DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
TCTD: Tổ chức tín dụng
TMCP: Thương mại cổ phần
PGD: Phòng giao dịch
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của chi nhánh GP.Bank Ba Đình 27
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng tháng 6 năm 2011 31
Sơ đồ 2.3: Lợi nhuận gộp từ hoạt động tín dụng – Chi nhánh GP.Bank Ba
Đình năm 2009-2010 40
Sơ đồ 2.4: Lợi nhuận gộp từ hoạt động tín dụng – Chi nhánh GP.Bank Ba
Đình 41
( Tháng 6.2010 – tháng 6.2011 ) 41
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại GP.Bank Ba Đình 28
Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn tại GP.Bank Ba Đình 30
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động cho vay tại GP.Bank Ba Đình 32
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ tại GP.Bank Ba Đình 33
Bảng 2.5 : Doanh thu từ dịch vụ - GP.Bank Ba Đình 35
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động kinh doanh của GP.Bank chi nhánh Ba Đình
giai đoạn 2009 - tháng 6 năm 2011 37
Bảng 2.7: Thu nhập lãi thuần của GP.Bank chi nhánh Ba Đình 38
Bảng 2.8 : Lãi/lỗ từ hoạt động dịch vụ - GP.Bank Ba Đình 42
Bảng 2.9 : Chi phí hoạt động – GP.Bank Ba Đình 44
Bảng 2.10 : Trích lập dự phòng rủi ro các quý – CN Ba Đình 46
6
Đơn vị tính: Triệu đồng
46
Nguồn: Phòng Hỗ trợ tín dụng 47
Bảng 2.11 : Chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận – GP.Bank Ba Đình 47
Bảng 2.12: Cho vay phi sản xuất tại GP.Bank Ba Đình thời điểm 30-6-2011 56
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động kinh doanh của một Doanh nghiệp có rất nhiều mục tiêu cần
hướng tới và lợi nhuận là một trong số những mục tiêu đấy. Lợi nhuận không phải
lúc nào cũng là mục tiêu hàng đầu của Doanh nghiệp, việc lựa chọn mục tiêu nào còn
phụ thuộc vào từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể của Doanh nghiệp. Nhưng thực tế
cho ta thấy, lợi nhuận vẫn là mục tiêu chính trong hầu hết các Doanh nghiệp hiện
nay.
Chi nhánh Ba Đình là một chi nhánh mới trong một Ngân hàng mới – Ngân
hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Dầu khí Toàn Cầu (GP.Bank). Chi nhánh Ba
Đình được chính thức thành lập từ năm 2009, giai đoạn đầu thành lập chi nhánh đã
trải qua rất nhiều những khó khăn, vất vả. Sau thời gian nỗ lực phấn đấu đến nay chi
nhánh Ba Đình đã trở thành một trong những chi nhánh có lợi nhuận cao trong Ngân
hàng hiện nay.
Vậy làm sao để tăng cao lợi nhuận hơn nữa? làm sao để chi nhánh phát
triển tốt? Đây là vấn đề mà tôi luôn muốn tìm hiểu và hy vọng có thể áp dụng
những hiểu biết của mình vào hoạt động kinh doanh thực tế tại GP.Bank Ba
Đình nói riêng và Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu nói chung. Vì vậy, tôi đã
lựa chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận tại Ngân hàng
TMCP Dầu khí Toàn Cầu – Chi nhánh Ba Đình” làm nội dung nghiên cứu của
mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và lợi nhuận tại Ngân
hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu nói chung và chi nhánh GP.Bank Ba Đình nói riêng để
thấy được những khó khăn, thuận lợi, những mặt đạt được và chưa đạt được tại Ngân
hàng. Trên cơ sở đó, xây dựng các giải pháp cụ thể để nâng cao lợi nhuận cũng như
hiệu quả kinh doanh tại chi nhánh.
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận về lợi
nhuận Ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng kinh doanh và lợi nhuận tại Ngân
hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Ba Đình để đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao lợi nhuận tại chi nhánh.
Phạm vi nghiên cứu: Những hoạt động kinh doanh và lợi nhuận đạt được tại
Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – Chi nhánh Ba Đình từ khi thành lập (năm
2009) đến tháng 6 năm 2011.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng những lý luận khoa học kết hợp với phân tích thực tiễn
hoạt động kinh doanh của chi nhánh GP.Bank Ba Đình, đề tài đưa ra các giải pháp
mang tính khả thi giúp chi nhánh nâng cao lợi nhuận, hoạt động có hiệu quả và bền
vững, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những giải pháp mà đề tài đưa ra không chỉ là những biện pháp cụ thể, áp
dụng riêng cho chi nhánh GP.Bank Ba Đình mà còn góp phần vào cơ sở lý luận
chung trong việc điều hành và phát triển chi nhánh Ngân hàng một cách hiệu quả và
bền vững, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế nhiều biến động phức tạp và khó khăn
như hiện nay.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 phần chính:
Phần 1: Lý luận chung về lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại
Phần 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn
Cầu – Chi nhánh Ba Đình
Phần 3: Giải pháp tăng lợi nhuận tại Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu –
Chi nhánh Ba Đình
2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng đối với nền kinh tế. Các ngân
hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện
trong nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân
hàng.
Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại.
Ở Mỹ cho rằng : “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên
cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.”
Ở Ấn Độ: “Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay
hay tài trợ hoặc đầu tư.”
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) thì lại định nghĩa: “Ngân hàng thương
mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của
công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài
nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Còn ở Việt Nam, theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng
Nhà nước Việt Nam xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ
mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán.”
Từ những những khái niệm trên ta thấy Ngân hàng thương mại thường được
định nghĩ trên cơ sở những dịch vụ mà nó cung cấp. Đặc trưng của các Ngân hàng
3
thương mại là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận
tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Có thể nói ngân hàng thương
mại đóng vai trò như cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và
bơm vào nơi khan hiếm. Ngân hàng thương mại đã kinh doanh một hàng hóa rất đặc
biệt đó là "vốn- tiền", lãi suất phải trả cho huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay
vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương
mại.Hoạt động của ngân hàng thương mại đã đáp ứng tối đa nhu cầu về vốn của mọi
tầng lớp dân cư, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội
1.1.2. Các hoạt động chính của Ngân hàng thương mại
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng, cung cấp cho
khách hàng nhiều loại hình dịch vụ. Dưới đây là một số các hoạt động chính của ngân
hàng.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng của NHTM nhằm giải
quyết đầu vào, đảm bảo nguồn vốn để cho vay và phục vụ hoạt động thanh toán.
Ngân hàng có thể huy động vốn với nhiều phương thức khác nhau.
• Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu hay vốn tự có của NHTM thường chiếm một tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn ( dưới 10%) nhưng có vai trò vô cùng quan trọng với ngân
hàng. Do tính chất ổn định của nguồn vốn này nên NHTM có thể sử dụng nó vào các
mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tài sản cố định, đầu tư góp
vốn liên doanh,…Vốn chủ sở hữu còn được coi như tài sản đảm bảo cho ngân hàng,
duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng hoạt động thua lỗ. Đây
còn là căn cứ để xác định quy mô hoạt động của một NHTM.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm:
- Vốn điều lệ: là mức vốn được hình thành khi ngân hàng được thành lập. Tùy
4
thuộc vào loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ các nguồn khác
nhau. Nếu là ngân hàng quốc doanh thì vốn điều lệ được hình thành từ ngân sách Nhà
nước, còn nếu là ngân hàng cổ phần thì vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của
các cổ đông,…
- Các quỹ và lợi nhuận chưa chia
• Huy động từ tiền gửi
Nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn
vốn của NHTM. Đây là nguồn vốn quan trọng và thường xuyên nhất của ngân hàng.
NHTM có thể huy động tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế và tổ chức tín
dụng khác dưới các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và các hình thức
khác. NHTM được quyền sử dụng nguồn vốn này trong một khoảng thời gian nhất
định như đã thỏa thuận và phải trả lãi cho việc sử dụng đó, còn quyền sở hữu vẫn
thuộc về người gửi. Tiền gửi được chia thành các loại cơ bản sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán): là loại tiền gửi không thỏa thuận
kỳ hạn, người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần báo trước, tiện lợi nhanh
chóng khi thanh toán, lãi suất thấp, là tiết kiệm duy nhất mà chủ tài khoản được sử
dụng các công cụ thanh toán.
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi có thỏa thuận kỳ hạn gửi, lãi suất cao hơn
tiền gửi không kỳ hạn, người gửi không được sử dụng các công cụ thanh toán.
- Tiền gửi tiết kiệm: là tiền gửi của các cá nhân tổ chức có tiền tạm thời nhàn
rỗi muốn gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lời, có thỏa thuận kỳ hạn
hoặc không kỳ hạn, với tiết kiệm có kỳ hạn thì lãi suất cao hơn, người gửi không
được sử dụng các công cụ thanh toán.
• Nguồn vốn đi vay
Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay
vốn hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng, các NHTM có
thể vay vốn của Ngân hàng trung ương hoặc của các NHTM khác hoạt động tại Việt
5
Nam và các tổ chức tín dụng nước ngoài. Vốn đi vay thông thường chiếm tỷ trọng
không lớn trong kết cấu nguồn vốn. Tuy nhiên, nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng
để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường.
• Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá
Các NHTM có thể huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá. Đây
được coi như một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình
thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi của NHTM.
Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành có thể là giấy tờ có ghi tên hoặc
không ghi tên, người mua có quyền chuyển nhượng hoặc dùng làm vật cầm cố. Các
NHTM muốn huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều
kiện mà phát luật quy định cho từng loại giấy tờ có giá.
• Huy động từ các nguồn khác
Ngoài một số nguồn cơ bản trên thì NHTM có thể huy động vốn thông qua
nghiệp vụ Ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ,… cơ sở quan trọng để mở rộng
nguồn vốn này chính là uy tín của NHTM.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chính cho Ngân
hàng. Nghiệp vụ này luôn chiếm từ 60% đến 90% tổng tài sản có của NHTM và đem
lại nguồn thu chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của Ngân hàng. Tuy nhiên, đây
cũng là hoạt động có nhiều rủi ro và phức tạp nhất. Rủi ro tín dụng có thể do nguyên
nhân chủ quan từ phía Ngân hàng như: Thẩm định hồ sơ không chính xác, sai nguyên
tắc cho vay, … cũng có thể do nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn,…
Hoạt động tín dụng có liên quan và ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh
tế, từ tiêu dùng cho đến sản xuất kinh doanh. Tín dụng có thể được phân loại theo
nhiều tiêu chí khác nhau:
- Theo kỳ hạn cho vay: Tín đụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
- Theo hình thức tín dụng: Tài trợ tín dụng, bảo lãnh, cho thuê, chiết khấu
6
- Theo mục đích sử dụng vốn: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng đầu tư, …
- Theo đảm bảo: Đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố, …
- Theo rủi ro: Tín dụng có độ an toàn cao, an toàn trung bình, an toàn thấp
- Theo ngành kinh tế: Tín dụng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, …
1.1.2.3. Hoạt động đầu tư
Ngoài nghiệp vụ tín dụng, Ngân hàng còn thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm
mục tiêu thanh khoản, phân tán rủi ro và đa dạng hóa tài sản có sinh lời. Hoạt động
đầu tư của các NHTM bao gồm đầu tư chứng khoán và các hoạt động đầu tư khác.
Đầu tư chứng khoán: Đây là nghiệp vụ mang lại cho NHTM một khoản lợi
nhuận tương đối lớn sau hoạt động cho vay. Trong trường hợp hoạt động tín dụng
gặp khó khăn, chưa tìm ra khách hàng đáng tin cậy để cho vay thì đầu tư chứng
khoán là hướng giải quyết vốn một cách hữu hiệu nhất cho NHTM. Tuy nhiên, hoạt
động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro, đòi hỏi các NHTM phải phân tích kỹ lưỡng
trước khi lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu tư cho phù hợp. Tỷ lệ lớn nhất của
các khoản đầu tư chứng khoán là trái phiếu Chính phủ ngắn hạn. Đây là khoản đầu tư
có mức lãi suất hạn chế nhưng linh hoạt, hạn chế được rủi ro và dễ dàng bán lại tại
thị trường liên ngân hàng nếu các khoản đầu tư này cần thu lại sớm.
Các hoạt động đầu tư khác của NHTM bao gồm góp vốn liên doanh, đầu tư vào
bất động sản, đầu tư vào trang thiết bị,…
1.1.2.4. Hoạt động thanh toán
Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng thì số tiền đó không những được Ngân
hàng bảo quản mà khách hàng còn được cung cấp đa dạng các dịch vụ thanh toán liên
quan như: chuyển tiền, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, trả lương qua tài khoản,
nạp thẻ điện thoại,… Thanh toán qua Ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến Ngân hàng để lấy tiền mà chỉ
cần viết giấy chi trả (séc) cho khách và khách hàng sẽ mang giấy đó đến Ngân hàng
7
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét