Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Hiện trạng môi trường tự nhiên và đề xuất quy hoạch bảo vệ môi trưởng thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

Niên luận Trần Hữu Định
tháng IX. Gió mùa Tây Nam ở đây thường hoạt động sớm và kết thúc muộn hơn các khu
vực khác.
Khí hậu của khu vực có nhiều nét biến động mạnh, thể hiện qua sự biến động mùa:
mùa Đông và mùa Hè, mùa mưa và mùa khô. Thời tiết của Đông Hà thường gây úng
vào đầu vụ đối với vụ Đông Xuân; hạn đầu vụ và úng cuối vụ Hè Thu.
1.2.3. Thuỷ văn
Thành phố Đông Hà có 3 con sông chính là sông Hiếu, sông Thạch Hãn, sông Vĩnh
Phước.
- Sông Hiếu là sông lớn nhất chảy qua Thành phố bắt nguồn từ sườn Đông dãy
Trường Sơn cao độ trên 1.000m chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua các xã
Hướng Sơn, Hướng Hiệp chảy về qua địa phận huyện Cam Lộ đi về Đông Hà (bắt đầu
từ Nhà máy xi măng Đông Hà đến ngã ba Gia Độ) và nhập vào sông Thạch Hãn ở ngã
ba Gia Độ. Sông Hiếu có chiều dài 70km, diện tích lưu vực 465km
2
, đoạn chảy qua
Thành phố có chiều dài 8km, với chiều rộng trung bình khoảng 150-200m. Khu vực hạ
lưu sông Hiếu chịu sự chi phối của thuỷ triều từ biển vào nên có chế độ dòng chảy khá
phức tạp. Về mùa khô dòng chảy ở thượng lưu nhỏ nên mặn xâm nhập sâu, biên độ mặn
lớn với lưu lượng thấp nhất là 2,83m
3
/s, nhưng về mùa lũ nước thường dâng cao gây
ngập lụt.
- Sông Thạch Hãn bắt nguồn từ sông Đakrông, chảy qua Ba Lòng rồi về xuôi.
Sông có chiều dài 145km, đoạn chảy qua ven phía Đông Thành phố có độ dài 5km từ
ngã ba sông Vĩnh Phước (phường Đông Lương) và hợp lưu với sông Hiếu (phường
Đông Lễ) tại ngã ba Gia Độ.
- Sông Vĩnh Phước bắt nguồn từ vùng đồi cao 300 - 400m thuộc xã Cam Nghĩa,
Cam Chính (huyện Cam Lộ) chảy qua phía Nam thành phố Đông Hà ở phường Đông
Lương rồi đổ vào sông Thạch Hãn tại km5 đường sông, tính từ ngã ba Gia Độ ở xã
Triệu Giang (huyện Triệu Phong). Sông có diện tích lưu vực 183km
2
; có chiều dài
45km, chiều rộng trung bình 50 - 70m, lưu lượng trung bình 9,56m
3
/s, mùa kiệt
1,79m
3
/s. Đây là con sông cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho thành phố Đông Hà.
- Ngoài các con sông chính trên địa bàn Thành phố còn có các hồ như: hồ Khe
Mây, hồ Trung Chỉ, hồ KM6, hồ Đại An với mạng lưới phân bố đều khắp trên địa bàn
Thành phố và tạo cảnh quan thiên nhiên, cải thiện vi khí hậu tiểu vùng và phát triển du
lịch sinh thái cho Thành phố.
1.2.4. Thực vật
Theo số liệu thống kê đầu năm 2009, trên địa bàn thành phố Đông Hà có 33/75
tuyến đường có trồng các loại cây xanh như: Phượng, Sữa, Lát, Xà cừ, Me, Bằng Lăng,
Chẹo, Sấu, Nhội, Sến, Sao Đen, M.Bò, Gõ, Bàng, Đào, Trứng cá, Xưa, Bồ Đề, Mưng,
Cọ dầu… Tổng cộng có 6.432 cây các loại. Diện tích cây xanh đường phố đạt khoảng
9,2ha. Với dân số 85.044 người, như vậy, mật độ cây xanh đường phố đạt 1,08m
2
/người
 
5
Niên luận Trần Hữu Định
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị tính đến ngày 29/6/2009, trên địa
bàn thành phố Đông Hà có 37ha đất rừng tự nhiên phòng hộ; 393,10ha đất rừng trồng
phòng hộ; 1.619,2ha đất rừng trồng sản xuất và đất không rừng quy hoạch cho lâm
nghiệp (bao gồm cỏ, lau lác, cây bụi có gỗ rải rác) 62,4ha. Diện tích cây xanh này tập
trung chủ yếu là phường 3, phường Đông Lương, phường 4, phường Đông Lễ.
1.3. CÁC YẾU TỐ KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.1. Dân cư và nguồn lao động
Dân số trung bình toàn Thành phố năm 2008 là 85.044 người, tỷ lệ gia tăng dân số
tự nhiên là 1,39%.
Nguồn lao động Thành phố năm 2008 có 45.994 người trong độ tuổi lao động,
chiếm 54,1% tổng dân số. Hàng năm Thành phố giải quyết được việc làm cho khoảng
1.000 - 1.100 lao động. Nhìn chung chất lượng nguồn lao động chưa cao, thiếu đội ngũ
cán bộ khoa học kỹ thuật, lực lượng lao động chất lượng cao, công nhân lành nghề.
1.3.2. Giáo dục và y tế
a. Giáo dục:
- Giáo dục phổ thông: Đến năm 2007 - 2008, trên địa bàn Thành phố có:
+ Bậc mầm non: Tổng số có 17 trường, trong đó có 56% số trường, lớp được kiên
cố hoá.
+ Bậc tiểu học: Gồm 15 trường công lập và một trường bán công. Có 93,3%,
trường học được kiên cố hoá.
+ Bậc trung học cơ sở: Có 9 trường, trong đó có 88,8% trường được kiên cố hoá, 2
trường đạt tiêu chuẩn Quốc gia (đạt 23%).
+ Bậc trung học phổ thông: Có 4 trường, trong đó có 3 trường công lập (1 trường
chuyên) và một trường bán công. .
- Đào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề:
Trên địa bàn Thành phố có trường Cao đẳng sư phạm, phân hiệu đại học Huế,
trường chính trị Lê Duẩn, trường trung cấp y tế, trường dạy nghề đa ngành, 2 trung tâm
giáo dục thường xuyên, 2 trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề, trường trung cấp
nghề.
b. Y tế:
Trên địa bàn Thành phố hiện nay có 01 bệnh viện Tỉnh với quy mô 500 giường
bệnh; 01 bệnh viện Thành phố với quy mô 50 giường bệnh; 09 trạm y tế trên địa bàn 09
phường; 01 trung tâm y tế dự phòng tỉnh; 01 trung tâm y tế dự phòng Thành phố; 45
phòng khám tư nhân lớn, nhỏ. Ngoài ra, còn có trạm xá của các ngành khác nhau như:
Bệnh xá công An, Bệnh xá Bộ đội (20A của BCH quân sự tỉnh), Bệnh xá Đông Trường
Sơn
1.3.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật
 
6
Niên luận Trần Hữu Định
Đông Hà là trung tâm tỉnh lỵ nên cơ sở hạ tầng của thành phố được thu hút đầu tư
rất lớn.Vì vậy hệ thống cơ sở hạ tầng cơ sở vật chất kỷ thuật của thành phố tương đối
hoàn thiện so với các địa phương khác trong tỉnh. Mạng lưới giao thông, bưu chính viễn
thông, tài chính ngân hàng được chú trọng mở rộng, hiện đại hoá; hệ thống điện, cấp
thoát nước được nâng cấp cải tạo, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất và thu
hút đầu tư. Đông Hà còn là nơi tập trung các công trình hạ tầng xã hội mang ý nghĩa
toàn tỉnh như Nhà văn hoá trung tâm, bảo tàng, các khu công viên, văn hoá, thể thao, du
lịch…
1.3.4. Sự phát triển các ngành kinh tế
a. Thương mại - dịch vụ và du lịch:
 Thương mại - dịch vụ:
Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển khá, cơ sở hạ tầng được cũng cố và
tăng cường đầu tư mở rộng, phương thức kinh doanh đa dạng. Khối lượng hàng hoá bán
lẽ và buôn bán đều tăng. Tổng mức bán lẽ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng bình quân
22%/năm thời kỳ 2001 - 2005. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa
bàn ước thực hiện năm 2009 đạt 4.780 tỷ đồng. Tổng số cơ sở kinh doanh dịch vụ,
khách sạn, nhà hàng là 6.263 cơ sở.
Trên địa bàn thành phố có 5 siêu thị và Trung tâm dịch vụ thương mại đang hoạt
động. Có 13 chợ, trong đó 5 chợ được xây dựng kiên cố, 8 chợ bán kiên cố với khoảng
6.000 hộ kinh doanh. Chợ Đông Hà là chợ lớn nhất của tỉnh với quy mô 2.500 quầy
hàng. Hoạt động kinh doanh ở chợ Đông Hà và các chợ đầu mối ngày càng phát triển,
thu hút nhiều doanh nghiệp, tiểu thương vào buôn bán.
Các ngành dịch vụ phát triển với tốc độ khá nhanh, đa dạng hoá các loại hình
dịch vụ: Hoạt động tín dụng, ngân hàng, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, vận
tải, nhà hàng, vui chơi giải trí ngày càng phát triển và hoạt động đem lại hiệu quả.
 Du lịch:
Đến nay, trên địa bàn thành phố Đông Hà có 43 khách sạn và nhà nghỉ với trên 870
phòng ngủ. Trong đó có 2 khách sạn 3 sao, 8 khách sạn 2 sao, 3 khách sạn 1 sao, 19
khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu và 11 nhà nghỉ chưa được xếp hạng. Hàng năm thu hút
khoảng 15.000 lượt khách nội địa và Quốc tế đến nghỉ ngơi, tham quan các di tích lịch
sử cách mạng và các danh lam thắng cảnh ở các vùng lân cận Thành phố như: Cồn Tiên,
Dốc Miếu, nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, bãi tắm Cửa Tùng, Cửa Việt, địa đạo Vĩnh
Mốc Dịch vụ vận chuyển lữ hành phát triển nhanh, đặc biệt là vận tải đưa đón khách
bằng taxi và dịch vụ khai thác các tour “Du lịch hoài niệm chiến trường xưa và đồng
đội”, khai thác hành lang Đông - Tây. Trên địa bàn có 3 trung tâm lữ hành, 8 đơn vị kinh
doanh dịch vụ vận chuyển với trên 100 đầu xe. Ngoài ra còn nhiều dịch vụ cho thuê xe
của tư nhân
Quy hoạch quỹ đất để phát triển kinh doanh thương mại và du lịch còn hạn chế.
Đầu tư xây dựng các điểm vui chơi giải trí các hồ trên địa bàn như hồ Khe Mây, hồ
 
7
Niên luận Trần Hữu Định
Trung Chỉ, hồ Km6 thực hiện đang còn chậm do ngân sách Thành phố còn khó khăn,
chưa có giải pháp huy động nguồn từ xã hội để đầu tư phát triển một cách có hiệu quả.
b. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Ngành CN - TTCN trên địa bàn Thành phố đạt mức tăng trưởng khá, giá trị sản
xuất CN - TTCN thời kỳ 2001 - 2005 tăng bình quân 14,8%. Giá trị sản xuất công
nghiệp trên địa bàn năm 2009 ước đạt 542,39 tỷ đồng, đạt 98,6% kế hoạch năm (560 tỷ
đồng) và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước.
Số cơ sở sản xuất trên địa bàn hiện có 988 cơ sở, tăng 29 cơ sở so với năm 2008.
Trong đó ngoài quốc doanh có 983 cơ sở, quốc doanh có 05 đơn vị.
Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã tập trung cải tạo nâng cấp nhà
xưởng, tăng cường thiết bị máy móc, vốn lưu động, nâng cao năng lực sản xuất, cải tiến
mẫu mã, chất lượng sản phẩm, thu hút thêm lao động trên một số ngành hàng: cơ khí gia
công, mộc mỹ nghệ, mộc cao cấp, chế biến gỗ
Tại KCN Nam Đông Hà hiện có 19 dự án đăng ký đầu tư, với tổng số vốn đăng ký
là 1.044 tỷ đồng, có 3 dự án đi vào hoạt động, thu hút gần 1.400 lao động. Tại CCN
Đông Lễ, hiện có 17 dự án đăng ký đầu tư kinh doanh và được giao đất thực địa, trong
đó có 04 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, 04 dự án đang hoàn thành lắp đặt dây
chuyền thiết bị công nghệ, 07 dự án đang xây dựng nhà xưỡng.
Tuy nhiên, sản xuất CN-TTCN vẫn chưa có bước đột phá, cơ sở sản xuất còn
manh mún, nhỏ lẻ, công nghệ thiết bị còn lạc hậu, chuyển giao công nghệ, du nhập sản
phẩm mới còn chậm, hiệu quả chưa rõ nét.
c. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản:
Kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế nhưng đóng vai trò
quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, rau xanh cho Thành phố. Hàng
năm đất nông nghiệp bị thu hẹp do tốc độ đô thị hoá tăng nhanh. Tuy nhiên sản xuất
nông nghiệp có những bước tiến bộ đáng kể, phát triển theo hướng thâm canh chiều sâu,
hình thành vùng chuyên canh và đạt tốc độ tăng trưởng cao. Bước đầu đầu tư hình thành
các vùng sản xuất chuyên canh cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
sản.
Năm 2008, tổng diện tích gieo trồng 2.590ha. Trong đó diện tích lúa đạt 2092,5ha;
Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 46,4ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt 9.840 tấn.
Trong năm 2009, đã trồng mới được 76,0ha rừng sản xuất theo chương trình
trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ và 42.857 cây phân tán, 300 cây bóng mát các
loại.
CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
2.1. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
 
8
Niên luận Trần Hữu Định
2.1.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí
Thành phố Đông Hà trong những năm gần đây đã có những đổi mới rất đáng kể,
được đầu tư xây dựng nhiều mặt, đời sống người dân không ngừng được cải thiện. Song
song với quá trình trên thì chất lượng không khí ngày càng bị giảm sút.Có nhiều nguyên
nhân làm cho môi trường không khí ở thàmh phố Đông Hà bị ô nhiểm như:
- Hoạt động giao thông vận tải đô thị: Các phương tiện giao thông đã sinh ra các
chất ô nhiễm như: Bụi, CO
2
, SO
2
, CO, NO
x
, hơi xăng, dầu, tiếng ồn và chấn động. Theo
thống kê tháng 06 năm 2009, thành phố Đông Hà có 35.416 xe máy, 2.669 xe tải các
loại; 1.516 ôtô các loại với tổng tải lượng các chất ô nhiễm như sau: TSP là 0,45
tấn/ngày; SO
2
là 3 tấn/ngày; NO
x
là 3,2 tấn/ngày; CO là 48 tấn/ngày.
- Hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của các cơ sở sản xuất
nằm xen kẽ trong khu vực nội thị. Khu công nghiệp Nam Đông Hà có diện tích MDF
chiếm 6,7ha, Dệt may Hoà Thọ 2,92ha, Công ty Cổ phần Tính Đạt Thành khoảng 2,5ha,
tổng tải lượng chất ô nhiễm: Bụi là 99,1kg/ngày; SO
2
là 948,6kg/ngày; NO
2
là 61,9
kg/ngày; CO là 29,3kg/ngày; THC là 8,0kg/ngày.
- Nguồn thải từ sinh hoạt của dân cư: Năm 2008, dân số thành phố Đông Hà là
85.044 người, tải lượng các chất ô nhiễm: Bụi là 2,7kg/ngày; SO
2
là 0,7kg/ngày; NO
x

4,5kg/ngày; CO là 10,4k g/ngày; THC là 5,2kg/ngày.
- Hoạt động xây dựng: Xây dựng mới, sửa chữa và cải tạo nhà cửa, sửa chữa và
nâng cấp hệ thống giao thông, hệ thống cấp thoát nước đều gây ô nhiễm rất lớn, đặc biệt
là bụi. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí do hoạt động này chủ yếu là bụi, tiếng ồn và chỉ
mang tính cục bộ.
2.1.2. Chất lượng môi trường không khí
a. Môi trường không khí ở các khu dân cư:
Thống kê hệ thống các số liệu về chất lượng môi trường không khí trong những năm
gần đây cho thấy, hầu hết các thông số chất lượng môi trường không khí xung quanh nằm
trong giới hạn cho phép theo TCVN 5937:2005, TCVN 5949:1998. Tuy nhiên, tiếng ồn và
bụi thường tập trung cao (xấp xỉ và vượt tiêu chuẩn) tại các địa điểm như chợ Đông Hà, nút
giao thông giữa Quốc lộ 1A và đường 9D, ngã 5 trung tâm thành phố Đông Hà… là các vị trí
có mật độ giao thông cao.
Các thông số khí độc được quan trắc bao gồm: CO, SO
2
, NO
2
đều nằm trong giới
hạn cho phép theo TCVN 5937:2005. Tuy nhiên, nồng độ các khí độc có sự khác nhau
giữa các vị trí, đáng chú ý là tại các nút giao thông, nồng độ các khí độc cao hơn các khu
vực khác.
b. Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Độ ồn trong không khí ở một số KCN, CCN nằm trong giới hạn cho phép theo
TCVN 5949:1998 (75dBA).
 
9
Niên luận Trần Hữu Định
Nồng độ bụi và khí độc tại một số KCN, CCN nằm trong giới hạn cho phép theo
TCVN 5937:2005 (Bụi là 300µg/m
3
, NO
2
là 200µg/m
3
, SO
2
là 350µg/m
3
, CO là
30.000µg/m
3
). Độ bụi và khí độc phát sinh chủ yếu do quá trình thi công mặt bằng và cơ
sở hạ tầng, một phần xuất phát từ các hoạt động của các cơ sở sản xuất trong khu vực.
Chất lượng môi trường không khí KCN, CCN phản ánh khách quan mức độ đầu tư
của các dự án vào các KCN hiện nay (KCN Nam Đông Hà mới có 2 nhà máy và cụm
công nghiệp Đông Lễ có 4 nhà máy đi vào hoạt động).
Môi trường không khí xung quanh các khu vực này chưa có dấu hiệu ô nhiễm. Tuy
nhiên, trong khu vực nhà máy, mức độ ô nhiễm này là rất đáng quan tâm, đặc biệt hiện
tại là nhà máy MDF (bụi, tiếng ồn và khí độc phát sinh từ lò đốt, từ các công đoạn
nghiền dăm, phun hơi Ure Fomaldêhyt, chà nhám, vận chuyển, bốc dỡ ảnh hưởng rất lớn
đến cán bộ công nhân viên). Trong tương lai khi các KCN, CCN được lấp đầy với sự
hoạt động của các ngành chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến kim loại
và cơ khí có tác động cộng gộp chắc chắn môi trường không khí khu vực này sẽ bị ô
nhiễm.
Mức độ ô nhiễm không khí phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, địa hình và
sự bố trí các KCN, CCN (Đặc trưng thời tiết của Đông Hà là gió Tây Nam hoạt động
mạnh vào mùa hè, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp; mặt khác các KCN, CCN hầu hết được bố
trí nằm đầu hướng gió nên mức độ ô nhiễm càng tăng).
2.2. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
2.2.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước
Nguồn nước bị ô nhiểm có nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng tựu trung lại thì có
các nguyên nân sau:
- Nước thải từ khu dân cư: Nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn,
trường học, cơ quan chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người
gọi chung là nước thải sinh hoạt, nước thải từ khu dân cư hoặc nước thải vệ sinh. Hiện
nay, lượng nước cấp trên địa bàn thành phố Đông Hà đạt 100lít/người.ngày. Như vậy,
tổng lượng nước thải sinh hoạt 0,1 x 85.044 x 0,8 = 6.803m
3
/ngày.đêm.
Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là có hàm lượng cao các chất hữu cơ
không bền vững, dễ bị phân huỷ sinh học, chất dinh dưỡng, chất rắn và vi trùng.
- Nước thải công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, hiện nay đáng chú ý nhất là nước thải của
nhà máy ván ép MDF thuộc khu công nghiệp Nam Đông Hà với lưu lượng thải
150m
3
/ngày, nồng độ các chất ô nhiễm: BOD
5
= 6,590mg/l, COD = 9,590mg/l, phenol =
4,7mg/l; tổng Nitơ = 29,14mg/l; coliform = 29x10
6
MPN/100ml.
- Nước chảy tràn mặt đất: Nước chảy tràn từ mặt đất do mưa hoặc do thoát nước
từ đồng ruộng là nguồn gây ô nhiễm nước sông, hồ; nước rửa trôi qua đồng ruộng có thể
 
10
Niên luận Trần Hữu Định
cuốn theo chất rắn (rác), hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón. Nước rửa trôi từ khu dân
cư, đường phố, cơ sở sản xuất công nghiệp có thể làm ô nhiễm nguồn nước do chất thải
rắn, dầu mỡ, hoá chất, vi trùng…
2.2.2. Hiện trạng môi trường nước
a. Nước mặt:
Thành phố Đông Hà có tổng trữ lượng nguồn nước mặt lớn, phân bố khá đều trên
Thành phố. Ngoài nguồn nước từ sông Hiếu, Vĩnh Phước, Thạch Hãn, Hói Sòng và
hàng chục khe suối, các hồ chứa, Đông Hà còn có một số hồ đập nhân tạo phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường và nuôi trồng thuỷ sản như: hồ Trung Chỉ, hồ
Khe Mây, hồ Đại An, hồ Khe Sắn.
- Nước sông:
Hai con sông trên địa bàn Thành phố Đông Hà có mục đích sử dụng khác nhau:
Sông Vĩnh Phước chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới tiêu, ngoài ra còn tiếp
nhận một phần nước thải đô thị và KCN; sông Hiếu thực hiện vai trò là nguồn tiếp nhận
và làm sạch nước thải của Thành phố (80% lượng nước thải đổ ra con sông này).
Diễn biến chất lượng môi trường nước tại một số vị trí trên các sông cho thấy, ở
các vị trí cấp nước cho mục đích khác (không cấp cho mục đích sinh hoạt), các thông số
chất lượng nước nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT, cột B2
(Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt). Đối với các vị trí quan trắc
nước phục vụ cho cấp nước sinh hoạt (sông Vĩnh Phước - cách trạm bơm 1 khoảng
02km về phía thượng nguồn, …), hầu hết các thông số chất lượng nước nằm trong giới
hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT, cột A1 (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về
chất lượng nước mặt, sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt). Tuy nhiên, tuỳ theo thời điểm
chất lượng nước sông Vĩnh Phước nói riêng cũng như các con sông khác trên địa bàn
Thành phố nói chung có sự biến động, thường sau trận mưa lớn ở đầu nguồn, nước sông
thường đục và có màu đỏ, do đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước cấp cho sinh
hoạt. Tại vị trí trạm bơm cấp nước sinh hoạt vào tháng 12/2008 hàm lượng tổng các chất
rắn lơ lửng vượt gấp 4,42lần, hàm lượng sắt vượt 8,75 lần so với QCVN
08:2008/BTNMT, cột A1.
Mặc dù hiện nay chất lượng nước của 2 con sông trên chưa đến mức đáng báo
động, tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, việc xả các loại nước thải chưa
qua xử lý vượt quá khả năng tự làm sạch của các con sông sẽ làm ô nhiễm môi trường.
- Nước ao, hồ, đập:
Các chỉ số chất lượng nước của các ao hồ đập đều nằm trong giới hạn cho phép theo
QCVN 08:2008/BTNMT, cột B2 (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt).
Với vai trò chủ yếu cung cấp nước cho tưới tiêu, nuôi trồng thuỷ sản, điều hoà vi khí
hậu và phát triển du lịch, chất lượng nước của các ao, hồ hiện nay đáp ứng được các mục
 
11
Niên luận Trần Hữu Định
đích trên. Tuy nhiên, ngoài các vai trò trên các ao, hồ, đập trên địa bàn Thành phố còn là nơi
tiếp nhận nước thải của các khu vực lân cận với các hoạt động đi kèm như công nghiệp,
sinh hoạt của dân cư, … .
b. Nước ngầm:
Nước dưới đất vùng Thành phố Đông Hà tồn tại dưới 2 dạng chính: Trong các lổ
hổng và các tầng chứa nước khe nứt của đất đá chứa nước gọi là các tầng chứa nước lổ
hổng và các tầng chứa nước khe nứt.
Theo tài liệu đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ thì vùng trung tâm Thành
phố và khu vực đất đồi tầng ngầm nghèo. Nguồn nước mạch nông tồn tại ở vùng đất
trũng thuộc khu vực trầm tích phù sa.
Theo kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án về chất lượng nước ngầm trên địa
bàn thành phố kết hợp với quan trắc cho thấy, phần lớn các thông số đặc trưng cho nước
ngầm đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ
thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm và TCVS 2002. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại
cho chất lượng nước ngầm tại thành phố Đông Hà là sự xuất hiện và vượt TCCP của vi
khuẩn Coliform và fecalcoliform:
Chỉ số coliform dao động từ 3 - 120 MPN/100ml và fecalcoliform dao động trong
khoảng 6 - 19 MPN/100ml vượt TCCP theo QCVN 09:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ
thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm (quy định bằng 3 MPN/100ml đối với coliform
và không phát hiện đối với fecalcoliform) và TCVS 2002 (quy định không xuất hiện).
Nguyên nhân là do phần lớn các giếng nước đang sử dụng cho mục đích sinh hoạt được
xây dựng từ lâu và đã bị xuống cấp, các giếng bố trí tại các khu dân cư có mật độ cao,
nền đất ẩm ướt, nước ngầm khu vực chủ yếu là nước ngầm mạch nông nên càng tạo điều
kiện cho sự xâm nhập của các chất ô nhiễm, đặc biệt là vi sinh vật.
2.2.3. Hiện trạng cấp, thoát nước
a. Hiện trạng cấp nước:
Thành phố Đông Hà được cấp nước từ 2 nguồn chính đó là:
- Hệ thống cấp nước từ nhà máy nước sông Vĩnh Phước cách trung tâm Thành phố
5km về phía Tây, công suất 15.000m
3
/ngày.đêm. Do nhà máy đặt ở cao trình có độ cao
42m nên nước tự chảy đến các hộ tiêu thụ không sử dụng bơm cấp II.
- Hệ thống nước ngầm chuyển tải từ nhà máy Gio Linh công suất
15.000m
3
/ngày.đêm. Nước sạch được bơm về thành phố Đông Hà qua trạm bơm tăng áp
xây dựng tại ngã tư Sòng.
Hệ thống cấp nước chính có tổng chiều dài khoảng 77.362m đến hầu hết các khu
vực trên Thành phố bao gồm 05 loại tuyến cấp từ DN100 đến DN500.
Bảng 2.1 - Hiện trạng đường ống cấp nước chính thành phố Đông Hà
TT Loại tuyến Tổng chiều Số Chiều dài Năm xây dựng
 
12
Niên luận Trần Hữu Định
dài (km) tuyến xuống cấp (km)
1 DN100 35,7 31 13,4 1977 – 2003
2 DN150 0,85 02 - 1986
3 DN200 16,1 10 2,2 1985 – 2005
4 DN300 14,2 05 9,5 1977 – 2005
5 DN400 10,5 02 2,2 1977 – 2005
6 DN500 0,5 01 - 2000

Hiện nay đã có khoảng 85% tương đương với khoảng 15.035 hộ được sử dụng
nước máy từ nguồn cung cấp của Công ty TNHH MTV Cấp nước và Xây dựng Quảng
Trị, lượng nuớc cấp bình quân đầu người đạt 100l/người/ngày.đêm. Tuy nhiên, các khu
vực xa trung tâm nguồn nước vẫn còn tình trạng thiếu nước máy nên người dân phải
dùng thêm giếng khoan. Mặt khác, do các tuyến đường ống cấp nước trên địa bàn thành
phố được đầu tư xây dựng từ rất lâu (1977-2005) nên hiện nay đã có nhiều tuyến đường
ống bị xuống cấp nghiêm trọng gây thất thoát từ 25-30% lượng nước cấp trên địa bàn
thành phố.
Một vấn đề rất đáng lo ngại đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt của thành phố là
quá trình khai thác cát sạn, nuôi trồng thuỷ sản và chăn thả gia súc trên sông Vĩnh Phước
về phía thượng lưu khoảng 1km so với trạm bơm cấp nước. Nguồn nước ngầm Gio Linh
bổ sung cho thành phố Đông Hà cũng có dấu hiệu bị tác động do hiện tượng người dân
khoan nước tự phát phục vụ sinh hoạt gia đình trong khu vực mỏ nước ngầm.
b. Hiện trạng thoát nước:
Hệ thống thoát nước của Thành phố có khoảng 59,427km cống, rãnh các loại dùng
để thoát nước chung, đạt tỷ lệ 36,4% so với 163km đường trên địa bàn thành phố. Trong
đó: Thuộc Công ty TNHH Một thành viên Môi trường và Công trình Đô thị Đông Hà
quản lý là 14,327km; Thuộc nguồn vốn của Bộ giao thông đầu tư và quản lý cho tuyến
Quốc lộ 9, Lê Duẩn và đường 9D là 20,5km; Thuộc nguồn vốn ADB đang triển khai xây
dựng giai đoạn 1 khoảng 20km[8], trong thời gian tới Dự án ADB sẽ triển khai giai đoạn
2 trong năm 2010 với khoảng 6,5km cống, rãnh. Ngoài ra hệ thống cống rảnh thoát nước
do các dự án khác đã xây dựng trong các gói thầu đường đô thị khoảng 4,6km.
Hệ thống thoát nước mới chỉ đầu tư vào các trục đường chính, các ngỏ nhỏ vẫn
còn tình trạng thoát nước thải trên mặt đất. Lưu vực chủ yếu thoát nước ra sông Hiếu
(80%), khu vực các phường phía Nam Thành phố thoát ra sông Thạch Hãn, sông Vĩnh
Phước. Lượng nước thải hầu hết không qua xử lý thoát ra các sông, hồ gây ô nhiễm cục
bộ cho các khu dân cư. Nước thải và nước mưa ở nhiều khu vực vẫn cho chảy tràn mặt
đất, từ cao đến thấp và thường xuyên gây ứ đọng nước thải, gây ngập lụt khi có mưa.
Theo điều tra cho thấy, trên địa bàn thành phố Đông Hà có 21 khu vực thường xuyên bị
ngập lụt trong mùa mưa và có rất nhiều điểm ứ đọng nước thải trong mùa hè.
 
13
Niên luận Trần Hữu Định
Như vậy, hệ thống thoát nước hiện nay đã và đang không đáp ứng nhu cầu thoát
nước của Thành phố. Trong tương lai, khi xây dựng thêm các khu đô thị và cụm công
nghiệp mới thì nhu cầu thoát nước càng trở nên cấp bách.
2.3. HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN
2.3.1. Các nguồn phát sinh chất thải rắn
a. Rác thải sinh hoạt:
Rác thải sinh hoạt: chiếm tỷ trọng lớn nhất, được thải ra từ các hộ gia đình, các cơ
quan, trường học các khu du lịch - dịch vụ, chợ, đường phố, bến xe Các chất thải chủ
yếu là rác thực phẩm, giấy loại, các loại phân bùn, cặn bã trong các công trình vệ sinh
Tính đến năm 2008, dân số toàn thành phố Đông Hà là 85.044 người, với 17.689
hộ, do đó lượng rác thải sinh hoạt thải ra mỗi ngày của Thành phố là rất lớn được tính
vào khoảng 51 tấn rác/ngày. Do mật độ dân số giữa các phường trong thành phố Đông Hà
là không đồng đều nên khối lượng và thành phần rác thải ở các phường cũng khác nhau
dẫn đến khó khăn cho công tác lựa chọn và phân vùng, phân tuyến cho công tác thu gom
và xử lý chất thải rắn.
b. Rác thải công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Theo niên giám thống kê Đông Hà năm 2008 thì các cơ sở kinh doanh đang hoạt
động trên địa bàn Thành phố là 554 doanh nghiệp, trong đó rất nhiều các loại hình sản
xuất kinh doanh khác nhau, từ khai khoáng, chế biến đến thương mại dịch vụ, đối với
mỗi loại hình sản xuất sẽ tạo ra một nguồn chất thải tương ứng. Trong số các chất thải từ
sản xuất kinh doanh thì có một số chất thải rắn có tính chất nguy hại khi được thải trực
tiếp vào môi trường.
Nhìn chung chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động công nghiệp ở Thành phố
Đông Hà ước tính khoảng 10 - 20% tổng lượng rác thải sinh hoạt, tức là 10,2 tấn/ngày,
song cho tới nay loại chất thải công nghiệp này vẫn chưa được thu gom và quản lý tốt,
chủ yếu được các chủ doanh nghiệp tái sử dụng hay hợp đồng với công ty môi trường
thu gom trong đó có không ít những chất độc hại vẫn chưa được phân loại và xử lý một
cách khoa học. Mặt khác, đối với những cơ sở có lượng chất thải không nhiều thì
thường được chủ cơ sở đổ chung với rác thải thông thường sau đó hợp đồng đơn vị thu
gom trên địa bàn vận chuyển đi xử lý.
c. Rác thải y tế:
Trên địa bàn Thành phố có 2 bệnh viện với 550 giường bệnh, 01 trung tâm y tế dự
phòng tỉnh, 01 phòng khám sức khoẻ cán bộ và và 9 trạm y tế của 9 phường với 58
giường bệnh trong Thành phố. Ngoài ra, trên địa bàn Thành phố các phòng khám tư
nhân chiếm một lượng rất lớn. Theo điều tra cho thấy, lượng chất thải rắn không nguy
hại khoảng 0,6 - 1,2 tấn/ngày, lượng chất thải rắn nguy hại khoảng 120 - 240kg/ngày.
d. Các nguồn khác:
- Lượng chất thải rắn phát sinh từ thương mại, du lịch chiếm 1% tổng chất thải rắn
sinh hoạt. Tức là 0,51 tấn/ngày.
 
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét