Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo

Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
- Quyết định số 1146/QĐ-BVMT ngày 7/8/2006 của Cục trưởng Cục Bảo vệ Môi
trường về việc thành lập nhóm xây dựng đề cương dự án: “Điều tra, đánh giá mức độ tổn
thương tài nguyên – môi trường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; Dự báo thiên tai, ô
nhiễm môi trường tại các vùng biển; Kiến nghị các giải pháp bảo vệ”.
- Công văn số 1125/BVMT ngày 1/8/2006 của Cục trưởng Cục Bảo vệ Môi trường về
việc giao đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp xây dựng các dự án do Cục Bảo vệ Môi trường
chủ trì thuộc “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý TN-MT biển đến năm 2010, tầm
nhìn đến năm 2020”.
II. MỤC TIÊU
- Xây dựng bộ dữ liệu về các yếu tố gây tổn thương (các tai biến, các yếu tố tự nhiên
và con người cường hóa tai biến, gây tác động bất lợi đối với tài nguyên - môi trường vùng
biển và ven biển); các đối tượng bị tổn thương (tài nguyên sinh vật, tài nguyên vị thế, cảnh
quan địa chất, đất ngập nước, khoáng sản rắn, dầu khí, đất, nước, khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu đô thị, thành phố lớn ven biển,…); khả năng chống chịu, phục hồi của hệ thống tự
nhiên – xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa, các chính sách, luật bảo vệ TN-MT, đê, kè, thông tin
liên lạc,…) phục vụ đánh giá hiện trạng và dự báo mức độ tổn thương tài nguyên – môi
trường huyện Côn Đảo.
- Xây dựng bộ dữ liệu về đánh giá hiện trạng MĐTT và dự báo sơ bộ MĐTT tài
nguyên – môi trường vùng biển và đới ven biển huyện Côn Đảo theo các kịch bản khác
nhau.
III. NHIỆM VỤ
- Xây dựng được phương pháp đánh giá mức độ tổn thương môi trường tự nhiên cho
khu vực ven biển và biển thuộc huyện Côn Đảo và xây dựng quy trình gồm 3 bước: nhận
định; đánh giá; thành lập sơ đồ vùng.
- Nghiên cứu các yếu tố gây tổn thương môi trường tự nhiên huyện Côn Đảo.
- Nghiên cứu mật độ đối tượng bị tổn thương trong khu vực ven huyện Côn Đảo.
- Nghiên cứu khả năng chống chịu, phục hồi của hệ thống tự nhiên xã hội huyện Côn
Đảo trước các yếu tố gây tổn thương.
- Đề xuất biện pháp phát triển bền vững khu vực ven biển huyện Côn Đảo trên cơ sở
đánh giá mức độ tổn thương hệ thống tự nhiên – xã hội.
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
2
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI, NHÂN
VĂN HUYỆN CÔN ĐẢO
I.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN ĐẢO CÔN ĐẢO
I.1.1. Đặc điểm tự nhiên
I.1.1.1. Vị trí địa lý vùng nghiên cứu
Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vùng biển phía Đông Nam
nước ta, có tọa độ 8
o
34’ đến 8
o
49’ vĩ độ Bắc và 106
o
31’ đến 106
o
45’ kinh độ Đông, cách
thành phố Vũng Tàu 185 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km và cách cửa sông Hậu
83 km.
Côn Đảo là một nút giao thông trên biển thuận lợi đối với vùng biển phía Nam – vùng
biển cửa ngõ của Việt Nam với các nước ASEAN. Côn Đảo nằm trên ngã tư của đường
biển quốc tế, điểm cắt của hai tuyến đường hàng hải từ phía Nam lên phía Bắc Á và tuyến
hàng hải đi từ phía Đông sang phía Tây và ngược lại. Côn Đảo cách đường hàng hải quốc
tế 60 km.
Côn Đảo còn nằm trong vành đai kinh tế ven biển phía Tây Nam: Côn Đảo – Năm
Căn – Hà Tiên – Phú Quốc – Singapore, và nằm ở trung tâm khu vực các nước: Singapore,
Philipine, Malaysia, Thái Lan, Lào…
Huyện Côn Đảo bao gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ: Đảo Côn Sơn; Hòn Bảy Cạnh; Hòn
Cau; Hòn Trứng; Hòn Bông Lan; Hòn Trác lớn; Hòn Trác nhỏ; Hòn Tài lớn; Hòn Tài nhỏ;
Hòn Bà; Hòn Vung; Hòn Trọc; Hòn Tre lớn; Hòn Tre nhỏ; và Hòn Anh, Hòn Em (cách đảo
Côn Sơn 35 hải lý về hướng tây).
Như vậy, Côn Đảo có một số lợi thế về vị trí địa lý, nhưng vị trí địa lý chưa đủ để
phát triển, mà cần có cơ chế chính sách ưu tiên cho vùng lãnh thổ đặc biệt này.
Vùng nghiên cứu có giới hạn như sau:
Điểm
Tọa độ
Hệ tọa độ
X Y
A 282.318,81 1.342.823,09
VN 2000, Kinh tuyến
trục 111, Múi 6
0B 316.794,19 1.342.823,09
C 316.794,19 1.295.598,84
D 282.318,81 1.295.598,84

TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
3
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
Hình 1.1: Vị trí địa lý vùng nghiên cứu
I.1.1.2. Địa hình, địa mạo
a. Địa hình:
Côn Đảo có tới 2/3 diện tích là rừng núi, địa hình được chia làm hai vùng rõ rệt là
vùng đồng bằng và vùng núi. Phần lớn diện tích đất huyện Côn Đảo phân bố trên các dạng
địa hình núi dốc mạnh và có tầng đất hữu hiệu mỏng. Trong tổng quỹ đất, diện tích đất có
độ dốc hơn 25
0
chiếm tới hơn 63,6% (toàn bộ tầng mỏng dưới 50cm), đất có độ dốc dưới
15
0
chiếm gần 13,4% và chủ yếu là tầng lớn hơn 50cm, còn lại là đất có độ dốc từ 15-20
0
chứa cả hai tầng đất nhỏ hơn và lớn hơn 50cm. Trong đó:
- Côn Sơn, hòn đảo lớn nhất có quy mô chừng 59 km
2
, gồm hai khối núi lớn phân
cách nhau bằng vùng thấp Cỏ Ống. Khối phía bắc có hai đỉnh cao là núi Ông Cường
(238m) và núi Đầm Dơi (174m). Khối phía nam là những dải núi kéo dài tạo thành hình
cánh cung ôm lấy đồng bằng Trung tâm nhỏ hẹp. Địa hình có 2 dạng phân biệt: Dạng núi
thấp, đỉnh thoải, sườn dốc mạnh (20 – 35
0
); trong đó độ cao của một số đỉnh là: núi Thánh
Giá 577m, núi Sở Rẫy 478m, núi Chúa 515m, núi Nha Bàn 396m và núi Tàu Bể 259m.
Dạng thung lũng đồng bằng xen đồi gò, gồm 2 khu vực, khu Cỏ Ống và khu Trung tâm,
chúng có dạng các dải cồn cát cao xen kẹp các trảng bằng thấp, được cấu trúc từ những sản
phẩm dốc tụ và các trầm tích gió sinh gắn liền với những đợt biển lùi trong kỷ thứ Tư.
- Hòn Bảy Cạnh, cách Côn Sơn khoảng 1,5km về phía đông, là những dải núi thấp
nhấp nhô, sườn dốc mạnh (25 – 35
0
), tạo thành khối đa diện không đều, nơi hẹp nhất là
200m, nơi rộng nhất là 3km, kéo dài khoảng 5,7km, quy mô diện tích đảo khoảng 6,95km
2
.
Đảo có hai đỉnh cao với độ cao là 352m và 310m.
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
4
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
- Hòn Bà nằm kế phía nam Côn Sơn cách qua Họng Đầm khoảng 50m, là một khối
núi có diện tích chừng 5,89km
2
, dài 4 km và rộng 3,8 km, có độ cao đỉnh là 341m, sườn núi
dốc mạnh với độ dốc phổ biến là 25-35
0
.
- Các đảo còn lại, gồm 13 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, diện tích cộng dồn khoảng
3,24 km
2
. Độ cao đỉnh đảo thay đổi từ 50 – 200m, độ dốc phổ biến là 20 – 30
0
.
Xét về khả năng cho phép bố trí sử dụng đất nông nghiệp và xây dựng công trình, căn
cứ vào hình thể bề mặt và độ dốc địa hình, yếu tố địa hình có thể phân chia ra 3 dạng chính
kèm theo các cấp độ dốc như sau.
Bảng 1.1: Thống kê quỹ đất theo cấp độ dốc địa hình
Hạng mục
Diện tích Tỷ lệ
Ghi chú
(ha) (%)
I. Địa hình thung lũng và núi thấp ít dốc 997,05 13,27
Thuận lợi cho bố trí sản xuất
nông nghiệp và xây dựng
- Cấp I (0-3
0
) 613,56 8,16
- Cấp II (3-8
0
) 128,71 1,71
- Cấp III (8-15
0
) 254,78 3,39
II. Địa hình núi thấp, dốc trung bình 581,63 7,74 Ít thuận lợi cho bố trí sản
xuất nông nghiệp và xây
dựng
- Cấp IV (15-20
0
) 581,63 7,74
III. Địa hình núi trung bình, dốc mạnh 5.868,79 78,09
Hầu như không phù hợp cho
bố trí sản xuất nông nghiệp
và xây dựng
- Cấp V (20-25
0
) 1.130,55 15,04
- Cấp VI (25-30
0
) 1.445,79 19,24
- Cấp VII, VIII (>30
0
) 3.292,45 43,81
* Sông suối và mặt nước 67,54 0,90
Tổng cộng 7.515,01 100,00
Nguồn: Báo cáo thuyết minh bản đồ đất huyện Côn Đảo, 1/25.000; Phân viện QH &
TK NN, 2005-2006
Như vậy, xét về địa hình, diện tích đất có khả năng bố trí sản xuất nông nghiệp và xây
dựng không nhiều, chỉ khoảng 1.300-1.400 ha (chiếm 17,5 - 18,5% diện tích tự nhiên).
Địa hình ven bờ
Bờ biển Côn Đảo có địa hình rất phức tạp. Xung quanh Côn Đảo có nhiều dải đá
ngầm, rạn san hô trên địa hình dốc (bãi Sạn, bãi Dương, mũi Đông Bắc, bãi San Hô, hòn
Trạc, phía Tây hòn Bảy Cạnh), nhiều trũng sâu như: phía Đông hòn Tre lớn, phía Nam hòn
Vung, Bắc mũi Đông Bắc.
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
5
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
Từ 0 đến 25m nước:
Địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các trũng sâu và các cồn ngầm, rạn san hô
có nhiều dải đá ngầm. Khu vực phía Tây Bắc đảo Côn Sơn (từ mũi Đông Bắc đến hòn Tre
Lớn) có địa hình dốc mạnh, đường đẳng sâu sít vào nhau, do có nhiều vách đá, nên độ sâu
dốc, đường đẳng sâu 35m nước chạy gần sát bờ (phía Đông hòn Tre Lớn, Bắc mũi Đông
Bắc). Khu vực phía Đông Nam địa hình đơn giản hơn, đường độ sâu 25m nước chạy gần
song song với đảo theo hướng Đông Bắc - Tây Nam cách bờ khoảng 5-10km. Ở phía Đông
của Côn Sơn gặp địa hình bãi cạn ngầm (phía Đông mũi Chim Chim).
Từ 25m nước trở ra
Độ sâu từ 25m nước trở ra độ dốc giảm dần và càng ra xa càng thoải dần và các
đường đẳng sâu cách đều nhau, tuy nhiên phía Tây Bắc độ dốc lớn hơn phía Đông Nam.
Các kiểu bờ:
- Bờ biển mài mòn trên đá bền vững do sóng
Kiểu bờ này quan sát được ở tất cả các khối đá gốc trước Đệ Tứ lộ ra ở bờ biển Côn
Đảo và các đảo bao gồm các đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả và ryolit thuộc hệ tầng Nha
Trang bờ có độ ổn định rất cao.
- Bờ biển xói lở-tích tụ trên trầm tích bở rời do sóng
Đây là kiểu bờ khá phổ biển trên các bờ cấu tạo bởi vật liệu bở rời (cát) trong giai
đoạn hiện nay, kiểu bờ này gặp dọc ven Côn Đảo chúng xen kẹp vào các khối đá gốc. Nhìn
chung địa hình đáy biển Côn Đảo rất phức tạp và chia thành ba khu vực đặc trưng. Khu vực
phía Tây Bắc đảo địa hình rất dốc, đường độ sâu 30-35m nước chạy sát bờ. Khu vực phía
Đông Nam nghiêng thoải dần theo hướng Đông Nam, đường độ sâu 25m nước cách bờ
khoảng 5-10km. Khu vực Đông Bắc đặc trưng bởi địa hình cồn ngầm với đỉnh cồn (15m
nước) nằm ở phía Đông vịnh Đông Bắc và thoải dần theo hướng Đông.
b. Địa mạo:
Diện tích Côn Đảo tuy không lớn nhưng có mặt đầy đủ các kiểu địa hình: núi, đồi, các
bậc thềm bóc mòn và địa hình tích tụ. Có thể chia địa hình Côn Đảo ra thành hai kiểu địa
mạo sau:
- Địa hình bóc mòn: Thuộc kiểu địa hình này là các sườn núi cao, các đồi ở phía Tây
Bắc và Bắc thung lũng được cấu tạo bởi các đá xâm nhập và phun trào.
- Địa hình tích tụ: Các quá trình ngoại sinh đã hình thành một dạng địa hình thung
lũng có bề mặt tương đối phẳng hơi nghiêng thoải dần theo hướng Bắc – Nam.
I.1.3. Địa chất
Theo nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước từ trước và sau năm 1975 có
thể thấy địa chất Côn Đảo có những đặc điểm sau:
a. Đặc điểm địa tầng đá cổ
a.1. Các thành tạo trên đảo:
1. Phức hệ Định Quán (J
3
- K
1
đq):
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
6
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
Các thành tạo của phức hệ Định Quán phân bố chủ yếu ở các khu vực: Côn Sơn.
Thành phần của phức hệ gồm có: gabrodiorit, diorit, diorit thạch anh, tonalit, granodiorit,
trong đó granodiorit chiếm khối lượng lớn nhất. Các đá thường có cấu tạo khối hoặc định
hướng yếu, kiến trúc hạt không đều đôi khi có kiến trúc porphyr yếu.
Các thành tạo của phức hệ thường bị các đá mạch phức hệ Cù Mông, Phan Rang
xuyên cắt và bị phủ dưới các trầm tích Đệ Tứ, đôi khi gặp các đá của phức hệ dưới dạng
các thể tù, kích thước nhỏ hoặc dạng dăm vụn trong các thành tạo đá núi lửa đang xếp vào
hệ tầng Nha Trang. Trong phạm vi các diện lộ thường có các biểu hiện cà nát, dập vỡ có thể
có liên quan với hoạt động đứt gãy kiến tạo.
Kết quả nghiên cứu thạch hóa cho thấy các thành tạo của phức hệ đều thuộc loạt vôi
kiềm tương đối nghèo nhôm và kiềm, gần gũi với kiểu I-granit thuộc trường granit cung núi
lửa.
2. Phức hệ Đèo Cả (Kđc)
Các thành tạo của phức hệ Đèo Cả phân bố khá rộng trên diện tích vùng nghiên cứu.
Thành phần của phức hệ có 1 pha xâm nhập và pha đá mạch. Pha 3: với thành phần chủ yếu
là granit biotit hạt nhỏ, ít granit pophyr, granit pegmatit.
Các thành tạo đá mạch: thường có khối lượng ít với các mạch nhỏ aplit.
Các thành tạo của phức hệ thường có cấu tạo khối, đôi khi gặp cấu tạo kiểu hang hốc,
lỗ hổng, kiến trúc hạt không đều, đôi khi gặp các kiểu kiến trúc: porphyr yếu, granophyr,
aplit, monzonit, pegmatit… Các thành tạo của phức hệ có quan hệ xuyên cắt gây biến đổi
đối với các trầm tích Jura, các phun trào hệ tầng Nha Trang và các xâm nhập phức hệ Định
Quán. Mặt khác, chúng thường bị xuyên cắt bởi các đá mạch của phức hệ Cù Mông, Phan
Rang và bị phủ dưới các đá trầm tích, phun trào bazan tuổi Neogen – Đệ Tứ.
3. Hệ Tầng Nha Trang (Knt)
Các đá của hệ tầng Nha Trang phân bố chủ yếu ở núi Nhọn, Tây Nam núi Tà Kou
Côn Đảo. Trên cơ sở phân tích tướng thạch học – cấu trúc, các thành tạo của hệ tầng Nha
Trang được chia làm 3 tướng: tướng phun trào thực sự, tướng á núi lửa, tướng họng núi lửa.
Tướng phun trào thực sự: chiếm 95% khối lượng của hệ tầng, thành phần bao gồm:
andesit porphyrit, dacit porphyr, ryolit porphyr, felsit và tuf của chúng.
Tướng á núi lửa: chiếm 2 ÷ 3% khối lượng của hệ tầng, thường phát triển dưới dạng
các thể kéo dài hay các tuyến dọc theo các đứt gãy phương á kinh tuyến hoặc Đông Bắc –
Tây Nam. Thành phần thạch học gồm: felsit sọc dải, felsit porphyr, ryolit porphyr, granit
porphyr.
Tướng họng núi lửa: chiếm 2 ÷ 3% khối lượng của hệ tầng, thành phần gồm : cuội
tảng kết tuf, dăm vụn, fesl porphyr, ryolit porphyr. Dọc theo các ranh giới, đá thường có cấu
tạo định hướng. Tướng họng núi lửa tạo thành các địa hình dạng tháp, tháp đôi, tháp ba,
hình chóp ở Tân Lập, Hòn Bà (Côn Đảo).
Bề dày hệ tầng rất thay đổi ở các vùng khác nhau từ 50 đến 500m, thậm chí nhiều nơi
chỉ phân bố các đá của tướng phun trào.
Kết quả nghiên cứu thạch hóa cho thấy các đá của hệ tầng tập trung trong trường
trung gian giữa loạt tholeit và loạt kiềm vôi. Kết quả nghiên cứu nguyên tố vết cho thấy các
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
7
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
đá của hệ tầng chủ yếu rơi vào trường granit hệ cung (cung đảo hoặc cung rìa lục địa), ít
hơn rơi vào trường granit va chạm đồng kiến tạo.
Theo nhóm các tác giả của đề tài Kiến tạo – Sinh khoáng Nam Việt Nam các thành
tạo của hệ tầng Nhan Trang là một phần của cung núi lửa Pluton rìa lục địa tích cực kiểu
Đông Á cổ Nam Việt Nam.
4. Phức hệ Cù Mông (K
2
- Pcm)
Các thành tạo của phức hệ Cù Mông gồm các thể đá mạch sẫm màu phát triển tập
trung thành đới tại sườn núi. Thành phần của phức hệ gồm: diabas, gabrodiabas,
gabrodiorit, đá thường có cấu tạo khối, đôi khi có cấu tạo định hướng, kiến trúc tàn dư
diabas hoặc hạt nửa tự hình. Các dyke, mạch thường có quy mô nhỏ, bề rộng 1 ÷ 3m đến 20
÷ 30m kéo dài theo các phương á kinh tuyến hoặc á vĩ tuyến (Hòn Bà). Chúng có quan hệ
xuyên cắt rõ ràng trầm tích phun trào của hệ tầng Nha Trang.
Kết quả nghiên cứu thạch hóa và nguyên tố vết cho thấy các thành tạo của hai phức hệ
Cù Mông thuộc loại toleit. Đây là các thành tạo được hình thành trong bối cảnh của hoạt
động tách giãn nội mảng.
a.2. Các thành tạo dưới biển
Thành tạo trước Đệ tứ đáy biển chỉ có một phân vị địa tầng là hệ tầng Nha Trang. Các
đá phun trào thuộc hệ tầng Nha Trang được phát hiện trên băng ĐCNĐPGC xung quanh
khu vực Côn Đảo ở độ sâu 20 - 25m nước, chúng bị phủ bởi các trầm tích Đệ tứ rất mỏng.
b. Đặc điểm địa chất đệ tứ
b.1. Các thành tạo Đệ tứ trên đảo:
+ Thành hệ trầm tích lục nguyên bở rời nguồn gốc biển, gió và sông biển.
Trong vùng nghiên cứu, các thành tạo trầm tích bở rời nguồn gốc biển, gió và sông
biển tuổi Đệ Tứ phân bố thành dải hẹp ven biển theo phương Đông Bắc – Tây Nam. Thuộc
kiểu thành hệ này bao gồm các thành tạo sau: trầm tích biển tướng bar cát tuổi Pleistocen
giữa – muộn hệ tầng Phan Thiết; trầm tích biển tướng vũng vịnh tuổi Pleistocen giữa –
muộn và Pleistocen muộn; trầm tích sông – biển tuổi Holocen sớm – giữa; trầm tích biển;
trầm tích gió, trầm tích biển – đầm lầy tuổi Holocen giữa; trầm tích biển, sông- biển, trầm
tích gió, trầm tích biển- đầm lầy tuổi Holocen giữa – muộn và tuổi Holocen muộn.
+ Các thành tạo của hệ tầng Phan Thiết ở khu vực Côn Đảo gặp dưới các dạng chỏm
nhỏ. Thành phần chủ yếu của hệ tầng là cát thạch anh hạt nhỏ đến vừa xen cát pha bột. Các
trầm tích này có màu từ xám, trắng đến vàng, vàng đỏ và đỏ. Trầm tích có cấu tạo phân lớp
ngang, sóng xiên. Các chỉ tiêu và đặc điểm về thành phần độ hạt khá ổn định trong khi màu
của trầm tích lại có xu hướng đậm dần từ dưới lên trên. Bề dày của hệ tầng từ 10 đến 80m.
+ Các trầm tích biển tướng vũng vịnh và ven bờ tuổi Pleistocen giữa – muộn và
Pleistocen muộn phân bố khá rộng dưới dạng các đồng bằng cao 35 ÷ 60m. Thành phần của
các thành tạo này bao gồm chủ yếu là cát, sạn, cát – bột, ít sét bở rời với bề dày khoảng 9 ÷
20m. Nhìn chung quy luật chuyển tướng của các thành tạo này là gần bờ và ở phần cao thì
trầm tích chủ yếu là hạt thô (cát, sạn), xa bờ và phần trũng thì trầm tích chủ yếu là hạt mịn
(cát- bột lẫn sét).
b.2. Các thành tạo Đệ tứ dưới biển:
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
8
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
Theo kết quả nghiên cứu địa chất của đề án: “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng
sản rắn đới biển nông ven bờ (0 - 30m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500.000” do Trung tâm Địa
chất Khoáng sản Biển (nay là Liên đoàn Địa chất Biển) thực hiện từ năm 1991 đến 2000 thì
qua khảo sát thực địa, phân tích giải đoán băng địa chấn nông độ phân giải cao cho thấy
trầm tích Đệ tứ một số phân vị địa tầng chỉ gặp trong băng địa chấn nông độ phân giải cao.
Tại đáy biển khu vực Côn Đảo chỉ lộ ra 3 phân vị địa tầng sau:
- Thống Pleistocen thượng phần trên, trầm tích biển (mQ
1

3-2
)
Các thành tạo trầm tích biển tuổi Pleistocen thượng, phần trên bắt gặp trên đáy biển ở
độ sâu lớn hơn 25m nước vùng biển Tây Bắc Côn Đảo, và Nam Tây Nam của đảo Côn
Đảo.
Trầm tích từ dưới lên gồm: bột sét màu xám xanh, loang lổ nâu vàng chứa kết vón
limonit, sét bột xen cát xám xanh chứa Foram: Amphistegina sp Operculina sp Operculina
so Diatomea, Nanoplankton
Chiều dày chung của trầm tích thay đổi từ 10 - 60m.
- Thống Holocen, phụ thống hạ - trung, trầm tích biển (mQ
2
1- 2
)
Các thành tạo trầm tích biển tuổi Holocen sớm giữa phân bố phổ biến trên đáy biển
Côn Đảo ở độ sâu 0 - 30m nước. Thành phần trầm tích đặc trưng là cát, cát sạn, cát bùn, cát
sạn bùn màu xám đến xám xanh giàu vụn sinh vật, san hô.
Chiều dày trầm tích thay đổi từ 2 - 4m.
- Thống Holocen, Phụ thống thượng, trầm tích biển (mQ
2
3
)
Các thành tạo trầm tích nguồn gốc biển tuổi Holocen thượng, phát triển trên các khu
vực bãi triều (0 - 3m nước) ở ven bờ vịnh Côn Sơn, vịnh Đông Bắc. Thành phần vật liệu
trầm tích chủ yếu là cát màu xám sáng giàu vụn sinh vật, san hô.
Chiều dày tập trầm tích thay đổi từ 1- 15m.
c. Cấu trúc
- Đới cấu trúc
Trên bình đồ cấu trúc - kiến tạo chung của khu vực, vùng này tiếp giáp với các đơn vị
cấu trúc lớn sau: vùng nghiên cứu thuộc đới nâng Côn Sơn. Phía ngoài đới nâng Côn Sơn
về phía Đông Nam - Nam là trũng Nam Côn Sơn.
- Phía Đông, Đông Bắc tiếp giáp với bồn Cửu Long. Đây là bồn trũng Kainozoi sớm
phát sinh và phát triển trên móng không đồng nhất, có cấu trúc kéo dài theo phương Đông
Bắc - Tây Nam.
- Phần còn lại nằm về phía Tây Bắc đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná kéo vào trong đất liền
thuộc đới Cần Thơ.
Địa lũy Côn Sơn có ranh giới Tây Bắc là đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná (đứt gãy F1) và
phía Đông Bắc bị ngăn cách với bồn (rift) Kainozoi sớm Cửu Long là đứt gãy Sông Hậu
(F5). Trong đới cấu trúc này, các đá phun trào - xâm nhập vôi - kiềm chiếm ưu thế ở phần
móng, được nâng lên mạnh mẽ vào Kainozoi sớm tạo thành các đảo ở ngoài khơi (thuộc
quần đảo Côn Sơn). Chiều dày trầm tích Đệ tứ mỏng hơn rất nhiều so với các cấu trúc lân
cận, có nơi chỉ dày 10 - 20m, nơi dày nhất là khoảng 170 - 180m.
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
9
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
-Tầng cấu trúc
Theo tài liệu hiện có, đáy biển có thể chia làm 3 tầng cấu trúc chính: Tầng cấu trúc
dưới, giữa và trên.
+ Tầng cấu trúc dưới
Tầng cấu trúc dưới bao gồm các thành tạo magma phun trào - xâm nhập vôi - kiềm
tuổi Jura muộn - Kreta ở độ sâu > 2.100m, mang đặc điểm hoạt động của rìa lục địa tích
cực kiểu Đông Á. Một phần diện tích nhỏ nằm ở Đông Nam vùng nghiên cứu được nâng
lên mạnh mẽ và vững bền vào Kainozoi sớm, tạo thành quần đảo Côn Sơn.
+ Tầng cấu trúc giữa
Tham gia vào tầng cấu trúc giữa bao gồm các đá trầm tích gắn kết tương đối tốt được
thành tạo trong Pleogen và Neogen. Tầng trầm tích này đặc biệt dày lên ở khu vực trung
tâm các bồn trũng Cửu Long, trung tâm bồn trũng Nam Côn Sơn.
+ Tầng cấu trúc trên
Tham gia vào tầng cấu trúc trên bao gồm toàn bộ các trầm tích gắn kết yếu hoặc bở
rời được thành tạo trong giai đoạn Đệ tứ.
- Đứt gãy
Trong vùng phát triển 3 hệ thống đứt gãy là: Đông Bắc - Tây Nam, Tây Bắc - Đông
Nam và á kinh tuyến. Nhưng rõ nét và mạnh mẽ nhất, đóng vai trò quan trọng hơn cả là hai
hệ thống chính Đông Bắc - Tây Nam và Tây Bắc - Đông Nam.
+ Hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam
Gồm các đứt gãy theo phương Tây Bắc - Đông Nam là rõ nét nhất, đóng vai trò
khống chế khung cấu trúc chung của vùng.
+ Hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam.
Là hệ thống đứt gãy đóng vai trò phân chia các đơn vị cấu trúc lớn trong vùng. Hệ
thống đứt gãy này trên bình đồ cấu trúc kiến tạo của Khain.V.E (1984), Gatinski.In.G
(1986), Hutchinson.Ch(1989 - 1992) và Nguyễn Xuân Bao (2000), được thể hiện như ranh
giới phân chia vi mảng Đông Dương và Sunda vào Kainozoi, kéo dài từ Bắc Rănggun qua
Ph.Nompenh dọc sông Hậu ra biển Đông đến Đông Bắc Côn Đảo với chiều dài trên
1.000km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
I.1.4. Khí hậu
Khí hậu Côn Đảo là khí hậu đại dương, nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng
26,9
0
C. Côn Đảo có 2 mùa rõ rệt, mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 với trung bình là
130 ngày mưa, tổng lượng mưa trong mùa đạt khoảng 1.799mm. Mùa khô bắt đầu từ tháng
12 và kết thúc vào tháng 5 năm sau, tổng lượng mưa trong mùa chỉ đạt vài trăm mm. Lượng
mưa trung bình trong các tháng dao động từ 30 - 50mm. Lượng mưa thấp hoặc không mưa
thường xảy ra vào tháng 2 - 4.
Số liệu quan trắc của trạm Côn Đảo và các trạm ở đất liền như Vũng Tàu, Tân Sơn
Nhất (Tp. Hồ Chí Minh) và Cần Thơ được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu khí hậu huyện Côn Đảo và các vùng phụ cận
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
10
Báo cáo Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường tại huyện Côn Đảo
Yếu tố quan trắc Trạm quan trắc
Côn Đảo Vũng Tàu
Tân Sơn
Nhất
Cần Thơ
(Bà Rịa-
VT)
(Bà Rịa- VT) (Tp. HCM)
(Tp.Cần
Thơ)
1. Nhiệt độ (
o
C)
- Trung bình năm 27,1 26,3 27,2 26,8
- Tối cao trung bình năm 29,6 29,2 32,4 31,8
- Tối thấp trung bình năm 24,8 23,6 23,7 22,6
- Tối thấp tuyệt đối 18,4 15,0 13,8 14,8
2. Tổng tích ôn trung bình năm (
o
C/năm) 9.738,0 9.599,5 9.928,0 9.782,0
3. Số giờ nắng trung bình năm (giờ/năm) 2.205 2.610 2.478 2.582
4. Mưa
- Trung bình năm (mm/năm) 2.072,0 1.352,2 1.942,5 1.635
- Năm cao nhất (mm/năm)
[năm xuất hiện]
2.728
[1908]
1.877
[1917]
2.718
[1908]
2.304
[1966]
- Năm thấp nhất (mm/năm)
[năm xuất hiện]
1.340
[1968]
704
[1907]
1.553
[1958]
1.115
[1965]
- Số ngày mưa (ngày/năm) 152,0 116,0 163,0 125,0
5. Độ ẩm tương đối trung bình (%) 80,5 85,2 79,5 83,0
6. Lượng bốc hơi trung bình (mm/năm) 1.172,0 1.202,8 1.196,0 678,9
7. Gió
- Hướng thịnh hành [mùa mưa/khô] T/ĐN-Đ TN/Đ-ĐB TN/ĐN TN/ĐB-ĐN
- Tốc độ (m/s) 4,0 3,7 2,7 3,5
- Số cơn bão 0 0 0 0
- Số ngày có gió khô nóng (ngày) 0 0 0 0
8. Sương (ngày)
- Số ngày có sương mù 0 0 8-10 0
- Số ngày có sương muối 0 0 0 0
TT. KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE) – CTY TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét