Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm
hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa hiện nay. Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử
dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo một
mục đích nhất định.
Với những hình thái xã hội khác nhau với các quan hệ sản xuất khác nhau
thì bản chất của phạm trù hiệu quả và các yếu tố hợp thành phạm trù này cũng vận
động theo những khuynh hớng khác nhau.
Trong xã hội t bản thì gia cấp t bản nắm quyền sở hữu về t liệu sản xuất, do
vậy mọi hiệu quả, quyền lợi thu đợc từ sản xuất kinh doanh, và các quyền lợi khác
đều thuộc về các nhà t bản, mọi hiệu quả, quyền lợi và phúc lợi dành cho ngời lao
động đều là rất nhỏ so với nhà t bản. Điều này có thể giải thích đợc việc phấn đấu
để có hiệu quả trong kinh doanh của nhà t bản để đem về nhiều lợi nhuận, quyền
lợi cho nhà t bản chứ không phải đem nhiều lợi ích về cho ngời lao động và toàn
xã hội. Việc tăng chất lợng sản phẩm hàng hoá của nhà t bản không phải là yếu tố
phục vụ cho nhu cầu của toàn xã hội mà là mục đích thu hút đợc nhiều khách hàng
hơn, từ đó có nhiều cơ hội thu hút lợi nhuận cho mình hơn thông qua việc bán đợc
nhiều hàng hoá hơn. ở đây nhà t bản không cần quan tâm đến các hiệu quả xã hội
nh việc làm cho ngời lao động, tình trạng môi trờng
Trong XHCN, phạm trù hiệu quả vấn tồn tại nhng nó đợc phát triển lên là
hiệu quả của toàn xã hội. Nói về mục đích của nền sản xuất XHCN cũng khác so
với mục đích của nền sản xuất TBCN. Mục đích của nền sản xuất XHCN là ngày
càng đáp ứng đầy đủ, đợc tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên
trong xã hội. Một doanh nghiệp không thể đa vào sử dụng một công nghệ mới với
năng suất cao mà để hàng loạt công nhân trở nên thất nghiệp, một nhà máy không
thể chỉ quan tâm kết quả sản xuất mà không quan tâm đến chất thải ô nhiễm môi
trờng nh vậy đó là một bớc phát triển của phạm trù hiệu quả từ xã hội t bản lên
CNXH.
5
Hiệu quả kinh tế có rất nhiều cách hiểu và có rất nhiều định nghĩa khác
nhau tuỳ thuộc vào mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp. Theo nghĩa rộng,
hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt đợc từ các hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cụ thể, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp để đạt đợc kết quả cao nhất
trong hoạt động kinh doanh với chi phí ít nhất.
Quan điểm thứ nhất : Nhà kinh tế học ngời Anh Adam Smith cho rằng
hiệu quả là kết quả đạt đợc trong hoạt động kinh tế là doanh thu tiêu thụ hàng hoá.
Nhà kinh tế học ngời Pháp Ogiephri cũng quan niệm nh vậy, ở đây hiệu quả đợc
đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng
quan điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí
mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất, nếu cùng một mức kết quả với hai mức chi
phí khác nhau thì quan điểm này chúng có cùng hiệu quả.
Quan điểm thứ hai : Hiệu quả kinh tế là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này đã biểu hiện đợc quan
hệ so sánh tơng đối giữa kết quả đạt đợc và chi phí tiêu hao. Sản xuất kinh doanh là
một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố
sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất thay đổi. ở
quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đợc xét tới phần kết quả bổ sung và
chi phí bổ sung, nh vậy là không phù hợp với tính biện chứng thống nhất của hiện
tợng theo quan điểm triết học của Mác -Lênin "Sự vật và hiện tợng đều có mối
quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách
riêng rẽ ". Nh vậy, quan điểm này cũng cha hợp lý, kết quả sản xuất tăng thêm
không chỉ do tăng thêm chi phí mà còn do việc mở rộng sử dụng các nguồn dự trữ.
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế đợc đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt
đợc và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh
6
đợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó đã gắn đợc hiệu quả với toàn
bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ảnh trình độ sử dụng các chi phí.
Tuy nhiên, nó vẫn cha biểu hiện đợc tơng quan về lợng và chất giữa kết quả và
chi phí, cha phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này. Để phản ánh đợc
tình hình sử dụng các nguồn nhân lực chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố
hoặc kết quả đạt đợc, hoặc chi phí bỏ ra, nhng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
-Lênin thì các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn biến đổi, vận động.
Động lực chủ yếu quyết định sự biến đổi và vận động nằm ngay trong lòng sự vật,
hiện tợng. Vì vậy, khi xem xét hiệu quả của một quá trình hoạt động kinh tế nào
đó, phải xem xét trong trạng thái động.
Quan điểm 4: Do nhà kinh tế học Mác- Lênin cho rằng: Hiệu quả kinh tế
là mức độ thoả mãn yêu cầu của qui luật kinh tế cơ bản XHCN cho rằng quĩ tiêu
dùng với tính cách là chi tiêu đại diện cho mức sống của mọi ngời trong doanh
nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này có u điểm là đã
bám sát mục tiêu của nền sản xuất XHCN là không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân. Song khó khăn ở đây là phơng tiện đo lờng thể
hiện t tởng định hớng đó. Khái niệm quĩ tiêu dùng đợc đề cập ở đây là một bộ phận
của thu nhập quốc dân, bộ phận còn lại là tích luỹ. Chọn quĩ tiêu dùng để phản ánh
hiệu quả cha thấy rõ đầy đủ vai trò của quĩ tích luỹ nhằm phát triển sản xuất để có
quĩ tiêu dùng nhiều hơn trong tơng lai không thể đa quĩ tiêu dùng lên tối đa mà laị
không tuân theo một tỉ lệ thích hợp giữa quí tích luỹ và quĩ tiêu dùng, phải kết hợp
một cách tốt nhất giữa lợi ích trớc mắt và lợi ích lâu dài.
Từ các quan điểm trên ta thấy rằng để xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh
và chính xác về hiệu quả kinh tế trớc hết cần phải xem xét tới tính biện chứng của
các yếu tố kết quả đạt đợc và các chi phí nguồn lực bỏ ra, sau đó là mức độ phản
ánh mối liên hệ giữa các hiện tợng của quan niệm đợc xây dựng. Để làm sáng tỏ
bản chất về hiệu quả của kinh tế hoàn chỉnh theo định hớng trên chúng ta phải xuất
phát từ những luận điểm của triết học Mác - Lê nin.
7
Bất kỳ một hoạt động nào của con ngời, cầu một tổ chức, của toàn xã hội
nói chung đều đi đến một mục tiêu nhất định. Mọi hoạt động đều hớng tới mục
tiêu nhng không phải lúc nào cũng đạt đợc mà kết quả có thể là thấp hơn hoặc cao
hơn, tuỳ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan tác động vào. Từ đó ta thấy
rằng hiệu quả không phải tự nhiên mà có đợc, nó không phải là tồn tại khách quan
ngoài ý muốn của con ngời mà nó phụ thuộc vào con ngời có chấp nhận nó là có
ích hay không và họ sử dụng nó nh thế nào.
Hiệu quả luôn đi liền với mọi hoạt động của con ngời, hiệu quả phụ thuộc
vào hoạt động của con ngời, hiệu quả không phải là kết quả cuối cùng.Để so sánh
hiệu quả của các hoạt động với nhau phải so sánh các yếu tố đầu vào để tạo ra kết
quả cuối cùng, từ đó có thể nhận xét, một cách chính xác hiệu quả hoạt động kinh
doanh.
Bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động xã hội, đợc
xác định bằng cách so sánh giữa chất lợng kết quả hữu ích cuối cùng thu đợc với l-
ợng hao phí lao động xã hội. Do vậy thớc đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao
động xã hội ( lao động sống và lao động vật hoá ) và tiêu chuẩn của hiệu quả là
việc tối đa hóa kết quả và tối thiểu hoá chi phí dựa trên những điều kiện sẵn có.
1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế.
Có nhiều cách phân loại hiệu quả khác nhau tùy vào từng chỉ tiêu khác nhau:
Hiệu quả kinh tế tuyệt đối và hiệu quả kinh tế tơng đối.
Hiệu quả kinh tế tổng hợp và hiệu quả kinh tế bộ phận.
Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế ngành.
Hiệu quả kinh tế của một vùng và hiệu quả kinh tế của nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh tế tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội .
8
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này ta chỉ quan tâm đến cách phân
loại cuối cùng:Hiệu quả có thể đợc chia thành hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội
.
Hiệu quả về mặt tài chính là những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt đ-
ợc sau khi đã bù đắp các khoản hao phí lao động xã hội.
Hiệu quả về mặt xã hội là những lợi ích mà doanh nghiệp tạo ra, đem lại
cho xã hội, bản thân doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tất cả mọi thành phần kinh tế khi tham gia vào nền sản xuất đều phải quan
tâm đến cả hai tiêu thức trên, tuỳ thuộc vào vào từng thành phần kinh tế mà tỷ
trọng hai tiêu thức này khác nhau. Với các doanh nghiệp t nhân, các công ty
TNHH, các công ty nớc ngoài thì tiêu thức hiệu quả kinh tế đợc quan tâm hơn so
với tiêu thức hiệu quả xã hội. Với các doanh nghiệp nhà nớc, các doanh nghiệp có
sự chỉ đạo góp vốn liên doanh của nhà nứơc thì tiêu thức hiệu quả xã hội đợc đề
cao hơn. Điều này phù hợp với các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không ngừng
ngày càng nâng cao nhu cầu vật chất, tinh thần của toàn xã hội, không có sự mất
bình đẳng, phân biệt giữa các thành phần kinh tế, giữa nội bộ nhân dân trong toàn
xã hội.
Hiệu quả kinh tế đợc xác định thông qua việc so sánh giữa các chỉ tiêu
phản ánh kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó.
Có thể diễn đạt khái niệm hiệu quả kinh tế nh sau :
Biểu hiện bằng số tơng đối.
Hiệu quả kinh tế : K
H =
F
9
Trong đó : H là hiệu quả kinh tế
K là kết quả của hoạt động kinh doanh
F là chi phí cần thiết để thực hiện hoạt động kinh doanh
Đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu :
K là tổng doanh thu bán hàng hoá, là tổng lợi nhuận, là tổng giá trị gia tăng
sau một thơng vụ xuất nhập khẩu hoặc một khoảng thời gian nhất định nh tháng,
quí, năm.
F là toàn bộ chi phí có đợc hàng hoá bán cho ngời mua.
Bao gồm : Giá mua vào sản phẩm + chi phí cần thiết khác nh chi phí hoàn
thiện chế biến sản phẩm, chi phí hành chính khác,
Biểu hiện bằng số tuyệt đối H=K-F
Qua hai cách trên ta có thể tính toán đợc hiệu quả kinh tế. Đối với hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu do đặc điểm của tiền tệ thanh toán là đồng tiền
mạnh, chứ không phải là đồng tiền bản tệ do đó để tính đúng đợc hiệu quả kinh tế
ta cần phải qui đổi về cùng một đơn vị tiền tệ, lấy tỷ giá hối đoái tại thời điểm thực
hiện hợp đồng và tỷ giá hối đoái khi tính hiệu quả, nếu có chênh lệch phải cộng
hoặc trừ vào kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Một khó khăn cho việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu nói riêng là để tạo ra đợc một kết quả chúng ta phải cần nhiều chi phí, có
những chi phí có thể xác định đợc nhng cũng có những chi phí không thể xác định
đợc (chi phí vô hình ) nh bằng phát minh sáng chế, uy tín kinh doanh của công
ty Điều này chứng tỏ việc xác định chi phí cha hẳn lúc nào cũng chính xác. Mặt
khác một số chi phí bỏ ra không phải chỉ tạo ra một kết quả mà có khi có nhiều kết
quả khác nhau.
10
Tuy nhiên, nếu sử dụng thống nhất đơn vị tính thì kết quả vẫn cho biết tình
hình khái quát hoạt động của công ty trong thừi gian tới.
Tính toán , xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là biện
pháp so sánh giữa chi phí và kết quả. Chi phí và kết quả có quan hệ biện chứng lẫn
nhau, phụ thuộc lẫn nhau đây là mối quan hệ "nhân quả ". Muốn có kết quả thì
phải có chi phí, nếu không có nhân tố khách quan tác động thì sẽ thu đợc một kết
quả có thể tính toán đợc đó là hiệu quả tài chính.
Để hiệu quả kinh tế là một số dơng, chi phí bỏ ra phải nhỏ hơn kết quả thu
đợc. Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là một hình thức kinh doanh
quốc tế, phạm vi buôn bán vợc ra khỏi biên giới quốc gia do đó nó chứa đựng rất
nhiều rủi ro, do đó để đạt đợc hiệu quả kinh tế trong xuất nhập khẩu là rất khó
khăn
Đối với các doanh nghiệp nhà nớc, nói đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
là phải nói đến hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội. Dựa vào những mục tiêu,
những chiến lợc của nghành đó, của đất nớc trong thời kỳ đó, mặc dù có ít, không
có hoặc thua thiệt về hiệu quả kinh tế nhng bù lại là hiệu quả xã hội đạt đợc thì
vẫn đợc coi là có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.
Nh vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng đợc xem xét trên tổng thể hai mặt kinh tế và
xã hội và đợc tính theo công thức:
H
q
= H
kt
+ Hxh
Trong đó : H
q
:là hiệu quả hoạt động kinh doanh
H
kt
:là hiệu quả kinh tế
H
xh
:là hiệu quả xã hội
11
Đây chính là công thức cuối cùng để xác định đợc, so sánh đợc hiệu quả
giữa các doanh nghiệp kinh doanh và giữa các thời kỳ khác nhau. Nó phản ánh lợi
ích cuối cùng đem lại, phục vụ cho toàn xã hội.
Việc xác định hiệu quả kinh tế một cách chính xác đòi hỏi tốn nhiều công
sức thống kê kết quả của toàn bộ nền kinh tế liên quan đến hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu. Thông thờng ngời ta có thể tính toán đợc hiệu quả xã hội trong
nội bộ doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh của hoạt động xuất nhập khẩu đợc đánh
giá thông qua việc thực hiện các chủ trơng chính sách của nhà nớc trong thời kỳ
nhất định.
Kết quả của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đợc xác định bằng các
chỉ tiêu thể hiện mục tiêu kinh doanh cần đạt đợc nh doanh số bán ra, lợi nhuận
thu về Các chỉ tiêu chi phí đợc xác định bằng các chỉ tiêu khác nhau tuỳ thuộc
vào mục đích, yêu cầu của đối tợng phân tích bao gồm chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ
tiêu đặc thù.
Để đánh giá đợc hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cần phải xem xét một
cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là trong giai đoạn hiện nay với đờng lối
chính sách mở cửa của nớc ta, tạo đà cho nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây
dựng đất nớc, hoạt động nhập khẩu thực sự là vấn đề cần thiết, đáng quan tâm vì
đây là điều kiện cần, điều kiện số một, để thực hiện nhiệm vụ, chủ trơng xây dựng
đất nớc mà Đảng đã đề ra.
Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt đợc trong từng giai đoạn,
từng thời kì không đợc làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kì, các kì
kinh doanh tiếp theo. Tức là doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích lâu dài, không
vì lợi ích trớc mắt mà làm tổn hại đến lợi ích lâu dài. Trong thực tế điều này rất dễ
xảy ra vì con ngời thờng khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và cả nguồn lao
động không có kế hoạch. Không thể coi việc giảm chi tăng thu là có hiệu quả đợc
khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc nh: giảm chi phí đào tạo nhân lực, đổi
12
mới kỹ thuật cũng không thể coi là có hiệu quả lâu dài đợc nếu nh xoá bỏ hợp
đồng với một bạn hàng truyền thống, lâu dài, tín nhiệm để chạy theo một khách
hàng khác mang lại nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn nhng không ổn định,
chắc chắn.
Về mặt không gian, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu đợc coi là có hiệu quả
khi nó không làm ảnh hởng đến các hoạt động kinh doanh khác trong nội bộ
ngành và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả của hoạt động nhập khẩu
phải phù hợp với chủ trơng của đất nớc, với kim chỉ nam XHCN mà Đảng ta đã
lựa trọn.
Tóm lại, đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả mà doanh nghiệp
đạt đợc phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội. Đạt đợc hiệu quả cao là cha đủ
mà còn phải mang lại hiệu quả cho xã hội về cả hai mặt kinh tế và xã hội. Trong
điều kiện kinh tế hiện nay của nớc ta, hiệu quả của hoạt động nhập khẩu là vô cùng
quan trọng đối với nền kinh tế đất nớc, nhập khẩu tạo đà quan trọng cho tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với điều kiện công nghệ máy móc trong nớc nghèo
nàn, lạc hậu. Đánh giá, xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
đích nhận thức đúng đắn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp để thấy đợc trình
độ, năng lực và chất lợng kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó tìm ra những tồn
tại, những nguyên nhân ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh để đề ra phơng hớng,
biện pháp khắc phục nhằm ngày càng đa ra nhiều phơng án kinh doanh có hiệu
quả nhất cho doanh nghiệp.
1.4. S ự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh .
Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh, không chỉ là mối quan tâm
hàng đầu của bất kì xã hội nào mà còn là mối quan tâm của tất cả ngời nào khi làm
một công việc nào đó.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu nói chung và bối cảnh nền kinh tế nớc
ta nói riêng hiện nay, không chỉ tồn tại một doanh nghiệp làm ăn không có hiệu
13
quả. Đây là vấn đề thể hiện về mặt chất lợng của toàn bộ công tác quản lý và đảm
bảo tạo ra kết quả cao nhất của hoạt động kinh doanh. Tất cả những công cuộc đổi
mới, cải tiến về nội dung, phơng pháp ứng dụng trong hoạt động quản lý, kinh
doanh chỉ thực sự mang lại ý nghĩa khi và chỉ khi làm tăng đợc kết quả kinh doanh
mà qua đó làm tăng đợc hiêụ quả kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nói chung, hiệu quả không
những là thớc đo chất lợng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh là vấn đề
sống còn của doanh nghiệp. Hàng hoá nhập khẩu thờng là có giá trị lớn, đối tợng
quản lý vợt ra ngoài biên giới quốc gia, do vậy chỉ cần một sai sót nhỏ trong hoạt
động nhập khẩu có thể ảnh hởng đến sự sống còn của doanh nghiệp, đến đất nớc.
Hiệu quả còn có vai trò quan trọng trong việc mở mang, phát triển nền
kinh tế, tái đầu t mua máy móc thiết bị, phơng tiện kinh doanh, áp dụng các tiến bộ
kĩ thuật, qui trình công nghệ mới
Đối với nền kinh tế quốc dân, đạt đợc hiệu quả cao trong kinh doanh nhập khẩu
chính là tiết kiệm các nguồn lực, nguồn nguyên nhiên vật liệu cho xã hội. Tạo điều
kiện cho nền kinh tế trong nớc nắm bắt đợc những thành tựu khoa học kĩ thuật tiên
tiến trên thế giới, từ đó nâng cao đời sông nhân dân và sự phồn vinh cho đất nớc.
Đối với bản thân doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế xem xét về mặt tuyệt đối chính
là lợi nhuận thu đợc, nó là cơ sở của tái sản xuất mở rộng, làm tăng tích luỹ cho
nhà nớc, tăng uy tín và thế lực cho doanh nghiệp trên thơng trờng Quốc tế.
Đối với cá nhân ngời lao động thì hiệu quả lao động (lơng và phúc lợi xã hội )
là động cơ thúc đẩy, kích thích ngời lao động, làm cho ngời lao động hăng hái, yên
tâm làm việc và quan tâm ngày càng nhiều hơn đến hiệu quả, trách nhiệm của
mình đối với công ty và có thể ngày càng đóng góp những công sức đáng kể cho
sự phát triển của công ty.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét