Giáo trình Chính trị
3. Phương pháp và ý nghĩa học tập
3.1. Phương pháp
Chính trị là môn học tích hợp các nội dung: triết học, chủ nghĩa xã hội
khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta.
Song đây là một thể thống nhất bắt nguồn từ cơ sở lý luận của Chủ Nghĩa
Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh để Đảng ta có những đường lối đúng đắn
về phát triển kinh tế trong thời đại ngày nay. Chính vì vậy khi học tập môn
học này người học cần:
- Nắm kiến thức một cách có hệ thống.
- Hiểu các mối quan hệ giữa yếu tố khách quan và chủ quan.
- Phải có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Để học tốt môn chính trị, ngoài việc tham khảo giáo trình môn chính trị
của Trường (đọc bài trước khi đến lớp), học sinh cần nghiên cứu thêm sách
báo nói về chủ nghĩa xã hội về đường lối phát triển kinh tế xã hội của Việt
Nam hoặc tham khảo các văn kiện đại hội đảng trong thời kỳ đổi mới. Đặc
biệt là tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua tài liệu, phim ảnh để
từ đó học tập làm theo gương của Bác Hồ, trước mắt là vận dụng để học tốt
môn chính trị.
Tham gia các sinh hoạt ngoại khóa như tham quan các bảo tàng Hồ Chí
Minh, Bến Nhà rồng, bảo tàng Công nhân Công đoàn thành phố… hoặc tham
gia các cuộc thi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
3.2. Ý nghĩa học tập
Nghiên cứu học tập tốt môn chính trị sẽ xây dựng được tình cảm và ý
thức trong mỗi học sinh về:
- Yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, có tình cảm với gia cấp công
nhân.:
+ Có ý thức giác ngộ cao về lý tưởng chủ nghĩa xã hội, có nhận thức
đúng đắn về vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp của mình, có trình
độ hiểu biết nhất định về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Có ý thức trách nhiệm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày
càng vững mạnh tham gia vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá
đất nước.
- Yêu lao động, yêu nghề nghiệp: Mỗi học sinh cần tập trung trí tuệ, sức
lực để học tập và lao động đạt kết quả tốt để sau khi ra trường trở thành
người công nhân vững vàng về tay nghề, có đạo đức, có nếp sống văn
minh, góp công sức của mình phục vụ cho đất nước.
Trang 4
Giáo trình Chính trị
- Xây dựng nếp sống văn minh: Có ý thức học tập, rèn luyện, xây dựng
cộng đồng, xây dựng xã hội ngày càng văn minh tiến bộ.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Môn học chính trị nghiên cứu những nội dung gì?
Câu 2: Ý nghĩa của việc học tập môn chính trị là gì?
Trang 5
Giáo trình Chính trị
BÀI 1
KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1. C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập học thuyết Mác
1.1. Các tiền đề hình thành
Những tiền đề dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa Mác:
- Tiền đề kinh tế:
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời và lớn mạnh của nền công
nghiệp. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã dẫn tới nền sản xuất đại công
nghiệp cơ khí phát triển, đồng thời hình thành và phát triển một cách nhanh
chóng các đô thị, thành phố công nghiệp. Cơ cấu xã hội của xã hội tư bản chủ
nghĩa được đặc trưng bởi hai giai cấp cơ bản đối lập nhau về lợi ích là giai
cấp tư sản và giai cấp vô sản, trong đó, giai cấp vô sản là người đại diện cho
lực lượng sản xuất mới, tiến bộ, mang tính chất xã hội hóa cao.
- Tiền đề chính trị - xã hội:
Xã hội tư bản ngày càng phát triển làm nảy sinh mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên
chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, đó cũng là
mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn
giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
chống lại sự thống trị, áp bức của giai cấp tư sản diễn ra trên quy mô rộng
khắp, phát triển từ tự phát đến tự giác, từ đấu tranh kinh tế tới đấu tranh chính
trị. Những cuộc nổi dậy sôi nổi của công nhân thành phố Lyông (Pháp) vào
năm 1831, của những người thợ dệt Xilêđi (Đức), đặc biệt là phong trào Hiến
chương của những người lao động ở Anh kéo dài từ năm 1838 đến năm 1848.
Phong trào Hiến chương là phong trào mang tính chất dân chủ, với yêu cầu
đưa ra những kiến nghị sửa đổi pháp luật của giai cấp tư sản cầm quyền một
cách có lợi cho cuộc sống của người lao động. Sự phát triển của các phong
trào này đánh dấu sự trưởng thành về ý thức chính trị của giai cấp vô sản.
Trước thực tiễn ấy đòi hỏi phải có lý luận tiên phong dẫn đường cho giai cấp
vô sản.
- Tiền đề khoa học và lý luận:
Đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực
khoa học, văn hoá và tư tưởng. Trong khoa học tự nhiên, những phát minh
vượt thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có
tính cách mạng như: thuyết tiến hóa của Đácuyn, học thuyết tế bào, định luật
bảo toàn và chuyển hóa năng lượng.
Trang 6
Giáo trình Chính trị
Trong triết học và khoa học xã hội, phải kể đến sự ra đời của triết học cổ
điển Đức (với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại như Hêghen, Phoiơbắc);
của kinh tế chính trị học cổ điển Anh (đại biểu là Adam Smít và Ricácđô); của
chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán (đại biểu là Xanh Ximông, Phuriê
và Ôoen).
C. Mác (1818 - 1883) và Ph. Ănghen (1820 - 1895) đã kế thừa có phê
phán những thành tựu trong kho tàng tư tưởng nhân loại tư duy nhân loại.
Bằng trí tuệ uyên bác, các ông đã tiếp thu với một tinh thần phê phán đối với
các giá trị của nền triết học cổ điển. C. Mác và Ph. Ănghen đã kết hợp chủ
nghĩa duy vật của Phoiơbắc và phép biện chứng của Hêghen thành phép biện
chứng duy vật. Từ đó, các ông từng bước phát triển học thuyết của mình, đưa
các giá trị tư tưởng lý luận phát triển lên một trình độ mới về chất. Vận dụng
phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội, phát hiện ra
những quy luật vận động của lịch sử, các ông đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật
lịch sử. Tiến thêm một bước nữa, C. Mác đã vận dụng những quan điểm duy
vật về lịch sử và những yếu tố hợp lý của nền kinh tế học cổ điển Anh vào
việc nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa một cách toàn diện và
triệt để. C. Mác và Ph. Ănghen đã sáng lập ra học thuyết về giá trị thặng dư.
Hai ông đã chứng minh tính tất yếu sụp đổ của chủ nghĩa tư bản; làm sáng tỏ
vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản - giai cấp trực tiếp xóa bỏ chế độ
tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới - xã hội
xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy, chủ nghĩa Mác ra đời là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu
đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là thực tiễn đấu tranh cách mạng của
giai cấp công nhân.
1.2. Sự ra đời và phát triển học thuyết Mác (1848 - 1895)
Tháng 2 năm 1848, tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do C.
Mác và Ph. Ănghen viết chung ra đời. Đây là văn kiện có tính chất cương lĩnh
đầu tiên của chủ nghĩa Mác, là cương lĩnh chính trị đầu tiên của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế.
Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp công nhân Mác đã rút ra kết
luận hết sức quan trọng là, để giành lại quyền thống trị về chính trị, giai cấp
công nhân cần đập tan bộ máy nhà nước quan liêu trong nhà nước tư sản, xây
dựng một nhà nước mới, nhà nước chuyên chính vô sản; về liên minh giai cấp
của giai cấp công nhân; về sự chuyển biến không ngừng từ cách mạng dân
chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; nhận thức rõ giữa xã hội tư bản
và xã hội cộng sản là “Thời kỳ cải biến cách mạng” từ xã hội nọ sang xã hội
kia (tức xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa
cộng sản), đó là một thời kỳ “Qúa độ chính trị”, trong đó nhà nước không
phải cái gì khác ngoài “chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”…
Trang 7
Giáo trình Chính trị
C. Mác và Ph. Ăngghen tiếp tục bổ sung và phát triển học thuyết của
mình, thế hiện qua các tác phẩm như: bộ Tư bản, Phê phán Cương lĩnh Gô -
ta, Chống Đuyrinh… Trong bộ Tư bản, các ông đã làm sáng tỏ quy luật hình
thành, tồn tại, phát triển, diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời chỉ
ra rằng sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội là một tất yếu
khách quan; sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lực lượng xã hội quyết
định sự lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, lần đầu tiên Ph.Ănghen trình bày hoàn chỉnh
về thế giới quan mácxít về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học và chỉ ra mối liên hệ
hữu cơ giữa ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác (triết học, kinh tế chính trị
và chủ nghĩa xã hội khoa học).
Sau khi C. Mác mất (1883), Ph. Ăngghen, một mặt, tập trung sức lực và
trí tuệ để chuẩn bị cho việc xuất bản tập hai và tập ba của bộ Tư bản; mặt
khác, tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và hoàn
thành các tác phẩm quan trọng của mình như: Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và của nhà nước (1884), Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung
của triết học cổ điển Đức (1886).
2. V.I. Lênin phát triển học thuyết Mác (1895 - 1924)
2.1. Sự phát triển về lý luận cách mạng
V.I. Lênin (1870 - 1924) là người kế tục một cách xuất sắc sự nghiệp
cách mạng và khoa học của C. Mác và Ph. Ăngghen.
Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới xuất hiện đặc điểm mới, chủ nghĩa tư
bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc. Trong hoàn cảnh đó, V.I. Lênin đã vận
dụng sáng tạo và phát triển sáng tạo học thuyết Mác để giải quyết những vấn
đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, đưa Cách mạng
Tháng Mười Nga đến thắng lợi và gặt hái được những kết quả bước đầu trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
V.I. Lênin phân tích và tổng kết một cách nghiêm túc các sự kiện lịch sử
diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội của hoàn cảnh lịch sử mới. Ông đã phát
hiện và trình bày một cách có hệ thống những khái niệm, phạm trù khoa học
phản ánh những quy luật, những thuộc tính bản chất chi phối sự vận động,
biến đổi của đời sống xã hội trong quá trình chuyển biến tất yếu từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đó là các quan điểm về
đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, về các nguyên tắc tổ chức, cương lĩnh,
sách lược trong nội dung hoạt động của Đảng; về cách mạng xã hội chủ nghĩa
và chuyên chính vô sản, cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và các điều kiện
tất yếu cho sự chuyển biến sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; những vấn đề
mang tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc và cương lĩnh dân tộc,
Trang 8
Giáo trình Chính trị
đoàn kết và liên minh của giai cấp công nhân với nông dân và các tầng lớp lao
động khác; những vấn đề về quan hệ quốc tế và chủ nghĩa quốc tế vô sản,
quan hệ cách mạng xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc.
Cùng với việc phát triển chủ nghĩa Mác, V. I. Lênin còn ra sức bảo vệ
những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen. V.I. Lênin kịch liệt phê phán
những người nhân danh lý luận của Mác nhưng thực tế là xét lại chủ nghĩa
Mác, hoặc xa rời chủ nghĩa Mác. Ông đấu tranh chống lại mọi trào lưu của
chủ nghĩa cơ hội - xét lại, chủ nghĩa giáo điều và bệnh "tả khuynh" trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
2.2. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực
V.I. Lênin đã lãnh đạo Đảng của giai cấp công nhân Nga tập hợp lực
lượng đấu tranh chống chế độ chuyên chế Nga hoàng, tiến tới giành chính
quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga. Thắng lợi của
cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới - thời
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành thực tiễn.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, do yêu cầu của công cuộc
xây dựng chế độ mới, V. I. Lênin đã tiến hành phân tích làm rõ nội dung, bản
chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định cương lĩnh xây dựng
chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bắt tay tổ chức các chính sách kinh tế, xác định
chính sách kinh tế mới nhằm sử dụng và học tập các kinh nghiệm tổ chức,
quản lý kinh tế của chủ nghĩa tư bản để cải tạo nền kinh tế tiểu nông lạc hậu
của nước Nga Xô viết. Với chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin đã
ñeà cao
vai trò của hàng hóa, tiền tệ, tự do trao đổi… tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh
tế phát triển. Tạo nên động lực to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô vào nh
ững năm đầu của thế kỷ XX.
Với những cống hiến hết sức to lớn cả về lý luận và chỉ đạo thực tiễn
cách mạng, V. I. Lênin còn nêu một tấm gương sáng ngời về lòng trung thành
vô hạn với lợi ích của giai cấp công nhân, với lý tưởng cộng sản do C. Mác,
Ph. Ăngghen phát hiện và khởi xướng; đồng thời Người cũng luôn phê phán
bệnh giáo điều để phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác. Những điều đó đã làm
cho V. I. Lênin trở thành một thiên tài khoa học và một lãnh tụ kiệt xuất của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.
3.
Chủ nghĩa Mác - Lênin từ 1924 đến nay
3.1. Sự phát triển về lý luận cách mạng
Hơn 80 mươi năm đã trôi qua kể từ khi Lênin từ trần, phong trào cách
mạng của giai cấp công nhân thế giới đã trải qua nhiều thử thách to lớn, đã có
nhiều thắng lợi vĩ đại và cũng đã có những tổn thất to lớn. Chủ nghĩa Mác -
Trang 9
Giáo trình Chính trị
Sự thắng lợi, phát triển rực rỡ và sau đó là sụp đổ của chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô có thể được coi là minh chứng cho sự thành
công và thất bại của việc vận dụng, áp dụng các nguyên lý, quy luật của chủ
nghĩa Mác vào thực tiễn. Chừng nào và ở đâu, đảng cộng sản nhận thức đúng,
sáng tạo hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà trong đó cách mạng đang vận động, để
đề ra các chủ trương chiến lược và sách lược đúng đắn vì mục tiêu xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, chừng đó và ở đó, cách mạng phát triển và thu
được những thắng lợi to lớn. Trong trường hợp ngược lại, cách mạng sẽ lâm
vào thoái trào và bị thất bại. Những thành công và thất bại trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội cần nghiêm túc phân tích, khái quát và rút ra các vấn
đề lý luận, những bài học kinh nghiệm, từ đó có những bước đi, biện pháp
hợp lý trong hoàn cảnh, điều kiện mới. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống
lại những tư tưởng cơ hội, xét lại, bảo thủ, giáo điều, những âm mưu thực
hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch…Các đảng cộng sản, giai
cấp công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
3.2. Đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu không có
nghĩa là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một học thuyết cách
mạng, khoa học duy nhất có thể vạch đường cho sự nghiệp giải phóng hoàn
toàn và triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức,
xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Sự sụp đổ ấy cũng
không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới. Ở các nước
xã hội chủ nghĩa này đang dần dần hồi phục tiếp tục cuộc đấu tranh, cải cách,
đổi mới đất nước, từng bước lấy lại sự ủng hộ của nhân dân.
Các nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc, Cuba,… vẫn giữ
vững chế độ xã hội do Đảng cộng sản lãnh đạo; khẳng định những thành tựu
đã đạt được, nhìn thẳng vào sai lầm để kiên quyết sửa chữa và đã sửa chữa
thành công trong đổi mới, cải cách với những thành tựu to lớn về mọi mặt.
Như vậy, chủ nghĩa xã hội đang ở thế thoài trào. Cũng như mọi thời đại
khác trong lịch sử, nó có tiến, có thoái, quanh co khúc khuỷu, nhưng cuối
Trang 10
Giáo trình Chính trị
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Phân tích các tiền đề hình thành học thuyết Mác?
Câu 2: Học thuyết Mác được Lênin phát triển như thế nào?
Trang 11
Giáo trình Chính trị
BÀI 2
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.
1.1. Tính tất yếu và đặc trưng của chủ nghĩa xã hội
Tính tất yếu chủ nghĩa xã hội
1.1.1.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã tuần tự trải qua các hình thái
kinh tế - xã hội từ thấp đến cao (công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp
của chủ nghĩa cộng sản). Đó là một quá trình lịch sử tự nhiên. Mỗi hình thái
kinh tế - xã hội được đặc trưng bằng một kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng
tầng được xây dựng trên quan hệ sản xuất đó.
Trong chủ nghĩa tư bản, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập
cùng với sự thống trị của giai cấp tư sản đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển mạnh mẽ, tạo ra một lực lượng sản xuất với khối lượng đồ sộ lớn hơn
hẳn tất cả các xã hội trước đó cộng lại. Lực lượng sản xuất ngày càng phát
triển thì càng mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa
trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn đó biểu hiện về
mặt xã hội là mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.
Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản, như: bãi
công, biểu tình đòi những quyền lợi về dân sinh, dân chủ, tăng lương, giảm
giờ làm… diễn ra ngày càng rộng lớn.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ban đầu thông thường là về mặt
kinh tế, sau đó chuyển sang đấu tranh chính trị, từ đấu tranh tự phát lên tự
giác. Đấu tranh giai cấp sẽ phát triển thành cách mạng xã hội, thiết lập xã hội
mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tiên
quyết để giải phóng lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ra khỏi sự
kìm hãm của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư
nhân tư liệu sản xuất. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là con đường tất yếu để
xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, làm cho quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, giải phóng sức
sản xuất xã hội, đồng thời giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động
khỏi sự áp bức và bóc lột.
Như vậy, chủ nghĩa xã hội ra đời dựa trên chính những tiền đề vật chất -
kỹ thuật, kinh tế - xã hội, văn hóa mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra, thông qua
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm thiết lập chính quyền về tay giai cấp
công nhân và nhân dân lao động để tiến hành cải tạo xã hội cũ và từng bước
xây dựng xã hội mới.
Trang 12
Giáo trình Chính trị
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới, đã và đang mở ra khả năng cho nhiều nước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội từ những điểm xuất phát khác nhau. Trong đó có cả những nước có nền
kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, khi cuộc cách mạng ở đây do giai cấp công
nhân lãnh đạo giành thắng lợi, chính quyền thuộc về giai cấp công nhân và
nhân dân lao động. Tuy nhiên, do xuất phát từ trình độ phát triển còn thấp
kém, các nước này sau khi thiết lập chính quyền của nhân dân phải có thời
gian dài để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; Đồng
thời, tận dụng mọi cơ hội do thời đại tạo ra để đẩy nhanh, “rút ngắn” sư phát
triển, xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, xây dựng đời sống vật
chất lẫn đời sống tinh thần cho toàn xã hội, từng bước tiến tới chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản.
1.1.2. Những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội có những đặc trưng cơ bản sau:
-
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (hay xã hội xã hội chủ
nghĩa) là nền sản xuất công nghiệp hiện đại.
-
Xã hội xã hội chủ nghĩa đã xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa,
thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
-
Chủ nghĩa xã hội tạo ra các cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động
mới.
-
Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động - nguyên tắc phân phối
cơ bản nhất.
-
Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, tính
nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích
của nhân dân.
-
Xã hội xã hội chủ nghĩa giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột,
thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo ra những điều kiện cơ
bản để con người phát triển toàn diện.
Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nêu lên sáu đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trang 13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét