Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Huy động và sử dụng vốn tại công ty xây dựng và phát triển nhà số 6

Xin chân thành cảm ơncô giáo Phương Thị
Hồng Hà và cán bộ phòng kế toán công tykinh doanh
nhà số 6 đã giúp đỡ tôI hoàn thành bản chuyên dề
thực tập này
CHƯƠNG 1
VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
1.1: Vốn và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Để tiến hành một chu kỳ sản xuất, kinh doanh
thì đều cần có vốn. Vậy vốn là gì? Tại sao nó lại có vai
trò quan trọng như thế đối với bất kỳ các doanh
nghiệp hay một tổ chức cá nhân nào. Với tầm quan
trọng như vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu cần phải
bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm cơ bản vốn là gì? vai
trò của vốn đối với doanh nghiệp.
1.1.1: Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn
được hiểu và quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng
ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh
nghiệp.
Khái niệm này không những chỉ ra vốn không
chỉ là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các
doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia
của vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản
xuất kinh doanh liên tục trong suốt thời gian tồn tại
của doanh nghiệp.
Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Có vốn các doanh nghiệp
có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các
trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong
tương lai. Vậy yêu cầu đặt ra đối vớicác doanh nghiệp
là họ cần phải có sự quản lý và sử dụng có hiệu quả
vốn có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển vốn,
đảm bảo cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển
và vững mạnh.
Các đặc trưng cơ bản của vốn
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất
định. Có nghĩa là vốn phải được biểu hiện bằng giá trị
tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục
tiêu trong kinh doanh.
- Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng
nhất định thì mớicó khả năng phát huy tác dụng khi
đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực
kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thờigian. Điều này có thể
có vai trò quan trọng khi bỏ vốn vào đầu tư và tính
hiệu quả khi sử dụng đồng vốn.
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định,
vốn sẽ không được đưa ra để đầu tư khi mà người chủ
của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận.
- Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá
và có thể được coi là thứ hàng hoá đặc biệt vì nó có
khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường
vốn, trên thị trường tài chính.
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá
trị hiện vật ( tài sản cố định của doanh nghiệp: máy
móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý.
. . ) của các tài sản hữu hình ( các bí quyết trong
kinh doanh, các phát minh sáng chế,. . . )
1.1.2: Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi
doanh nghiệp đều có một phương thức và hình thức
kinh doanh khác nhau. Nhưng mục tiêu của họ vẫn là
tạo ra được lợi nhuận cho mình. Nhưng điều đó chỉ
đạt được khi vốn của doanh nghiệp được quản lý và
sử dụng một cách hợp lý.
Vốn được phân ra và sử dụng tuỳ thuộc vào
mục đích và loại hình doanh nghiệp.
1.1.2.1: Phân loại vốn theo nguồn hình thành
1.1.2.1.1. Vốn chủ sở hữu :
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu,
các nhà đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết và thông
qua đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.
* Vốn pháp định:
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà doanh
nghiệp phải có khi muốn hình thành doanh nghiệp và
số vốn này được nhà nước quy định tuỳ thuộc vào
từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với
doanh nghiệp Nhà Nước, số vốn này được ngân sách
nhà nước cấp.
*Vốn tự bổ xung:
Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa
phân phối (lợi nhuận lưu trữ ) và các khoản trích
hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ xí nghiệp
( Quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển . . . )
*Vốn chủ sở hữu khác:
Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự
thay đổi bởi vì do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch
tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí, do
các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn
chuyên dùng cơ bản.
1.1.2.1.2: Vốn huy động của doanh nghiệp:
Ngoài các hình thức vốn do nhà nước cấp thì
doanh nghiệp còn một loại vốn mà vai trò của nó khá
quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đó
là vốn huy động. Để đạt được số vốn cần thiết cho một
dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của
doanh nghiệp mà đòi hỏi trong một thời gian ngắn
nhất mà doanh nghiệp không đủ số vốn còn lại trong
doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự liên
doanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các
nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ hay các hình
thức khác.
* Vốn vay: Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng,
các tổ chức tín dụng, các cá nhân hay các đơn vị kinh
tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn.
Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng là
rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Nguồn vốn này
đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn
hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên
cơ sở hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và Doanh
nghiệp.
Vốn vay trên thị trường chứng khoán. Tại các
nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, vay
vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức
huy động vốn cho doanh nghiệp. Thông qua hình thức
này thì doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây
là một hình thức quan trọng để sử dụng vào mục đích
vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Việc phát hành trái phiếu
giúp cho doanh nghiệp có thể huy động số vốn nhàn
rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
* Vốn liên doanh liên kết:
Doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp
tác với các doanh nghiệp khác nhằm huy động và mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là hình thức
huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp
vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao
công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi
mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm điều này cũng có nghĩa là uy tín của công ty sẽ
được thị trường chấp nhận. Doanh nghiệp cũng có thể
tiếp nhận máy móc và thiết bị nếu như trong hợp
đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình
thức này.
* Vốn tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại là khoản mua chịu từ
người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà
doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng. Tín dụng thương
mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với
một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động
của hệ thống thanh toán, cuả chính sách tín dụng
khác hàng mà doanh nghiệp được hưởng. Đây là một
phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh
doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng cơ hội hợp tác
làm ăn của doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên
khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn
nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách có
hiệu quả thì nó sẽ góp phần rất lớn vào nhu cầu vốn
lưu động của doanh nghiệp.
* Vốn tín dụng thuê mua:
Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê
mua là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp
thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là
phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa
người cho thuê và doanh nghiệp. Người thuê sử dụng
tài sản và phải trả tiền thuê cho người thuê theo thời
hạn mà hai bên đã thoả thuận, người cho thuê là
người sở hữu tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao
dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính:
* Thuê vận hành:
Phương thức thuê vận hành( thuê hoạt động) là
phương thức thuê ngắn hạn tài sản. Hình thức này có
các đặc trưng sau:
- Thời hạn thuê ngắn so với toàn bộ thời gian
tồn tại hữu ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp
đồng chỉ cần báo trước trong thời gian ngắn.
Người thuê chỉ việc việc trả tiền theo thỏa
thuận, người cho thuê phải đảm bảo mọi chi phí vận
hành của tài sản như phí bảo trì, bảo hiểm thuế tài
sản . . .cùng với mọi rủi ro vô hình của tài sản.
- Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với
những hoạt động có tính chất thời vụ và nó đem lại
cho bên thuê lợi thế là không phải phản ánh loại tài
sản này vào sổ sách kế toán.
* Thuê tài chính:
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín
dụng thưong mại trung hạn và dài hạn theo hợp
đồng. Theo phương thức này, người cho thuê thường
mua tài sản, thiết bị mà người cần thuê và đã thương
lượng từ truớc các điều kiện mua tài sản từ người cho
thuê và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua
tài sản từ người cho thuê. Thuê tài chính có hai đặc
trưng sau:
Thời hạn thuê tài sản của bên phải chiếm phần
lớn hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ
của các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi
phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên
thuê, các loại chi phí bảo dưỡng vận hành, phí bảo
hiểm, thuế tài sản, cũng như các rủi ro khác đối với
tài sản do bên thuê phải chịu cũng tương tự như tài
sản của Công ty.
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình
thành, nó là tiền đề để cho doanh nghiệp có thể lựa
chọn và sử dụng hợp lý nguồn tài trợ tuỳ theo loại
hình sở hữu, nghành nghề kinh doanh, quy mô trình
độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như
chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, việc quản lý vốn ở các doanh
nghiệp trọng tâm cần đề cập đến là họat động luân
chuyển vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức
khác nhau của tài sản và hiệu quả vay vòng vốn. Vốn
cần được nhìn nhận và xem xét dưới trạng thái động
với quan điểm hiệu quả.
1.1.2.2: Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển:
11.2.2.1: Vốn cố định:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét