Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I – Ngân hàng công thương Việt Nam


Tóm lại, TTQT phát sinh trên cơ sở của hoạt động thương mại quốc tế, nó có tác
dụng đòn bẩy làm cho thương mại quốc tế ngày càng phát triển, là yếu tố quan trọng để
đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, là mắt xích không thể thiếu trong dây
chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, khác với hoạt động thanh toán nội địa, trong quan hệ thanh toán quốc tế,
không chỉ đòi hỏi các chủ thể tuân thủ những quy định pháp lý quốc gia, mà còn phải
tuân thủ cả những quy định pháp lý, các hiệp ước, hiệp định quốc tế, cũng như tập quán
và thông lệ ở mỗi nước có quan hệ đối tác. Một số văn bản pháp lý mang tính quốc tế sử
dụng trong thanh toán quốc tế hiện nay:
* Luật thống nhất về Séc quốc tế - ULC1931.
* Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of exchange)-ULB 1930.
* Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform Customs and
Practice for Documentary Credit) – UCP 500.
* e-UCP version 1.0
* Incoterms
* URR 525
* ISP 98
* URG 458
*ISBP

1.1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế
Hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay với xu thế mở cửa nền kinh tế để hội nhập và phát triển. Thông
qua hoạt động thanh toán quốc tế các nước có thể tận dụng được vốn và công nghệ nước
ngoài để thực hiện CNH-HĐH đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế
đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế góp phần mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối
ngoại của đất nước, thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, chúng ta có thể thiết lập

quan hệ với các quốc gia khác để từ đó có thể mở rộng quan hệ mua bán, trao đổi hàng
hoá, thúc đẩy sự giao lưu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá…Chính
những tác động của hoạt động thanh toán quốc tế đến kinh tế đối ngoại lại có tác động trở
lại làm cho hoạt động thanh toán quốc tế phát triển bởi khi kinh tế đối ngoại phát triển thì
kéo theo nó là nhu cầu tất yếu của việc thanh toán trong ngoại thương.
Hoạt động thanh toán quốc tế còn góp phần tăng cường vị thế của các quốc gia trên
trường quốc tế, khi hoạt động thanh toán quốc tế phát triển thì có nghĩa là hoạt động kinh
tế đối ngoại cũng phát triển, qua đó tạo điều kiện để các nước trên thế giới biết đến đất
nước mình. Một đất nước có hoạt động ngoại thương phát triển thì chứng tỏ đất nước đó
tiềm lực về kinh tế trên thương trường quốc tế, tạo ra một vị thế nhất định cho nước đó
trong con mắt của bạn bè thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi
hàng hoá dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.
Tóm lại, đối với nền kinh tế, TTQT góp phần mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế
đối ngoại, tăng cường vị thế kinh tế của mỗi quốc gia trên thương trường quốc tế, là cầu
nối giữa các quốc gia trong quan hệ thanh toán tiền hàng có hiệu quả.
1.1.2.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Trước hết phải khẳng định rằng hoạt động TTQT phát sinh từ nhu cầu thanh toán
xuất nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp. Chính vì vậy nó có vai trò rất qua trọng,
nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các doanh nghiệp này mà còn giúp cho các
doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Trong
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, do vị trí địa lý của các bạn hàng thường cách xa
nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng của người mua, của bên nợ,
đồng thời trong điều kiện thị trường thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của
bên nợ là không chắc chắn, hơn nữa trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trình độ lừa
đảo ngày càng tinh vi, vì vậy rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu ngày
càng nhiều. Nếu hoạt động TTQT có hiệu quả sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu hạn chế được rủi ro trong quá trình kinh doanh quốc tế, qua đó thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu phát triển.
1.1.2.3 Đối với ngân hàng thương mại

Hoạt động TTQT được tiến hành qua các ngân hàng: ngân hàng ở nước người mua,
ngân hàng ở nước người bán. Do vậy, để thực hiện việc thanh toán, các ngân hàng phải
có quan hệ làm ăn với nhau. Chính TTQT làm cho hệ thống ngân hàng trên thế giới trở
nên tương đồng với nhau, tạo điều kiện hoàn thiện hoạt động của hệ thống ngân hàng trên
phạm vi quốc tế. Qua đó các ngân hàng có thể tận dụng được những thành tựu hiện đại
trong công nghệ ngân hàng, giúp cho ngân hàng của mình có thể phát triển để hội nhập
quốc tế.
TTQT là một dịch vụ của ngân hàng, chính vì vậy, vai trò quan trọng nhất của nó là
đem lại lợi nhuận đáng kể từ thu phí TTQT :
+ Những khoản lợi nhuận thu được từ kinh doanh ngoại hối, vì mua bán hàng hoá
với nước ngoài đòi hỏi phải có ngoại tệ thanh toán và ngân hàng chính là người đảm nhận
vai trò cung cấp ngoại tệ cho các bên tham gia mua bán, qua đó thu lợi nhuận cho mình.
+ Lãi thu được từ tài trợ thương mại, bởi vì không phải doanh nghiệp hay cá nhân
nào tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ đều có đủ ngoại tệ để thanh toán, do đó
họ phải tìm ngân hàng là người tài trợ cho mình.
+ Những khoản lợi nhuận thu được từ thu phí dịch vụ TTQT như phí mở L/C, phí
sửa đổi L/C, phí nhờ thu, phí thông báo L/C …
Mặt khác, TTQT còn là một nghiệp vụ không thể thiếu được trong hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng.
Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh
doanh quốc tế, trên cơ sở đó ngân hàng phát triển được các dịch vụ như : huy động vốn
ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ khác, nhờ đó tăng
được quy mô của ngân hàng.
Như vậy, đối với mỗi ngân hàng thương mại thì TTQT là một hoạt động tạo doanh
thu dịch vụ cho ngân hàng, là một mắt xích không thể thiếu và rất quan trọng thúc đẩy
các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển.
1.1.3 Các điều kiện trong hoạt động thanh toán quốc tế
Thông thường trong quan hệ thanh toán quốc tế, những vấn đề liên quan tới quyền
lợi và nghĩa vụ của mỗi bên đều được quy định thành những điều kiện được gọi là điều
kiện thanh toán quốc tế. Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm :

Điều kiện về tiền tệ và đảm bảo hối đoái
Điều kiện về địa điểm thanh toán
Điều kiện về thời gian thanh toán
Điều kiện về phương thức thanh toán
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán
quốc tế. Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các
hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nước, của các hợp đồng
mua bán ngoại thương ký kết giữa người mua và người bán.
1.1.3.1 Điều kiện về tiền tệ và đảm bảo hối đoái
* Điều kiện về tiền tệ
Trong thanh toán quốc tế, các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một
nước nào đó, vì vậy trong các hiệp định và hợp đồng đều có điều kiện về tiền tệ. Điều
kiện về tiền tệ có nghĩa là việc quy định thống nhất việc sử dụng đơn vị tiền tệ nào để
tính toán và thanh toán trong hợp đồng xuất nhập khẩu, đồng thời quy định phương thức
xử lý khi có sự biến động về giá trị của đồng tiền đó xảy ra.
Để đạt được thoả thuận phải có sự phân loại cụ thể các loại tiền trong thanh toán.
Các bên tham gia thanh toán đều muốn lựa chọn đồng tiền nước mình bởi vì như vậy sẽ
tạo điều kiện chủ động trong thanh toán, tránh được những rủi ro do biến động tỷ giá,
đồng thời nâng cao được vị thế của đồng tiền nước đó trên trường quốc tế. Do đó, phải
có thoả thuận tiêu chí lựa chọn đồng tiền dùng trong thanh toán, cụ thể có một số tiêu
chí như sau :
 Đồng tiền phải có vị trí xứng đáng trên thị trường tiền tệ quốc tế.
 Việc lựa chọn đồng tiền nào sẽ phụ thuộc vào tương quan so sánh lực lượng
trong quan hệ thương mại.
 Phụ thuộc vào tập quán sử dụng đồng tiền trong khu vực đó.
 Phụ thuộc vào tập quán thanh toán trong các ngân hàng.
Ngoài ra, việc lựa chọn đồng tiền thanh toán còn phụ thuộc vào tập quán thanh toán
quốc tế với từng ngành hàng, ví dụ trong mua bán trao đổi các kim loại màu thường sử
dụng đồng GBP, hàng nông sản thì thường sử dụng đồng USD.


* Điều kiện đảm bảo hối đoái
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của các đồng tiền dù là đồng tiền mạnh đều có
thể xảy ra sự biến động tăng hoặc giảm, điều đó sẽ gây tổn thất cho người mua hoặc
người bán hàng hoá. Để tránh rủi ro có thể xảy ra khi có biến động tỷ giá, các bên tham
gia thường đàm phán điều kiện đảm bảo hối đoái cho giá trị hợp đồng khi thanh toán
đúng như giá trị hàng hoá đã nhận hoặc đã trao. Có nhiều cách đảm bảo cho giá trị tiền tệ
của hợp đồng :
# Điều kiện đảm bảo bằng vàng :
- Với đồng tiền thanh toán đã được tuyên bố hàm lượng vàng : giá cả hàng hoá và
tổng giá trị hợp đồng dùng một đồng tiền để thanh toán và tính toán, đồng thời quy định
hàm lượng vàng của đồng tiền đó, nếu khi thanh toán mà hàm lường vàng cúa đồng tiền
đó thay đổi, thì theo mức thay đổi mà điều chỉnh giá cả hàng hoá cũng như giá trị của
hợp đồng. Tất nhiên chỉ áp dụng đối với các đồng tiền đã được xác định hàm lượng
vàng, và sự thay đổi hàm lượng vàng là do có thông báo của Chính phủ nước đó tuyên
bố đánh sụt hoặc nâng cao giá trị đồng tiền lên. Cách này hiện nay ít dùng do tính chủ
quan trong việc định giá của đồng tiền.
- Dùng một đồng tiền tính toán giá cả và giá trị hợp đồng, đồng thời quy định giá
vàng thời điểm đó tại một thị trường nhất định làm cơ sở đảm bảo. Khi thanh toán, nếu
giá vàng thay đổi so với lúc ký hợp đồng đến một giới hạn nhất định hoặc có thay đổi thì
sẽ điều chỉnh giá cả hàng hoá và giá trị hợp đồng một cách tương ứng.
Hiện nay đảm bảo bằng vàng hầu như không được sử dụng vì nó không còn phù
hợp nữa. Giá cả của vàng bây giờ chủ yếu bị ảnh hưởng bởi yếu tố cung cầu, nó không
phản ánh đúng biến động giá cả hàng hoá và tỷ giá hối đoái.
# Điều kiện đảm bảo bằng ngoại hối
Là việc lựa chọn một đồng tiền tương đối ổn định, xác định mối quan hệ tỷ giá
với đồng tiền thanh toán để đảm bảo giá trị của hợp đồng. Có thể thực hiện bằng hai
cách như sau :
- Thoả thuận một đồng tiền dùng trong thanh toán và tính toán, đồng thời xác
định tỷ giá giữa đồng tiền đó với một đồng tiền mạnh nào đó (như USD , EUR,

SDR…). Khi đến thời hạn thanh toán, nếu tỷ giá có sự thay đổi, thì giá cả hàng hoá và
tổng giá trị hợp đồng thương mại cũng phải được điều chỉnh tương ứng.
- Trong hợp đồng quy định dùng đồng tiền tính toán và thanh toán là hai đồng
tiền khác nhau. Khi thanh toán căn cứ vào tỷ giá giữa đồng tiền tính toán và đồng tiền
thanh toán để xác định số tiền phải trả. Đây là cách thường dùng trong mua bán ngoại tệ
hiện nay.
Kết hợp hai hình thức đảm bảo trên chúng ta sẽ có được những hình thức đảm
bảo hỗn hợp, bao gồm một số hình thức sau :
# Bảo đảm theo “rổ tiền tệ” : Để tăng thêm độ chính xác của điều kiện đảm bảo
hối đoái, người ta không chỉ dựa vào một đơn vị tiền tệ mà dựa vào một số đơn vị tiền
tệ quốc gia. Khi áp dụng phương pháp này, các bên phải thoả thuận số lượng và số loại
đơn vị tiền tệ được đưa vào “ rổ tiền tệ” và phương pháp xác định tỷ giá của các ngoại
tệ đó so với đồng tiền được đảm bảo vào lúc ký kết hợp đồng và lúc thanh toán. Mục
đích của hình thức này là san bằng sự biến động khác nhau của các đồng tiền khác nhau,
nhắm tạo ra một sự ổn định tương đối. Hình thức này thường được tiến hành theo hai
cách là :
- Tổng giá trị hợp đồng thương mại được điều chỉnh căn cứ vào mức bình quân tỷ
lệ biến động của tỷ giá hối đoái cả “ rổ tiền tệ”.
- Tổng giá trị hợp đồng thương mại được điều chỉnh căn cứ vào tỷ lệ biến động
của bình quân tỷ giá hối đoái của cả “ rổ tiền tệ” tại thời điểm thanh toán so với lúc ký
kết hợp đồng.
# Đảm bảo bằng tiền tệ quốc tế : Tiền tệ quốc tế là các đồng tiền hiệp định thuộc
các khối kinh tế và tài chính quốc tế như SDR, EURO. Tổng giá trị của hợp đồng được
tính toán và thanh toán bằng một ngoại tệ nào đó, đồng thời chọn một đồng tiền quốc tế
làm tiền tệ đảm bảo cho đồng tiền của hợp đồng. Tổng giá trị hợp đồng sẽ được điều
chỉnh căn cứ vào mức chênh lệch giữa tỷ giá của đồng tiền quốc tế và đồng tiền hợp
đồng vào ngày thanh toán so với ngày ký hợp đồng.
# Đảm bảo theo sự biến động của chỉ số giá cả quốc tế đối với hàng hoá đó:
Đây là hình thức mà người ta dựa vào sự thay đổi của chỉ số giá cả mà thay đổi
giá trị của hợp đồng một cách tương ứng. Thực tế, đây không phải là một cách làm

chính xác, vì chỉ số giá không chỉ phản ánh sự biến động của tiền tệ mà nó còn phản
ánh sự biến động của nhiều nhân tố khác, đặc biệt là các nhân tố về cung cầu hàng hoá
và dịch vụ, khả năng sản xuất.
1.1.3.2 Điều kiện về địa điểm thanh toán
Điều kiện về địa điểm thanh toán có nghĩa là việc quy định nghĩa vụ thanh toán
tiền trong hợp đồng thương mại sẽ được thực hiện ở đâu. Thông thường bên nào cũng
muốn trả tiền tại nước mình do các lợi thế sau :
- Có thể đến ngày trả tiền mới phải chi tiền ra, đỡ đọng vốn nếu là người nhập
khẩu hoặc có thể thu tiền về nhanh chóng nếu là người xuất khẩu.
- Ngân hàng nước mình thu được phí dịch vụ
- Có thể tạo điều kiện nâng cao vị thế của thị trường tiền tệ nước mình trên trường
quốc tế.
Trong thanh toán ngoại thương thì địa điểm thanh toán có thể ở nước người nhập
khẩu, nước người xuất khẩu hoặc ở một nước thứ ba nào đó. Nhưng trong thực tế, việc
xác định địa điểm thanh toán là do sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng
thời cũng còn thấy rằng dùng đồng tiền thanh toán của nước nào thì địa điểm thanh toán
là nước ấy.
1.1.3.3 Điều kiện thời gian thanh toán
Điều kiện về thời gian thanh toán chỉ rõ thời hạn người nhập khẩu phải trả tiền cho
người xuất khẩu theo quy định trong hợp đồng thương mại. Đây là điều kiện mang tính
chất bắt buộc đối với các giao dịch thanh toán quốc tế.
Việc xác định thời gian thanh toán là mối quan tâm lớn của các bên tham gia trong
giao dịch quốc tế, vì thời gian thanh toán luôn gắn với các biến động của thị trường tài
chính kể từ ngày ký hợp đồng đến ngày thanh toán. Thời hạn thanh toán chứa đựng các
rủi ro từ sự biến động của thị trường mà bên tham gia phải gánh chịu. Do đó, cần phải
có đàm phán lựa chọn. Điều kiện thời gian thanh toán thường được thoả thuận theo một
trong ba cách sau đây :
* Trả tiền trước : Nghĩa là toàn bộ hay một phần tiền của hợp đồng thanh toán
được trả ngay trước khi thực hiện nghĩa vụ đối ứng. Thực chất đây là hình thức cung

cấp tín dụng của bên nhập khẩu cho bên bán hoặc bên bán yêu cầu bên mua phải có một
phần tiền ứng trước mang tính chất tiền đặt cọc.
* Trả tiền ngay : Có nghĩa là người phải trả thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho
người nhận ngay khi nhận được điện báo chuyển hàng, trả ngay khi nhận được bộ
chứng từ hoặc ngay khi nhận được lô hàng đầu tiên.
* Trả tiền sau : Là thoả thuận theo đó bên mua đã nhận được hàng thậm chí sử
dụng một thời gian nhất định mới phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Đây thực chất là
hình thức cấp tín dụng của người bán cho người mua. Hình thức này rất hay gặp trong
kinh doanh, vừa giúp người mua nhận được hàng trước khi có tiền vừa giúp người bán
tiêu thụ hàng hoá nhanh hơn, tạo lập quan hệ thân tín trong kinh doanh.
Tuy nhiên trong thực tế, ngoài một trong ba hình thức thanh toán trên thì cũng có
những trường hợp người ta vận dụng tổng hợp các hình thức để có thể đem lại hiệu quả
cao nhất trong thanh toán.
1.1.3.4 Điều kiện phương thức thanh toán
Quan hệ thanh toán quốc tế được tiến hành thông qua các phương thức thanh toán.
Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất trong thanh toán quốc tế.
Phương thức thanh toán quốc tế hiểu một cách đơn giản là một cách thức nhất
định, thông qua đó người mua trả tiền, nhận hàng và người bán nhận tiền, trao hàng. Để
phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và thanh toán quốc
tế, người ta đã thiết lập những phương thức thanh toán khác nhau.
Tùy theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, các bên đối tác trong quan hệ
thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau, cùng sử dụng một phương thức
thanh toán thích hợp. Việc chọn phương thức nào suy cho cùng cũng xuất phát từ yêu
cầu của cả hai phía : về phía người bán, sao cho nhận được tiền nhanh chóng và đầy đủ,
còn về phía người mua, sao cho nhận được hàng đủ số lượng, đúng chất lượng và đúng
thời hạn.
1.1.3.4.1 Phương thức chuyển tiền ( Remittance )
* Khái niệm
Là phương thức thanh toán, trong đó một khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ
mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi ở nước ngoài, ngân hàng

chuyển tiền thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài hưởng lợi để thực hiện
nghiệp vụ chuyển tiền.
Phương tiện mà khách hàng có thể lựa chọn sử dụng là chuyển tiền bằng thư (mail
transfer) hoặc điện (telegraphic transfer), chuyển tiền bằng điện nhanh hơn chuyển tiền
bằng thư và trong thực tế chủ yếu dùng hình thức chuyển tiền bằng điện.
Phương thức này chỉ áp dụng khi người bán rất tín nhiệm nguời mua, hoặc dùng
trong quan hệ đại lý, thanh toán phụ phí liên quan đến xuất nhập khẩu, hoặc chuyển
kiều hối. Trong xuất khẩu không nên sử dụng phương thức này vì rất dễ bị chiếm dụng
vốn và có nhiều rủi ro trong thanh toán, ngân hàng chỉ đóng vai trò thực hiện yêu cầu
của khách hàng, không đóng vai trò một trung gian thanh toán theo ý chí của người trả
tiền.
* Quy trình
Đây là phương thức thanh toán quốc tế có quy trình đơn giản nhất, phụ thuộc hoàn
toàn vào thiện ý của người trả tiền.
Sơ đồ quá trình thanh toán bằng chuyển tiền:






1. Người hưởng lợi ( nhà xuất khẩu ) chuyển hàng và bộ chứng từ hàng hoá cho
người mua.
2. Người chuyển tiền ( nhà nhập khẩu ) sau khi kiểm tra hàng hoá, chứng từ thấy
phù hợp với thoả thuận của hai bên, lập thủ tục chuyển tiền gửi ngân hàng phục vụ mình.
3. Ngân hàng chuyển tiền lập thủ tục chuyển qua ngân hàng đại lý ở nước ngoài
của mình.
4. Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng.
2 4
1
3
NH chuyển
ti
ền

Người chuyển
ti
ền

NH đại lý
Người hưởng

Hình thức thanh toán này có thời gian thực hiện và độ an toàn khác nhau nên chi phí
cũng khác nhau.
1.1.3.4.2 Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment)
* Khái niệm
Là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng
một dịch vụ nào đó cho nhà nhập khẩu thì tiến hành uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền
hàng trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng từ kèm hối phiếu do người xuất khẩu lập.
* Nhờ thu trơn ( clean collection )
+ Khái niệm : Nhờ thu trơn là phương pháp mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ
tiền hối phiếu của người mua, nhưng không kèm theo điều kiện gì cả.
Phương pháp này chỉ áp dụng khi người bán và người mua tin cậy lẫn nhau và có
quan hệ chi nhánh hoặc liên doanh với nhau, hoặc chỉ dùng thanh toán phụ phí liên quan
đến xuất nhập khẩu mà không cần đến chứng từ kèm theo như : phí vận tải, tiền phạt…
Phương thức này không tạo ra đảm bảo cho người bán vì người mua có thể nhận hàng mà
trì hoãn trả tiền, hoặc phải trả tiền mà không chắc chắn có nhận được hàng hay không
trong trường hợp chứng từ đòi tiền đến trước hàng hoá.
* Nhờ thu kèm chứng từ ( Documentary collection )
+ Khái niệm : Là phương thức mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng
thu hộ với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao
toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để họ nhận hàng.
Đây là phương thức mang lại lợi thế cho người mua. Nó an toàn hơn cho người bán,
khống chế được việc nhận hàng mà không trả tiền nhưng lại không ngăn được việc họ từ
chối hàng hoá và từ chối trả tiền. Lúc đó các chi phí vận chuyển, lưu kho phát sinh sẽ là
rủi ro cho người bán. Mặt khác nảy sinh từ việc trì hoãn nhận hàng và trả tiền của người
mua gây thiếu vốn lưu động cho nhà sản xuất.
+ Quy trình :


4
2

4

4

3

1

3
NH bên bán

Ngư
ời bán

Ngân hàng bên
mua

Ngư
ời
mua

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét