Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Vai trò của ngân hàng nhà nước đới với việc thành lập mới các ngân hàng thương mại cổ phần

tiền. Vì vậy vai trò của Ngân hàng ở đây là trung gian tài chính. Người có tiền sẽ
tin vào Ngân hàng và thông qua ngân hàng để tiền của mình có thể đến đúng địa
chỉ. Và người cần vốn cũng có một địa chỉ để có thể tìm kiếm nguồn vốn thường
xuyên và an toàn.
Trong khi đó, Ngân hàng sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro
trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền. Và thực tế
là các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Một lý do nữa làm cho các
ngân hàng phát triển ổn định và thịnh vượng là họ có khả năng thẩm định thông
tin. Sự phân bổ thông tin không đều và năng lực phân tích thông tin trên thị
trường dẫn đến tình trạng “ thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả
của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng vì ngân hàng
có chuyên môn và các công cụ đánh giá các thông tin để đưa ra khả năng lựa
chọn các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất.
1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán.
Trước khi có sự xuất hiện của ngân hàng thì con người vẫn quen với tiền kim
loại như vàng, bạc, kim loại quý Sau khi có các ngân hàng thợ vàng tạo ra các
giấy nhận nợ với khách hàng. Và khi giấy nhận nợ được ngân hàng phát hành
với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều
người chấp nhận. Như vậy, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán đầu tiên.
Với nhiều ưu thế, dần dần, giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại là
phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó đã trở thành tiền tệ.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời nhu cầu mỗi nước muốn có
đồng tiền riêng đặc trưng cho quốc gia của mình, từ đó việc in tiền tập trung vào
một tổ chức hoặc bộ tài chính hoặc ngân hàng trung ương. Từ đó chấm dứt việc
các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy bạc riêng của mình.
1.1.2.3 Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá,
dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
5
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán, như thanh toán bằng Séc, uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp các mạng lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.
Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử
dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, nhiều hình thức thanh toán được
chuẩn hoá, góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các
ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh
toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng
và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3 Các dịch vụ của ngân hàng.
Ngân hàng được coi là một doang nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ cho công
chúng và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải xác định được nhu cầu của xã hội
về những dịch vụ mà mình đưa ra nhằm thực hiện có hiệu quả một cách tối đa.
Mua bán ngoại tệ:
Một trong những dịch vụ đầu tiên phải kể đến của ngân hàng là mua bán
ngoại tệ, do nhu cầu của các nhà đầu tư vào Việt Nam cần VNĐ nên họ bán
ngoại tệ của mình, hay những nhà nhập khẩu ở Viêt Nam cần mua hàng hoá
nước ngoài nên cần đổi nội tệ sang ngoại tệ. Hoặc đơn giản hơn là nhu cầu của
các khách du lịch nên họ cần đổi tiền. Ngân hàng đứng ra mua bán từ loại tiền
này sang loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính hiện
nay thì việc mua bán ngoại tệ thường do các ngân hàng lớn thực hiện bởi những
giao dịch như vậy thường có rủi ro cao và cần một trình độ chuyên môn cao.
Nhận tiền gửi:
Ngân hàng luôn luôn cần một lượng tiền lớn để cho vay, do đó ngân hàng
cũng phải huy động được một lượng tiền tương đương với lượng tiền cho vay
đó. Do vậy ngân hàng luôn luôn tích cực trong việc khuyến khích khách hàng
gửi tiền. Ngân hàng nhận tiền gửi của những người có thặng dư chi tiêu với cam
kết sẽ trả đúng hạn. Ngân hàng coi lãi của khoản tiền gửi đó như phần thưởng
6
mà ngân hàng trả cho khách hàng do họ đã hy sinh sự tiêu dùng trong trước mắt
để cho ngân hàng có thể tạm thời dùng số vốn của họ để kinh doanh. Các ngân
hàng phải canh tranh nhau khốc liệt nhằm thu hút sự chú ý, tin tưởng cũng như
quyết định gửi khoản tiền của mình vào một ngân hàng. Hiện tại có rất nhiều
cách để ngân hàng tăng cường thu hút tiền gửi
Ví dụ: Ngân hàng Nông nghiệp Agribank: dự thưởng vàng miếng có chữ A
Hay Ngân hàng ngoại thương có thưởng lãi suất cho các chứng chỉ tiền gửi có
giá trị cao…
Cho vay:
* Cho vay thương mại:
Ngân hàng cho người mua vay tiền để họ có tiền mua và dự trữ hàng hoá.
* Cho vay tiêu dùng:
Ngân hàng thường không hay cho người tiêu dùng vay tiền vì rủi ro khá cao
nhưng hiện nay do sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh
trong cho vay của các ngân hàng nên buộc các ngân hàng phải hướng đến người
tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng.
* Tài trợ cho dự án:
Bên cạnh các khoản cho vay ngắn hạn và trung hạn thì ngân hàng con cho
vay các khoản vay dài hạn, ngân hàng ngày càng trở nên năng động hơn trong
tài trợ cho các dự án. Tuy rằng loại tài trợ này rủi ro rất cao nhưng lợi nhuận
khổng lồ đã khiếm cho các ngân hàng không thể đứng ngoài cuộc. Thậm chí còn
có các ngân hàng cho vay để đầu tư vào đất, bất động sản.
Bảo quản vật có giá:
Ngày nay do điều kiện thuận lợi là lưu giư tiền cần an ninh tốt nhất nên các
ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, trang sức, đá quý và các vật có giá khác
của khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ đồ và giao lại cho khách
hàng giấy biên nhận. Khách hàng có thể lấy bất cứ lúc nào với tờ giấy biên nhận
của mình nhưng phải trả một khoản phí cho ngân hàng.
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
7
Khi các thương gia gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không
chi thực hiện việc bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả thanh toán cho
khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng họ có quyền viết giấy
thanh toán cho khách hàng ( Sec) và khách hàng cầm tờ Sec đó đến ngân hàng
và được ngân hàng thanh toán quy ra tiền mặt. Khi ngân hàng mở rộng quy mô,
liên tục gia tăng các chi nhánh tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nhân khi thanh
toán. Vì vậy, càng khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng va nhờ
ngân hàng thanh toán hộ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem
là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Cùng
với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát
triển như uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng máy, điện, thẻ….
Ngoài ra ngân hàng còn có rất nhiều các dịch vụ khác như: Quản lý ngân
quỹ, tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, bảo lãnh, cho thuê các thiết bị
trung và dài hạn, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp các dịch vụ
môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch
vụ đại lý.
1.1.4 Các nhân tố tác động tới NHTM.
- Chính phủ thực hiện chính sách giảm bao cấp và can thiệp trực tiếp.
- Sự phát triển chu cầu dịch vụ tài chính.
- Xu hướng đa dạng hoá trong môi trường hội nhập quốc tế.
- Sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường tài chính.
- Yêu cầu tăng vốn.
- Khả năng “ di chuyển “ của khách hàng làm gia tăng tính nhạy cảm với lãi
xuất của tài sản và nguồn vốn.
- Cách mạng trong công nghệ ngân hàng.
1.2 Cơ sở lý thuyết về thành lập mới một NHTM.
1.2.1 Cơ sở thực tiễn.
8
Trong tình hình thực tế hiện nay, nhu cầu huy động vốn của các Doanh nghiệp
là vô cùng lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh. Các Doanh nghiệp lớn, có uy tín thường cổ phần hoá, phát hành cổ phiếu
hay tự huy động vốn nhưng các Doanh nghiệp nhỏ thì không thể làm điều đó
hay chính các Doanh nghiệp lớn cung không thể đáp ứng đủ nhu cầu vốn của
mình khi tự huy động. Vì vậy các Doanh nghiệp đương nhiên phải tìm đến ngân
hàng như một cách tìm nguồn tiền thường xuyên và ổn định nhất. Và chính vì
nhu cầu lớn đó đòi hỏi các NHTM phải tăng cường mở rộng quy mô, tăng vốn
hoặc là cơ hội cho các nhà đầu tư, nhà tài chính mở NHTMCP.
Hơn nữa hiện nay các tập đoàn kinh tế lớn trong nước như Tổng công ty bưu
chính viễn thông Việt Nam, Điện lực Việt Nam (EVN) hay tập đoàn dầu khí, tập
đoàn bảo hiểm, Tổng công ty XD Sông đà… đang đứng trước nhu cầu về vốn
và trong tay cũng có đầy đủ những yêu cầu để thành lập một NHTM CP. Và có
vẻ đi cùng với thành công của NHTM CP Quân Đội thì không sớm thì muộn
những Tổng công ty hay tập đoàn này sẽ nhảy vào lĩnh vực tài chính đầy cơ hội
và hấp dẫn này.
Nhưng hiện nay, chính NHNN cần phải cân nhắc cấp giấy phép thành lập cho
các NHTMCP vì có rất nhiều NHTM mới thành lập có kết quả kinh doanh
không mấy khả quan.Theo “ báo điện tử diendandoanhnghiep” thì họ đã có cuộc
phỏng vấn với thống đốc NHNN Vịêt Nam bài viết có tựa đề “ Hạn chế thành
lập Ngân Hàng mới (13/04/2006)” .
Nội dung bài phỏng vấn: “Ngân hàng nhà nước (NHNN) đang gấp rút xây
dựng quy định về quản trị ngân hàng. Theo chủ trương này, NHNN sẽ hạn
chế thành lập các ngân hàng mới, thay vào đó là củng cố nâng cao chất
lượng của hệ thống ngân hàng đang hoạt động. Để hiểu rõ hơn vấn đề này,
DĐDN đã có cuộc PV Thống đốc NHNN Lê Đức Thuý.
9
- Hiện nay, một số TCty lớn chuyển sang tập đoàn đều có chủ trương thành lập
ngân hàng mới. Nhưng với quy chế đang soạn thảo, NHNN lại hạn chế thành lập
các ngân hàng mới. Tại sao vậy, thưa Thống đốc?
Chúng ta đã mở cửa cho đối tác nước ngoài, vậy không lý do gì lại khép cửa đối
với các nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh
có điều kiện, nó gắn liền với sự ổn định an toàn của hệ thống nền kinh tế,vì vậy
không phải ai muốn kinh doanh ngân hàng cũng được. Hai năm vừa qua hoạt
động ngân hàng có lợi nhuận cao, do vậy nhiều người đang muốn nhảy vào kinh
doanh lĩnh vực này mà không hiểu được rằng các ngân hàng đã phải trả giá rất
đắt mới đạt được kết quả hiện nay. Tôi lấy ví dụ không ít ngân hàng như VP
Bank mới được chấm dứt kiểm soát đặc biệt 1 năm qua, rồi Eximbank nợ quá
hạn 1.200 tỷ, đến nay vẫn tồn đọng cần xử lý tiếp, và thậm chí nhiều ngân hàng
không chia lợi tức cổ đông trong suốt 5 - 10 năm. Số ít ngân hàng mới có lợi
nhuận 2 - 3 năm vừa qua tương đối tốt. Vì vậy, muốn kinh doanh ngân hàng
đừng ảo tưởng về lợi nhuận của ngân hàng.
Đối với NHNN, chúng tôi đã phải đóng cửa rút giấy phép, sáp nhập và xử lý rất
nhiều hậu quả nặng nề từ 53 ngân hàng cổ phần xuống còn 36. Hiện nay, chúng
tôi chưa hoàn toàn yên tâm với bộ máy này. Sự phát triển tiếp tục của những tổ
chức tín dụng theo tôi đòi hỏi quan trọng nhất là nguồn nhân lực. Những người
quản trị ngân hàng có kinh nghiệm biết quản lý rủi ro và phải có bộ máy kiểm
soát kiểm tra chặt chẽ mới hạn chế được rủi ro. Do vậy, không phải các tập đoàn
cứ có tiền là có thể kinh doanh ngân hàng được.
- Theo quy chế mà NHNN đang soạn thảo thì các tổ chức muốn thành lập ngân
hàng mới phải có vốn 1.000 tỷ đồng, tương đương với ngân hàng cổ phần cỡ lớn
của VN. Vậy quy định này có quá chặt không, thưa Thống đốc?
Thực ra, việc tái cơ cấu hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước và
cổ phần hiện đang được tiếp tục. Theo đó, hàng loạt tiêu chuẩn quốc tế đang
được NHNN đưa vào để các ngân hàng tuân thủ nhằm mục tiêu xa hơn là hội
10
nhập, chứ không chỉ lành mạnh hoá và nâng cao độ an toàn như trước đây.
Trong bối cảnh việc kiện toàn hệ thống đang còn dở dang thì việc cấp phép
đương nhiên cũng đang được chúng tôi xem xét xây dựng đưa vào quy chế. Hơn
nữa, nếu thành lập thêm các ngân hàng mới thì những tiêu chuẩn cao sẽ được
xem xét áp dụng với mục tiêu là nếu thành lập thêm các tổ chức tín dụng mới thì
những tổ chức này sẽ phải hoạt động có hiệu quả. Một điều kiện quan trọng nhất
- theo tôi đó là vốn của các tổ chức này rất cao. Dự kiến một ngân hàng mới
thành lập sẽ có vốn ít nhất là 1.000 tỷ đồng, tương đương với vốn điều lệ của
ngân hàng cỡ lớn như Sacombank, ACB Đó là chưa nói tới một số tiêu chuẩn
khác về chất lượng quản trị điều hành, công nghệ ”
Qua bài phỏng vấn trên thì đã lộ rõ được những khó khăn mà một NHTMCP
mới thành lập gặp phải và khó khăn để một tổ chức, tập đoàn có tiềm lực về tài
chính có thể thành lập một NHTM và quản lý tốt hoạt động của các NHTM.
Thực tế cho thấy có rất ít các NHTMCP mới thành lập mà có thể thu hút sự quan
tâm và lòng tin của khách hàng đến gửi tiền và gửi tiết kiệm. Như NHTM CP
Toàn Cầu ( G- Bank) với những tiện ích trong quản lý tài khoản của khách hàng
nhưng với tâm lý người Việt Nam luôn luôn đặt an toàn cho đồng vốn của mình
lên hàng đầu lòng tin cho một NHTMCP mới thành lập chắc chắn không cao.
Hơn nữa đối tượng cho vay của các NHTMCP mới thành lập thường chưa có độ
tin cậy, chưa có mức độ an toàn cần thiết nên dẫn đến tình trạng nợ quá hạn và
các khoản nợ xấu trong các NHTM CP là tương đối lớn và là một vấn đề rất khó
giải quyết trong nay mai.
1.2.2 Cơ sở pháp lý.
NHTM là một tổ chức tín dụng chịu sự quản lý của NHNN và hoạt động như
một doanh nghiệp độc lập. Nên hoạt động của một NHTM phải tuân theo quy
định của NHNN và Luật Doanh nghiệp nhưng trong vấn đề thành lập mới một
NHTM ta chỉ xét theo luật các tổ chức tín dụng.
11
Trong luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 có quy định về các thủ tục, điều
kiện để nhà nước cho phép thành lập mới một ngân hàng như sau:
Điều 21: Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động:
Ngân hàng nhà nước là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt
động cho tổ chức tín dụng và cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng
cho các tổ chức khác theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp
luật.
Điều 22: Điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động:
1. Điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng đối với tổ chức
tín dụng gồm có:
a) Có nhu cầu hoạt động ngân hàng trên địa bàn xin hoạt động;
b) Có vốn quy định tại điều 83 của luật này; (Điều 83: Vốn pháp định: Mức
vốn pháp định của mỗi loại tổ chức tín dụng do Chính phủ quy định.)
c) Thành viên sáng lập là tổ chức, cá nhân có uy tín về năng lực tài chính;
d) Người quản trị, điều hành có năng lực hành vi đầy đủ và trình độ chuyên
môn phù hợp với từng loại hình tổ chức tín dụng;
e) Có điều lệ, tổ chức hoạt động phải phù hợp với quy định của Luật này và các
quy định khác của Pháp Luật;
f) Có phương án kinh doanh khả thi;
2. Các điều kiện để cấp giấy phép hoạt động Ngân hàng đối với các tổ chức
không phải là tổ chức tín dụng gồm có:
a) Hoạt động ngân hàng là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động
chính;
b) Có đủ vốn, điều kiện vật chất phù hợp với các hoạt động Ngân hàng;
c) Có đội ngũ am hiểu hoạt động ngân hàng;
d) Có phương án kinh doanh khả thi về hoạt động ngân hàng.
Điều 23: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động.
12
1) Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng gồm
có:
a) Đơn xin cấp giấy phép thành lập;
b) Dự thảo điều lệ;
c) Phương án hoạt động 3 năm đầu, trong đó nêu rõ hiệu quả và lợi ích kinh tế
của hoạt động ngân hàng.
d) Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh trình độ chuyên môn của thành
viên sáng lập, thành viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc.
e) Mức góp vốn, phương án góp vốn và danh sách các cá nhân, tổ chức góp
vốn.
f) Tình hình tài chính và các thông tin liên quan khác về cổ đông lớn;
g) Chấp nhận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền về nơi đặt trụ sở tổ chức
tín dụng;
2) Hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động ngân hàng của tổ chức không phải là tổ
chức tín
dụng gồm có:
a) Đơn xin cấp giấy phép hoạt động ngân hàng;
b) Quyết định, chứng nhận, giấy phép hoạt động ngành nghề đang kinh doanh;
c) Điều lệ;
d) Danh sách, lý lịch của các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Ban
kiểm soát (nếu có).
e) Tình hình tài chính 3 năm gần nhất;
f) Phương án hoạt động ngân hàng;
Điều 28. Điều kiện hoạt động
1. Để tiến hành các hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng cấp giấy phép phải
có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có điều lệ được NHNN chuẩn y;
b) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn pháp định và có trụ sở
phù hợp với yêu cầu hoạt động NH;
13
c) Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong toả
không được hưởng lãi tại NHNN trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày. Số vốn
này chỉ được giải toả khi tổ chức tín dụng hoạt động;
d) Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định pháp luật về những nội
dung quy định trong giấy phép.
2) Để tiến hành các hoạt động ngân hàng, tổ chức không phải là các tổ chức tín
dụng được cấp giấy phép hoạt động NH phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có trụ sở kinh doanh phù hợp với
yêu cầu hoạt động ngân hàng;
b) Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định của pháp luật về những nội
dung quy định trong giấy phép.
3. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép, tổ chức được NHNN
cấp giấy phép phải hoạt động.
1.3 Vai trò của NHNN với việc thành lập mới một NHTM.
1.3.1 Vai trò về quản lý
Trong luật các tổ chức tín dụng NHNN có những quy định chặt chẽ về quản
lý bộ máy hoạt động của NHTM CP khi thành lập. Đó là những thành viên sáng
lập, những người lãnh đạo, điều hành hoạt động phải có kinh nghiệm trong lĩnh
vực tài chính, có những phương án hoạt động tín dụng, tài chính rõ ràng, hiệu
qủa và khả thi. NHNN sẽ đứng ra giám sát các hoạt động của NHTM CP mới
thành lập chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh.
Thông qua các văn bản luật quy định về tỷ lệ khoản vay trên tài sản đảm bảo về
khả năng chuyển đổi các nguồn ngắn hạn sang dài hạn… NHNN gián tiếp quản
lý các hoạt động tín dụng của các NHTM nhằm tránh rủi ro từ các quyết định
đầu tư mạo hiểm rất dễ phát sinh trong các NHTMCP mới thành lập do chưa có
kinh nghiệp đánh giá rủi ro hoặc theo đuổi mức lợi nhuận cao.
NHNN đưa ra những chuẩn mực chung phù hợp với luật lệ của quốc tế cho các
NHTM CP mới thành lập và các NHTM đang thành lập có một sự thống nhất
trong quản lý hoạt động chung của các NHTM. Cũng như thành lập những uỷ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét