 10% năm. Sau khi vào WTO, Trung Quốc giảm thuế nhập
*
Nguồn: Hiệp hội Trái cây Việt Nam
Trang 12
khẩu trái cây từ 40% còn vào khoảng 13% (bình quân). Đây là cơ hội cho trái cây
Việt Nam thâm nhập và phát triển tại thò trường này. Trung Quốc nhập trái cây để
tiêu dùng và tái xuất đi nhiều nước trên thế giới. Các loại trái cây thường nhập là
nhãn tiêu, nhãn da bò, nhãn long (tươi và sấy khô), xoài (bưởi, xiêm, thanh ca)
chuối già, chôm chôm Java tươi.
Từ năm 2002 trở lại đây, khi Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của
WTO, ngoài chính sách thuế có thay đổi như đã nói ở trên, thì các quy đònh về kiểm
tra chất lượng sản phẩm, kiểm dòch thực vật và hạn ngạch đều do Trung Ương đảm
nhiệm nên tốn nhiều thời gian và tiêu chuẩn theo quy đònh của quốc tế khắt khe
hơn. Đây là lý do chính làm các thương nhân giảm nhòp độ và doanh số buôn bán
trái cây giữa hai nước.
- Thò trường Liên Bang Nga: trước đây khi còn là Liên Xô, nước ta đã xuất rất
nhiều sản phẩm rau quả tươi và chế biến cho thò trường này. Hiện nay, chúng ta có
thể xuất từ 3.000 – 5.000tấn chuối khô/năm (với yêu cầu đảm bảo chất lượng đến
tay người tiêu dùng). Tương tự cho trái cam, khả năng tiêu thụ cam tại Nga cũng từ
5.000 – 10.000tấn/năm. Các loại trái cây khác như: dứa, xoài, vải, nhãn, chôm
chôm, đu đủ, thanh long…, nếu được bảo quản và chế biến tốt thì khả năng xuất
khẩu sang Nga rất cao. Khâu tiếp thò, quảng cáo sản phẩm ở thò trường Nga cần
được khuếch trương để thò trường Nga biết đến trái cây nhiệt đới của Việt Nam.
- Thò trường cộng đồng Châu u: bình quân tiêu thụ trái cây ở khu vực này là
18,3kg/người/năm. Hệ thống bán lẻ trái cây nhiệt đới ở đây mạnh hơn các loại cây
ôn đới (chiếm tỷ lệ 70% so với 58%).
Thò trường này có nhu cầu cao về trái cây nhiệt đới nhưng yêu cầu về chất
lượng cũng cao. Đồng thời đòi hỏi marketing nhiều hơn vì họ vẫn còn xa lạ với
nhiều loại trái cây Việt Nam. Năm 2000 chúng ta đã xuất được 10 triệu USD rau
quả vào thò trường này. Ở các nước Pháp, Italia, Hà Lan, Thụy Só, Đức … chủ yếu
Trang 13
tiêu thụ trái cây qua chế biến (dứa, nước quả cô đặc và một số lượng nhỏ xoài,
bưởi, chôm chôm).
- Thò trường Nhật: bình quân nhập khẩu trái cây nhiệt đới tính theo đầu người
là 0,92kg/năm. Hầu hết do các nhà nhập khẩu lớn đảm nhiệm, phân nửa được đưa
đến các chợ bán buôn, phân nửa giao cho các đại lý. Ngoài ra các siêu thò cũng có
thể nhập thẳng trái cây. Thò trường Nhật với tiêu chuẩn kiểm dòch khắt khe nên trái
cây Việt Nam chỉ nhập khẩu vào thò trường này đã qua chế biến. Hiện Việt nam
đang được hưởng chính sách ưu đãi thuế quan của Nhật với thuế suất bình quân
MFN từ 5 –20%.
- Thò trường Mỹ: bình quân nhập khẩu theo đầu người là 1,64 kg/năm. Với
chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp nước mình tỷ lệ tiêu thụ trái cây nhiệt đới được
sản xuất là 59%. Với hiệp đònh thương mại Việt – Mỹ, khả năng thâm nhập vào thò
trường này cao sẽ giúp trái cây Việt Nam khai thác được thế mạnh của mình, nhất
là các loại quý hiếm. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, thò trường Mỹ đòi hỏi tiêu
chuẩn vệ sinh nghiêm ngặt và kiểm dòch thực vật khắt khe. Việt Nam đang chòu
thuế suất trung bình là 20% so với 5 % của Trung Quốc ( được hưởng ưu đãi MFN).
1.4. NHẬN XÉT:
Qua khảo sát một số tình hình trên, chúng ta nhận thấy việc sản xuất và tiêu
thụ trái cây trên thế giới và Việt Nam có một số thuận lợi và khó khăn như sau:
1.4.1. Thuận lợi:
- Sản lượng: chủng loại trái cây có nhiều khả năng phát triển. Nhất là các loại
trái cây nhiệt đới quý hiếm (do thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, kinh nghiệm…).
- So với nhiều loại cây trồng khác, trồng cây ăn trái sẽ làm tăng thu nhập gấp
nhiều (5-10 lần cao hơn lúa), nhất là trái cây trái vụ .
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét