Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

đoc tieu thanh ki

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận,nộI dung bài viết được chia
thành các phần như sau:
Sơ lược về tác gia Nguyễn Du và thơ chữ Hán Nguyễn Du.
Độc Tiểu Thanh ký nhìn từ góc độ tiếp nhận văn học.
4.Dự kiến đóng góp:
Có thể nói từ xưa đến nay có hàng trăm nghìn công trình nghiên cứu
về Nguyễn Du nhưng việc tìm hiểu kỹ lưỡng và sâu sắc về vấn đề
tiếp nhận vớI các sáng tác của ông thì hầu như còn là một khoảng
trống.Chúng tôi hy vọng vớI hướng tìm hiểu này sẽ là một hướng
nghiên cứu mớI góp phần hoàn thiện hơn các cách tiếp cận sản
phẩm tinh thần của nhà thơ, nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn, sáng rõ hơn
con ngườI, cuộc đờI tác giả cũng như ý nghĩa nhân sinh mà Nguyễn
Du muốn gửI gắm qua Độc Tiểu Thanh Ký.
B - PHẦN NỘI DUNG
I.Sơ lược về tác gia Nguyễn Du và thơ chữ Hán Nguyễn Du:
1.Một vài nét khái quát về cuộc đờI:
Nguyễn Du ( 1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, ông
sinh ra và lớn lên trong một gia đình quý tộc quyền quý,gốc gác ở
Thanh Oai – Hà Tây.Tổ tông Nguyễn Du từng theo nhà Mạc nên khi
nhà Mạc sụp đổ,gia tộ họ Nguyễn đã chạy vào Hà Tĩnh sinh sống tạI
quê làng Tiên Điền ,huyện Nghi Xuân.
Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm( 1708-1776)là ngườI thông
minh, tài năng đã từng giữ chức tể tướng trong triều đình Lê -
Trịnh.Mẹ Nguyễn Du là ngườI thiếp thứ ba tài sắc của Nguyễn
Nghiễm có tên là Trần Thị Tần(1740-1778) con gái của một ông làm
chức câu kê quê ở Hoa Thiêù – Đông Ngàn xứ Kinh Bắc ( Bắc Ninh
ngày nay).
Nguyễn Du có 4 ngườI anh chị em ruột cùng do bà Tần sinh ra là :
Nguyễn Trụ( mất sớm), Nguyễn Nễ, Nguyễn Ức ,Nguyễn Thị Diên
ngoài các anh chị em cùng cha khác mẹ.
Thủa nhỏ Nguyễn Du sống trong một gia đình đạI quý tộc, được học
tập trong một nền giáo dục tốt nhất.Tuy nhiên ông sống trong nhung
lụa không được lâu.MườI tuổI Nguyễn Du mồ côi cha, mườI hai tuổI
mất mẹ.Bốn anh em Nguyễn Du phảI đến nương tựa ngườI anh cả
cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản- nổI tiếng là một ngườI phong
lưu.Bấy giờ Nguyễn Khản đang giữ chức Tả thị Lang Bộ Hình kiêm
Hiệp trấn Sơn Tây. Ông rất được chúa Trịnh Sâm trọng dụng. Đến
khi Nguyễn Du 18 tuổI,Nguyễn Khản mất thế,bị kiêu binh truy đuổI,bỏ
chạy về Hà Tây.Do đó mà cuộc sống Nguyễn Du gặp nhiều khó
khăn.
Năm 1783, Nguyễn Du thi đỗ tam truờng ở kì thi Hương Sơn Nam
nhưng ông không thi cao hơn nữa.
Năm 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long mượn danh nghĩa
phù Lê diệt Trịnh, Nguyễn Du chạy theo vua Lê Chiêu Thống nhưng
không kịp nên phảI sống nhờ vào ngườI anh vợ là Đoàn Nguyễn
Tuấn- lúc đó là một mệnh quan giữ chức Thị Lang Bộ LạI trong triều
Tây Sơn.Năm 21 tuổI, ông về sống ở quê vợ là tỉnh Thái Bình sau đó
trở về Hà Tĩnh. Đây được coi là quãng thờI gian “mườI năm gió bụI”
trong cuộc đờI Nguyễn Du.Nhà thơ có cơ hộI được tiếp xúc ,chứng
kiến đờI sống khó khăn của nhân dân. Đó là tiền đề giúp cho Nguyễn
Du sáng tác những bài thơ mang giá trị nhân đạo sâu sắc.
Năm 1802, Nguyễn Du ra làm quan cho triều Nguyễn sau sự kiện
Nguyễn Ánh lật đổ vị vua trẻ của triều Tây Sơn là Nguyễn Quang
Toản,lên làm vua đóng đô ở Huế.Nguyễn Du làm quan võ ngắn hạn
sau đó ông được bổ làm chức quan tri huyện - huyện Phù Dung phủ
Khoái Châu – Hưng Yên. Đường công danh của Nguyễn Du phát
triển tuơng đốI thuận lợI .Năm 1805 ông được thăng chức Đông Các
điện học sĩ,phong tước Du đức hầu.1807 được bổ làm giám khảo kỳ
thi Hương ở HảI Dương.1809 đến 1813 ông giữ chức cai bạ ở
Quảng Bình.
Năm 1813, Nguyễn Du được thăng chức Cần chánh điện ĐạI học sĩ :
là một trong bốn vị đạI thần tốI cao của triều đình và đuợc cử làm
chánh sứ đi Trung Quốc lần thứ nhất.Sau khi đi sứ về Nguyễn Du
tiếp tục được thăng chức Hữu tham tri bộ Lễ(1818).
Năm 1820, Nguyễn Du tiếp tục được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc
lần thứ hai sau khi vua Minh Mạng lên ngôi.Nhưng chưa kịp đi thì
Nguyễn Du đột ngột qua đờI trong một đạI dịch ghê gớm gây chết
hàng vạn ngườI ,huởng thọ 54 tuổi.( Có tài liệu ghi chép rằng
Nguyến Du nhiễm dịch nhưng không uống thuốc ,kiên quyết cự tuyệt
việc chữa bệnh , ông “nuơng bệnh mà chết”)
Nguyễn Du là một con ngườI tài hoa, phong lưu, đa tình.Sự nghiệp
văn chương của ông bao gồm cả hai thể loạI viết bằng chữ Hán và
chữ Nôm.Các sáng tác bằng Chữ hán có các tập thơ tiêu biểu như :
Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm,Bắc hành tạp lục.Các
sáng tác bằng chữ Nôm nổI tiếng nhất là Truyện Kiều(Đoạn trường
tân thanh).Ngoài ra còn có một số tác phẩm viết bằng thơ lục Bát
như: Thác lờI trai phường Nón, văn tế có Văn tế sống trường lưu nhị
nữ, Văn tế thập loạI chúng sinh.
2.Một số đặc điểm thơ chữ hán Nguyễn Du:
Thơ chữ hán Nguyễn Du gồm 249 bài thơ được sáng tác trong
khoảng 30 năm(1786-1813).249 bài thơ đó được xếp vào ba tập thơ
lớn là :Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp
lục.
Thanh Hiên tiền hậu tập là tập thơ bao gồm 78 bài, được sáng tác
trong 3 giai đoạn chủ yếu :
Giai đoạn từ năm 1786 khi quân Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra bắc
cho đến năm 1796 khi Nguyễn Du trở về sống ở Hà Tĩnh.Giai đoạn
sáng tác trong “mườI năm gió bụI” ,phong trần của nhà thơ.
Giai đoạn từ năm 1796 đến 1802:từ khi Nguyễn Du trở về sống ở Hà
Tĩnh đến khi ra làm quan cho triều Nguyễn.Tựa đề cho sáng tác giai
đoạn này là” DướI chân núi Hồng”.
Giai đoạn từ 1802-1804: thờI gian Nguyễn Du ra làm quan tri huyện
ở Hưng yên.
Nam trung tạp ngâm bao gồm 40 bài đựơc làm trong khoảng từ năm
1805 đến 1812.Bắt đầu từ khi Nguyễn Du ra làm quan ở kinh đô và
được thăng chức Đông các điện học sĩ đến hết thờI gian ông giữ chứ
cai bạ ở Quảng Bình.
Bắc hành tạp lục gồm 131 bài được làm khi Nguyễn Du đi sứ Trung
Quốc lần thứ nhất.Bài đầu của tập là Long Thành cầm giả ca làm khi
nhà thơ đi qua Thăng Long (tháng 2 năm 1813) và bài cuốI cùng là
Chu Phát ( cuốI năm 1813).Các bài thơ trong tập thơ này chủ yếu là
được làm trong hoàn cảnh “tức cảnh sinh tình”.
Độc Tiểu Thanh Ký là bài thơ thuộc Thanh Hiên tiền hậu tập hay Bắc
hành tạp lục hiện nay còn rất nhiều tranh cãi và thực sự chưa được
ngã ngũ. Đây là bài thơ “có vấn đề” bậc nhất trong toàn tập thơ chữ
hán Nguyễn Du , bởI xét sự tiếp nhận Độc Tiểu Thanh Ký trong tổng
thể Thanh Hiên tiền hậu tập hay tổng thể Bắc hành tạp lục sẽ tạo
nên cách hiểu có những nét khác nhau.Tuy nhiên có nhiều ý kiến
nghiêng về cách đọc tác phẩm này trong tổng thể Thanh Hiên tiền
hậu tập.
II- Độc Tiểu Thanh Ký nhìn từ góc độ tiếp nhận văn học:
1.Lịch sử sưu tầm - giớI thiệu tác phẩm và đôi nét khái quát về
câu chuyện cuộc đờI nhân vật nàng Tiểu Thanh:
Bài thơ Độc Tiểu Thanh ký chính thức được tìm thấy văn bản chữ
hán ( bản thơ mà các dịch giả sử dụng để dịch nghia - dịch thơ) vào
năm 1959 trong bản thơ chữ hán Nguyễn Du được lưu trong tủ sách
của Vụ Bảo Tồn ( Sở văn hóa) sưu tầm sau thờI kì cảI cách ruộng
đất mang tên Thanh Hiên thi tập.tuy nhiên tập thơ này lạI chép lẫn
lộn sáng tác của Nguyễn Du qua cả 3 thờI kỳ.Duy chỉ có 2 câu cuốI
của bài thơ là được lưu truyền từ những năm hai mươi của thế kỷ
này và có một số ý kiến cho rằng đó là 2 câu thơ khẩu chiếm Nguyễn
Du buột miệng đọc trước khi mất.
Về nhân vật nàng Tiểu Thanh hiện nay cũng có rất nhiều ý kiến khác
nhau.Có nhânđịnh cho rằng đó chỉ là nhân vật văn học nhưng cũng
có ý kiến khẳng định nhân vật đó hoàn toàn có thật.Câu chuyện về
cuộc đờI nàng được ghi chép trong sách Tình sử, Nữ liêu trai chí dị
sau Trương Triều đầu đờI Thanh đưa vào sách Ngu sơ tân chí và có
tên là “ Tiểu Thanh truyện”.Câu chuyện về nữ tài tử giai nhân này có
thể tóm tắt đôi dòng như sau:
Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái tài sắc sống ở đầu đờI
Minh.Nàng họ Phùng tên thường gọI là Huyền Huyền (hay Nguyên
Nguyên).Từ nhỏ nàng đã tỏ ra là ngườI thông minh ,thông thạo nhiều
môn nghệ thuật như thi ca,hộI họa , âm nhạc.Năm Tiểu Thanh 16
tuổI, nàng được gả làm thiếp một công tử quyền quý nhưng là ngườI
bồng bột,xốc nổI, ngốc nghếch họ Phùng quê ở Hổ Lâm, nhà ở
Quảng Lăng ,Giang Tô.Vợ cả là ngườI độc ác lạI hay ghen bắt nàng
phảI ở riêng trên núi Cô Sơn, cạnh Tây Hồ.Không cho tiếp xúc vớI
chồng .Cô buồn khổ , ấm ức tấm lòng gửI cả vào thơ,từ.Tiểu Thanh
sinh bệnh vì buồn khổ và chết ở tuổI 18.Vợ cả đốt hết cả tranh vẽ
nàng cùng toàn bộ thơ,từ.Chỉ còn sót lạI 9 bài tuyệt cú,1 bài cổ thi,1
bài từ kèm theo một bài trong bức thư gửI cho vị phu nhân nào đó ,
tổng cộng là 12 bài , được ngườI đờI sau khắc in gọI là tập Phần dư.
Về tình hình tiếp nhận Độc Tiểu Thanh ký ,chúng tôi tạm chia làm các
giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: từ đầu thế kỷ hai mươi đến năm 1959.
Giai đoạn 2: từ năm 1959 đến 1975.
Giai đoạn 3: Từ 1975 đến 1991.
Giai đoạn4: từ 1991 đến 1999.
Giai đoạn5 :từ 1999 đến nay.
Sở dĩ có sự tạm chia các giai đoạn tiếp nhận theo các mốc thờI gian
như vậy là chúng tôi có tham khảo sự phân chia các quá trình nghiên
cứu thơ chữ hán Nguyễn Du trong bài viết :Vài nét về việc sưu tầm
,dịch thuật ,giớI thiệu và nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du của tác
giả Nguyễn Thị Nương đăng trên tạp chí Hán Nôm số 1 – 2006.
( Trong bài viết này tác giả đã phân chia quá trình nghiên cứu thơ
chữ hán Nguyễn Du làm ba giai đoạn: từ đầu thế kỷ hai mươi đến
năm 1954, từ 1954 đến 1975,từ 1975 đến 2004).Mặt khác chúng tôi
có chọn thêm các mốc thờI gian cụ thể khác như: 1959,1991,1999
bởI vì trong những năm đó có một số sự kiện liên quan đến việc tiếp
nhận bài thơ.Như năm 1959 : bài thơ chính thức tìm thấy nguyên bản
chữ Hán.Năm 1991 bắt đầu nổ ra cuộc tranh luận về cách hiểu bài
thơ do tác phẩm này được đưa vào giảng dạy trong trường
THPT.NgườI châm ngòi đầu tiên cho cuộc tranh luận này là tác giả
Nguyễn Danh Đạt và kéo dài cho đến năm 1999 thì tương đốI chấm
dứt.
2.Quá trình tiếp nhận Độc Tiểu Thanh ký:

Xem chi tiết: đoc tieu thanh ki


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét