Cạnh tranh và hội nhập
MỞ ĐẦU
Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng,vấn đề toàn cầu
hoá thường xuyên được nhắc tới.Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn
đề này.Đối với Việt nam –một nước đang phát triển,hiện gặp rất nhiều khó
khăn trong sự nghiệp phát triển kinh tế thì xu thế toàn cầu hoá và hội nhập
vừa là thách thức,vừa là cơ hội.
CHƯƠNG I : HỘI NHẬP VÀ VẤN ĐỀ TOÀN CẦU HOÁ
I - Khái niệm cơ bản:
Toàn cầu hoá chính là quá trình thâm nhập lẫn nhau giữa các quốc gia và
dân tộc mà ở đó có sự kế thừa những tinh hoa của sự phát triển và sự đào
thải những mặt lạc hậu,trì trệ,lỗi thời ngăn cản quá trình phát triển của quốc
gia và dân tộc đó.Xét về mặt bản chất,toàn cầu hoá chính là quá trình xã
hội hoá lực lượng sản xuất không chỉ ở mực độ hay phạm vi của một quốc
gia mà đang lan rộng ra trên bình diện khu vực và thế giới.
Quá trình toàn cầu hoá dưới chủ nghĩa tư bản như hiện nay là một nấc
thang trong sự vận động và phát triển nói chung của chủ nghĩa tư bản.Khi
mà sự phát triển của lực lưọng sản xuất xã hội đạt đến trình độ cao đặt ra
yêu cầu về một quan hệ sản xuất không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ
của mỗi quốc gia mà là trên phạm vi toàn cầu.Mặc dù quá trình toàn cầu
hoá chịu sự chi phối của chủ nghĩa tư bản hiện đại,nhưng lực lượng tham
gia toàn cầu hoá không chỉ có các nước tư bản phát triển mà còn có cả
nhiều nước theo đuổi mục tiêu độc lập dân tộc và trung lập cùng các nước
phát triển theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.Quá trình toàn cầu hoá
không chỉ bao hàm sự hợp tác mà còn tồn tại cả sự đấu tranh khốc liệt giữa
các quốc gia có trình độ phát triển và lợi ích kinh tế khác nhau.
Toàn cầu hoá là một quá trình tiệm tiến.Xét về mặt lịch sử thì toàn cầu hoá
không chỉ diễn ra trong thời đại ngày nay mà nó đã được bắt đầu ngay ngay
sau khi chủ nghĩa tư bản xác lập được địa vị thống trị và tiến hành sản xuất
tư bản chủ nghĩa.Quá trình toàn cầu hoá hiện nay được biểu hiện thông
qua quá trình khu vực hoá và liên kết giữa các khu vực,thể hiện thông qua
các liên minh kinh tế và diễn đàn hợp tác kinh tế như liên minh châu Âu
(EU) , Hiệp hội các nước sản xuất dầu lửa châu Phi(APPA),Tổ chức thống
nhất châu Phi(OAU),Hiệp hội các nước xuất khẩu dầu mỏ(OPEC),Liên
đoàn Arập (UMA),khối thị trường chung Nam Mỹ(MERCOSUR),khu vực
mậu dịch tự do Bắc Mỹ(NAFTA),hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á(ASEAN)khu vực mậu dịch tự do Nam á(SAFTA), diễn đàn hợp tác châu
á thái bình dương (APEC) …Ba tổ chức giữ vai trò quan trọng trong việc
định ra xu hướng vận động và qui định tính chất của quá trình toàn cầu hoá
là quĩ tiền tệ quốc tế (IMF)và tổ chức thương mại thế giới(WTO),và ngân
hàng thế giới(WB).
II - Toàn cầu hoá kinh tế vừa là cơ hội vừa là thách thức:
Trong quá trình phát triển kinh tế,rất nhiều nước nhờ chủ động mở cửa hợp
tác với nước ngoài mà cải thiện được vị thế kinh tế của mình,thậm chí có
một số nước đã vượt hẳn lên để trở thành những con rồng,con hổ như
Acgentina, Pêru,Singapore,Hàn Quốc,Đài Loan,vv….
Như vậy,bản thân quá trình toàn cầu hoá đã tác động tích cực đến phát triển
kinh tế thông qua một loạt các đặc tính vốn là hệ quả của qui luật giá trị và
quá trình xã hội hoá sản xuất trong nền kinh tế thị trường.Cụ thể là:
• Toàn cầu hoá thúc đảy quá trình phân công lao động xã hội trên phạm vi
quốc tề và tận dụng được lợi thế so sánh tương đối.
• Toàn cầu hoá thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển,khuyến khích cải
tiến và đổi mới công nghệ.
• Toàn cầu hoá tạo ra cơ chế di chuyển thuận lợi các nguồn lực quan
trọng như lao động và vốn tài chính.
• Toàn cầu hoá mở rộng dung lượng thị trường ,tạo điều kiện phát triển
sản xuất.
• Toàn cầu hoá đào thải những mặt hạn chế trong quá trình tổ chức,quản
lý và điều hành kinh tế .
Tuy nhiên,bên cạnh đó,qúa trình toàn cầu hoá cũng có những tác động tiêu
cực đến qúa trình phát triển kinh tế –xã hội tại các nước đang phát triển,thể
hiện ở một số khía cạnh sau đây:
• Do các nước đang phát triển có trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ
thấp hơn nhiều so với các nước phát triển,cho nên trong qúa trình gia
công và xuất khẩu sản phẩm,các nước đang phát triển đã bị các nước
phát triển bóc lột thông qua phân công lao động quốc tế.
• Các nguyên tắc vận hành của trao đổi mậu dịch trên thị trường quốc tế
là do các nước phát triển đặt ra,vì lợi ích cục bộ của các nước phát
triển , khiến cho các nước đang phát triển luôn ở vào thế bất lợi.
• Phương thức thanh toán quốc tế và tài chính quốc tế đều sử dụng các
đồng tiền của nhóm các nước phát triển ,do đó các rủi ro kinh tế tại các
nước phát triển cũng tác động mạnh mẽ đến các nước đang phát triển,
khiến cho các nước đang phát triển không thể chủ động phòng tránh.
• Các nước đang phát triển phải gánh chịu hậu quả từ ô nhiễm môi trường
sinh thái,bản sắc văn hoá,chính trị,xã hội của các nước đang phát triển
dễ bị xâm hại,gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng chồng chất,….
Toàn cầu hoá là một xu thế mang tính chất khách quan.Cho nên nêu mặt
trái của toàn cầu hoá không có nghĩa là phản đối toàn cầu hoá và đứng
ngoài tiến trình toàn cầu hoá .Việc nhận thức được tính chất hai mặt của
toàn cầu hoá sẽ tạo cơ sở lý luận góp phần đảm bảo cho sự thành công của
qúa trình hội nhập vào đời sống kinh tế thế giới.
III - Việt nam nên hội nhập theo cách như thế nào ?
Trong khoảng thời gian tương đối dài kể từ khi chúng ta tiến hành sự
nghiệp đổi mới,chúng ta khẳng định rằng:“cần phải xây dựng một nền kinh
tế độc lập tự chủ,đồng thời đủ khả năng tham gia qúa trình phân công lao
động quốc tế ”.Như vậy,vấn đề đặt ra là cần phải hiểu độc lập,tự chủ trong
điều kiện của toàn cầu hoá và hội nhập như thế nào?
Qúa trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế phát triển nhanh chóng sẽ từng
bước xoá nhoà đi biên giới của các quốc gia để hình thành nên một nền
kinh tế toàn cầu,các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị xoá bỏ,vv…
Trong điều kiện ấy,muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ,tự đảm
đương lấy các nhu cầu thiết yếu,ít bị lệ thuộc vào bên ngoài,vv…là không
thực tế,là đi ngược với qúa trình phát triển .
Ngày nay trong chương trình tái cấu trúc lại cơ cấu của nền kinh tế theo xu
hướng toàn cầu hoá ,các quốc gia không nhất thiết phải xây dựng một cơ
cấu kinh tế hoàn chỉnh,thậm chí không cần xây dựng một ngành kinh tế
hoàn chỉnh.Nhóm các quốc gia phát triển đang triệt để thực hiện nguyên tắc
này. Thậm chí các nước đang phát triển ở trình độ cao và trung bình cũng
theo nguyên tắc này.Mỗi sản phẩm hoàn chỉnh là kết quả của sự đóng góp
về kĩ thuật và công nghệ cũng như sức sản xuẩt của nhiều quốc gia .Ví dụ
Singapo là một nước không có nhiều ngành công nghiệp cơ bản. Kinh tế
Singapo dựa chủ yếu vào cung ứng dịch vụ quốc tế và lắp ráp.Nguyên
nhiên vật liệu gần như phải nhập khẩu 100%,nhưng kinh tế Singapo vẫn
phát triển và giữ được độc lập tự chủ.Ngược lai,Bắc Triều Tiên là một nước
có cơ cấu kinh tế tương đối hoàn chỉnh,độc lập tự chủ rất cao.Nhưng Bắc
Triều Tiên lại có nền kinh tế lạc hậu.Như ở nước ta ,trong suốt 15 năm đổi
mới,sự phát triển của nền kinh tế luôn luôn gắn liền với sự phụ thuộc chặt
chẽ vào thị trường bên ngoài.Một nền kinh tế hội nhập,lợi ích quốc gia hoà
quện với lợi ích kinh tế của nhiều quốc gia khác,thì sẽ kết hợp được sức
mạnh quốc gia và sức mạnh quốc tế để bảo vệ đất nước tốt hơn.
Từ thực tế nói trên,trong qúa trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới chúng ta nên có chính sách nhất quán xây dựng một nền kinh tế hướng
ngoại,với một số đặc trưng đã mang tính qui luật sau đây:
• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên những ngành có lợi thế
cạnh tranh cao và gắn chặt với thị trường thế giới,từng bước hạn chế
đầu tư ở những ngành kinh tế kém cạnh tranh.
• Sức cạnh tranh của nền kinh tế phải được nâng dần lên hệ thông qua
việc hinh thành một môi trường đầu tư,kinh doanh thuận lợi bằng cách
áp dụng các biện pháp tập trung vào các lĩnh vực như :cải tổ bộ máy
hành chính sự nghiệp,ban hành hệ thống luật pháp kinh tế đồng bộ,nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực,….
• Nền kinh tế có khả năng đối phó hiệu quả với những biến động chính
trị,kinh tế ,xã hội từ bên ngoài.Giải pháp thực thi có hiệu quả là nên gắn
những vấn đề của quốc gia với vấn đề mang tính khu vực và quốc tế
,công khai tình hình kinh tế vĩ mô:tài chính,tiền tệ,việc làm,thu
nhập,dân cư…,tranh thủ sự ủng hộ của các định chế tài chính quốc tế
,duy trì hệ thống dự trữ quốc gia hợp lý,gắn lợi ích quốc gia với lợi ích
của nhiều quốc gia khác.
Hội nhập là đi trước đối thủ
Thời hạn gia nhập AFTA của Việt Nam ngày càng cận kề, nhiều
doanh nghiệp đó chuẩn bị bằng nhiều cỏch. Theo quan niệm cỏc nhà
quản lý, cỏch tốt nhất để thử sức mỡnh trong hội nhập là biến thỏch
thức thành thời cơ.
Một trong cỏc phương thức là nõng tớnh chuyờn nghiệp. Việc đầu tiờn của ụng Đặng Lờ
Nguyờn Vũ, Giỏm đốc hóng cà phờ Trung Nguyờn là rà soỏt lại toàn bộ hệ thống quản
lý, phõn phối. Theo dự kiến, hóng sẽ hoàn thiện bộ mỏy hoạt động của mỡnh vào giữa
năm 2002 và tuyển chuyờn viờn thiết kế, õm thanh để cải tạo chuỗi quỏn nhượng quyền.
Trung Nguyờn cú kế hoạch nhập 200 mỏy pha cà phờ cao cấp Espresso. Loại mỏy này sẽ
được trang bị cho hệ thống cà phờ cao cấp sắp ra đời trong nay mai của hóng. Hiện nay,
Trung Nguyờn đang rỏo riết “săn lựng” những địa điểm kinh doanh “trọng yếu” ở TP
HCM và Hà Nội để mở quỏn. ễng Vũ núi: “Cần phải chiếm trước những địa điểm quan
trọng dự phải trả giỏ thuờ mặt bằng cao, để sau này cỏc tập đoàn nước ngoài cú vào thỡ
họ cũng sẽ gặp khú khăn trong việc chọn điểm kinh doanh thuận lợi”.
Ra tay trước là mạnh
Từ năm 2000, Kinh Đụ đó cú chiến lược hoàn thiện hệ thống quản lý như lấy chứng chỉ
ISO, đào tạo nhõn lực, ổn định tổ chức, nõng cấp tớnh chuyờn mụn của từng bộ phận
hoạt động.
Cụng ty cũng đang thực hiện chiến lược xuất khẩu. Cỏc hội chợ quốc tế ở Dubai, Liốge
(Bỉ), Australia, Campuchia, Đài Loan, Singapore Kinh Đụ đều tham dự. ễng Trần Cao
Thành, Trưởng phũng Tiếp thị Kinh Đụ, núi: "Đi hội chợ quốc tế đõu tốn ớt tiền, nhưng
phải tỡm hiểu nhu cầu khỏch hàng để cú hướng đầu tư sản phẩm, đồng thời đưa sản
phẩm thăm dũ thị hiếu". Thị trường xuất khẩu của cụng ty cú nhiều nước thuộc khối
ASEAN như Campuchia, Malaysia, Singapore ễng Thành nhận định: "Sau này, sản
phẩm của cỏc nước ASEAN cú vào cũng sẽ gặp khú khăn khi cạnh tranh vỡ cụng ty đó
tạo được ưu thế về nhõn lực, nguyờn liệu và uy tớn sản phẩm".
Lấy xuất khẩu nuụi nội địa
Củng cố thị trường nội địa, tăng cường đầu tư sản xuất sản phẩm cao cấp để đún đầu hội
nhập là hướng quan tõm của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Cụng ty Bỳt bi Thiờn Long
vừa tung ra thị trường hai sản phẩm cao cấp mà cụng ty sẽ phỏt triển. ễng Lõm Trường
Sơn, Trưởng phũng Tiếp thị Cụng ty Thiờn Long, núi: "Sản phẩm bỳt bi nước ngoài sẽ
vào Việt Nam chủ yếu là sản phẩm cao cấp. Hiện giờ, cụng ty đầu tư sản xuất sản phẩm
cao cấp, đến lỳc hội nhập, khấu hao dõy chuyền hết, sản phẩm của chỳng tụi sẽ cạnh
tranh được với sản phẩm của cỏc cụng ty nước ngoài".
ễng Thỏi Hựng, Giỏm đốc Cụng ty May Tõy Đụ, núi: "Hiện nay, May Tõy Đụ phải lấy
lợi nhuận của xuất khẩu để phỏt triển thị trường nội địa. Cần phải chiếm trước một phần
thị trường trước khi kinh tế Việt Nam hội nhập".
(Theo Sài Gòn Ttếp Thị)
Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế của Việt Nam
Chớnh phủ sẽ trỡnh Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, ban hành Pháp
lệnh về các biện pháp tự vệ trong hoạt động thương mại với nước ngoài.
Đây là văn bản đầu tiên quy định minh bạch các biện pháp sẽ áp dụng để
ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại cho sản xuất trong nước do hàng nhập
khẩu gây ra.
Theo dự luật này, ba biện phỏp được ỏp dụng là thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, và
“biện phỏp khỏc do Chớnh phủ quy định”. Trong số này, theo quan điểm của Bộ Thương
mại, chỉ ỏp dụng chủ yếu 2 biện phỏp đầu, được quy định trong Hiệp định chung về thuế
quan và thương mại (GATT 1947), được nhiều nước ỏp dụng.
Cỏc biện phỏp tự vệ, được thực hiện với hàng húa nhập khẩu, chỉ khi cú đủ 2 điều kiện:
Thứ nhất, khối lượng, số lượng hoặc trị giỏ của hàng húa nhập khẩu đú gia tăng bất
thường so với hàng húa tương tự hoặc hàng húa cạnh tranh trực tiếp sản xuất trong nước;
Thứ hai, việc gia tăng đú gõy ra hoặc đe dọa gõy thiệt hại nghiờm trọng cho sản xuất
trong nước.
Pháp lệnh chỉ quy định các nguyên tắc chung và thể thức áp dụng các biện
pháp tự vệ. Song, theo Ban soạn thảo, việc bảo vệ phải phù hợp với các quy
định của WTO, không tạo tâm lý bảo hộ tràn lan, khụng để doanh nghiệp ỷ
lại vào Nhà nước. Mức bảo hộ vừa phải, tránh tỡnh trạng doanh nghiệp lợi
dụng tăng giá hàng hóa gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đồng thời phải
nhỡn trước khả năng trả đũa của phía nước xuất khẩu. Vỡ vậy, ỏp dụng
biện phỏp tự vệ phải trờn cơ sở kết quả điều tra và không phân biệt đối xử
hay phụ thuộc vào nguồn gốc hàng hóa.
Hiện nay, để bảo vệ nhà sản xuất trong nước, ngoài các biện pháp thuế
quan, Chính phủ cũn ỏp dụng nhiều biện phỏp mang tớnh hành chớnh, như
cấm nhập, cấp giấy phép nhập khẩu, quota Hỡnh thức này không phù hợp
với các nguyên tắc của thương mại quốc tế, và thường bị phía nước ngoài
phản đối (như lần cấm nhập khẩu 12 mặt hàng năm 1997 đó gặp phản ứng
gay gắt của cỏc nước ASEAN). Việc ban hành Pháp lệnh sẽ góp phần minh
bạch hóa chính sách bảo hộ, đáp ứng đũi hỏi của quỏ trỡnh đàm phán gia
nhập WTO. Đây cũng là việc luật hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam
trong Hiệp định thương mại với Mỹ và trong thỏa thuận gia nhập AFTA.
Triển khai pháp lệnh này để tiến tới sẽ chỉ cũn 2 biện phỏp phổ biến là thuế
nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu.
CHƯƠNG II : CẠNH TRANH
I-Tình hình cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam hiện nay:
Thực tế cho thấy rằng,sức cạnh tranh của hầu hết các loại hàng hoá Việt
nam trên thị trường,cả trong nước lẫn quốc tế rất yếu kém.Vấn đề lại càng
bức xúc khi áp lực cạnh tranh do qúa trình tự do hoá thương mại,trước hết
là thời hạn có hiệu lực của CEPT trong khuôn khổ AFTA cứ mỗi lúc một
đến gần.Trong khi đó,không ít các doanh nghiệp Việt nam lại chưa sẵn
sàng đối mặt với những thách thức từ cuộc cạnh tranh gay gắt ấy.Nếu tình
hình không được cải thiện thì việc nền kinh tế nước ta bi tụt hậu là điều
chắc chắn.Việc cần thiết phải làm bây giờ không những chỉ là tăng năng
lực cạnh tranh mà còn phải tạo ra một môi trường cạnh tranh quyết liệt
ngay trong nước.Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế và nó
còn là cách tốt nhất để tối đa hoá lợi ích của người sản xuất lẫn người tiêu
dùng.Hiện nay các doanh nghiệp Việt nam chưa thực sự cạnh tranh vì thị
trường của ta hiện nay rất ít tính cạnh tranh.Sẽ không thể có doanh nghiệp
có tính cạnh tranh khi nó hoạt động trong môi trường không có tính cạnh
tranh.
Các ngành lớn như:điện lực,viễn thông,nước,….vẫn là những ngành được
nhà nước bảo hộ độc quyền.Việc độc quyền này tạo ra rất nhiều tác hại
như:
• Do không bị cạnh tranh nên nhà sản xuất không có nhu cầu sáng tạo,đổi
mới công nghệ và vì thế hạn chế áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật,năng
suất lao động không được nâng cao.
• Nhà cung cấp tạo ra sự khan hiếm giả tạo bằng cách hạn chế về số
lượng hàng hoá và áp dụng mức giá cao một cách giả tạo để kiếm lời
không chính đáng.Chi phi người tiêu dung bỏ ra để mua một lượng hàng
hoá sẽ tăng lên. Và chất lượng hàng hoá dịch vụ còn có nguy cơ giảm
sút.
• Do không sử dụng hết nguồn lực phát triển kinh tế nên sẽ có một sự
lãng phí lớn các nguồn lực.
Chính vì những tác động không có lợi này nên cần thiết phải có sự can
thiệp của nhà nước nhằm chống độc quyền.
Hiện nay,công cuộc đổi mới kinh tế đang được khởi động với tư tưởng
chung là thừa nhận tính khách quan,tất yếu của kinh tế thị trường.Tuy có
những quan điểm khác biệt về tính chất xã hội so với các nền kinh tế thị
trường chính thống hiện đang tồn tại,nhưng đã là kinh tế thị trường thì yếu
tố thị trường sẽ phải trở thành cơ sở đầu tiên chi phối kiểu vận hành của
nền kinh tế .Với chính sách đổi mới nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị
trường ,nền kinh tế Việt nam đã đạt được một số kết quả ban đầu có ý
nghĩa bước ngoặt.Không chỉ vì mức tăng trưởng cao mà quan trọng hơn là
khẳng định trên thực tế một nguyên lý tổ chức nền kinh tế .Tình trạng độc
quyền dưới bất cứ thể chế xã hội nào cũng dẫn đến tình trạng nền kinh tế
hoạt động dưới tiềm năng sản xuất,kém hiệu quả.
Tuy vậy, qúa trình đổi mới với khoảng thời gian ngắn ngủi mới chỉ đủ để
hình thành khuôn khổ chung của cơ chế thị trường .Vì thế để cho kinh tế thị
trường hoạt động một cách thật sự trôi chảy thì còn rất nhiều việc phải
làm.Một trong số những việc rất khó khăn mà ta chưa làm chính là tạo lập
một môi trường có tính cạnh tranh và những điều kiện pháp lý đảm bảo cho
sự cạnh tranh được công bằng ,lành mạnh.Thực tiễn của tiến trình đổi mới
và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã đặt nền kinh tế Việt nam đối mặt
trực tiếp với cuộc cạnh tranh quốc tế ,nên không thể không tạo ra một môi
trường kinh tế cạnh tranh ở trong nước phù hợp với thông lệ quốc tế, và
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như năng lực quản lý
nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao.
Việt nam với nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền
kinh tế thị trường thì việc quan trọng là hạn chế các yếu tố độc quyền ngay
trong cơ chế quản lý của nhà nước .Và thực tế cho thấy,Việt nam hiện nay
mức độ cạnh tranh rất thấp,mang nặng tính độc quyền.
Cần cú cỏi nhỡn thấu đáo về thị trường nước ngoài
"Doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế,
nhưng vẫn cũn thiếu chất xỳc tỏc, thiếu một cụng cụ để biến khả năng đó
thành vũ khí lợi hại trong cuộc chơi toàn cầu", đó là nhận định của các
chiến lược gia của Mỹ, Ireland và Việt Nam tại một cuộc hội thảo gần đây
ở TP HCM.
ễng K. Murphy, Chủ tịch Cụng ty J.E Austin Associatộ (một cụng ty chuyờn tư vấn về
chiến lược), nờu dẫn chứng: Sri Lanka rất giàu về cao su, nhưng trước đõy chỉ xuất cao
su tự nhiờn cho cỏc cụng ty sản xuất ụtụ lớn trờn thế giới, thế là bị ộp giỏ tơi bời, sản
lượng xuất đi thỡ lớn nhưng giỏ trị thu về khụng cao. Sau bao nhiờu năm nghiờn cứu thị
trường, cỏc doanh nhõn nước này mới phỏt hiện ra lĩnh vực riờng để cạnh tranh: sản xuất
lốp ụtụ cao su đặc 100%. Thế là họ thắng lớn, hiện chiếm đến 35% thị phần thế giới.
ễng K. Murphy đặt vấn đề: vỡ sao cỏ tra, cỏ basa của Việt Nam bị chơi ở Mỹ, cà phờ
Trung Nguyờn bị tranh giành thương hiệu? Chỉ vỡ họ thiếu một cặp kớnh để nhỡn thấu
đỏo thị trường này.
Chưa chắc giỏ rẻ đó cú người mua
Tiến sĩ Trần Du Lịch, Viện trưởng Viện kinh tế TP HCM, nhận xột: "Nhiều mặt hàng của
Việt Nam cú ưu thế trờn thị trường thế giới như: gạo, cà phờ, hàng dệt may Điển hỡnh
là chỉ cần sản lượng của cỏc mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tăng thỡ cú thể
ảnh hưởng đến giỏ cả thị trường thế giới. Nhưng ụng thừa nhận: "Doanh nghiệp của ta
quỏ đơn độc, họ phải tự chũi đạp trờn thương trường là chớnh, thiếu sự hỗ trợ đắc lực từ
phớa hiệp hội chuyờn ngành, từ phớa cơ quan quản lý nhà nước nờn hiệu quả chỉ được
chăng hay chớ chứ khụng mang tớnh chiến lược dài hơi".
Phú chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thiện Nhõn cũng khẳng định, lõu nay chỳng ta chỉ
bỏn cỏi mà người ta cần và vấn đề quan trọng hiện nay là phải làm thế nào để cỏi mà
chỳng ta cú xớch lại cỏi mà người ta cần. ễng K. Murphy cho rằng, muốn làm được điều
này cần phải hiểu rừ nhu cầu khỏch hàng. Sau đú, mới tiến hành thay đổi chiến lược, thay
đổi sản xuất cho phự hợp với cỏi mà người tiờu dựng tại thị trường đú cần.
Một thương nhõn chuyờn trồng cõy cảnh Việt Nam cho biết, giỏ một cõy bonsai của cụng
ty ụng tại Việt Nam chỉ 10 USD, trong khi đú một cõy tương đương như vậy tại Paris
(Phỏp) đến 500 USD, nhưng ụng vẫn khụng tài nào vào được thị trường này dẫu cú bỏn
thấp hơn. Trong trường hợp này, ụng K. Murphy khuyờn: Trước khi thõm nhập thị
trường nào phải nghiờn cứu kỹ nhiều yếu tố trong đú phải lưu ý đến nhu cầu, thúi quen
người tiờu dựng Đừng nghĩ rằng cứ bỏn rẻ là cú người mua. Hơn nữa phải biết phõn
đoạn thị trường, xỏc định sản phẩm ưu thế của mỡnh để cú thể tiếp cận thị trường một
cỏch thành cụng.
(Theo Thanh Niên)
II - Tình hình cạnh tranh trên thế giới:
Trên thế giới hiện nay,bên cạnh quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới,còn
diễn ra quá trình cạnh tranh hết sức gay gắt .Qúa trình cạnh tranh không chỉ
diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi toàn thế
giới
Cạnh tranh không chỉ tồn tại giữa các công ty mà còn diễn ra giữa các quốc
gia,các vùng lãnh thổ,các ngành,… cạnh tranh diễn ra mọi lúc,mọi nơi.Các
công ty luôn tìm mọi cách tranh giành thị phần,đánh bại đối thủ.Nếu có cơ
hôi sẵn sàng tiêu diệt đối thủ không thương tiếc.Các công ty còn cạnh tranh
với nhau trên phạm vi toàn thế giới,ví dụ như cuộc cạnh tranh giữa
Côcacôla và Pepsi,P&G và Unilevel….Hiện nay,qúa trình cạnh tranh còn
diễn ra khốc liệt hơn trên phạm vi các quốc gia.Điển hình là cuộc chiến
thương mại giữa Mỹ và EU,nguyên nhân là do Mỹ tăng thuế nhập khẩu
thép lên 30%.Do qúa trình hội nhập kinh tế,biên giới giữa các quốc gia dần
dần bị xoá nhoà trên phương diện kinh tế.Việc hội nhập vào các tổ chức
thương mại thế giới như : WTO,AFTA,…khiến việc cạnh tranh giữa các
công ty không còn trong phạm vi quốc gia mà là trên phạm vi thế
giới.Hàng hoá luôn tràn ngập thị trường từ mọi nơi trên thế giới,từ mọi
công ty.Trong qúa trình cạnh tranh khốc liệt đó có không ít công ty bị phá
sản hay phải thay đổi chủ sở hữu.Chính vì vậy,các công ty nhỏ có xu
hướng sát nhập lại với nhau để tạo nên những công ty lớn hơn nhằm tăng
cường sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên qúa trình cạnh tranh này
cũng có mặt trái của nó,trong qúa trình cạnh tranh các nước nhỏ thường bị
thiệt hại do không có sức mạnh kinh tế,kĩ thuật lạc hậu.Và các nước kém
phát triển thường trở thành nơi gia công hàng và là thị trường tiêu thụ phục
vụ lợi ích cho các nước phát triển.
Tại Diễn đàn châu Á diễn ra ở thành phố Bắc Ngao (Trung Quốc), Thủ tướng
Thái Lan Thaksin đó đưa ra lời cảnh báo làm nhiều đại biểu bất ngờ: ''Chúng ta đang tỡm
cỏch chặn họng nhau thay vỡ hợp tỏc để cùng có lợi trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. Kết
quả là châu Á trở thành người thua cuộc lớn nhất trên sàn đấu thương mại thế giới''.
Trong một thập niên gần đây, thế giới được chứng kiến một cuộc cạnh tranh hiếm
có về giá cả giữa những nước châu Á trên thị trường thế giới. Cuộc đua chẳng những diễn
ra giữa các mặt hàng thế mạnh của khu vực như nông sản, hải sản, cây công nghiệp, mà
đó vươn ra khắp các lĩnh vực. Các đối thủ thay nhau chiếm lĩnh thị trường, hiện tượng
đổi ngôi diễn ra thường xuyên.
Thái Lan đó cú lỳc phải nhường ngôi số một xuất khẩu gạo về tay Việt Nam,
cường quốc hải cảng Singapore thỡ vừa mới mất hợp đồng với Công ty Vận tải biển
khổng lồ Evergreen của Đài Loan khi công ty này quyết định chuyển kho trung tâm của
mỡnh từ Singapore sang Malaysia, hàng Trung Quốc với giỏ rẻ đến mức khó hiểu thỡ
búp nghẹt sản phẩm cỏc nước khác trong khu vực.
Cạnh tranh là một động lực thúc đẩy phát triển, điều đó không ai phủ nhận.
Nhưng theo ông Thaksin, cuộc đua giá cả của châu Á là cuộc đua phá giá mà người được
lợi nhất là thị trường các nước phát triển. Trong cuộc đua đó, một nước được chút lợi thỡ
hàng loạt nước khác lao đao, mà đáng ra tất cả đều có lợi nếu biết hợp tác cùng nhau.
Chính vỡ thế mà theo ụng Thaksin, chõu Á cần phối hợp trong cạnh tranh, phải coi nhau
như đồng minh cùng một chiến hào chiếm lĩnh thị trường khu vực khác, chứ không phải
là giành chiếm thị trường của nhau, đừng để các nước khác lợi dụng sự thiếu đoàn kết của
châu Á mà ép về giá cả.
Khu vực luụn cú sự ràng buộc, không thể có một nước riêng lẻ vọt mạnh lên khi
mà bức tranh chung khu vực lại ảm đạm. Vỡ thế, ''chặn họng'' người láng giềng bây giờ
để thu chút lợi trước mắt có thể chính là chặn con đường phát triển của mỡnh trong tương
lai. Hợp tác cạnh tranh là yếu tố khụng thể thiếu trong cạnh tranh toàn cầu.
(Theo NLĐ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét