LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam pptx": http://123doc.vn/document/1049037-tai-lieu-tieu-luan-hoan-thien-cong-tac-xep-hang-tin-dung-doi-voi-khach-hang-doanh-nghiep-tai-so-giao-dich-1-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-viet-nam-pp.htm
tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng. Mặt khác, người vay cũng tin vào hiệu quả của
việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng có tính thời hạn. Tín dụng là sự chuyển lượng tạm
thời một lượng tài sản của người sở hữu cho người đi vay nhưng phải trong một thời gian
nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi
Thứ ba, sau một thời gian như đã thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người
vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá của việc được quyền
sử dụng vốn của người khác. Do vậy, giá này phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho
người chuyển nhượng và sử dụng vốn.
Thứ tư, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là do sự mất cân
xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro đó ngoài
những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng, còn có những
nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi
của chính sách, những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch hoạ…
1.1.2. Những hình thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
Trên cơ sở nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp mà tín dụng ngân hàng có thể phân
loại theo các căn cứ sau:
- Căn cứ vào mục đích vay:
+ Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản như: nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại…
+ Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu
động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
+ Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón,
thuốc trừ sâu, giống…
- Căn cứ vào thời hạn cho vay:
+ Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay dưới 12 tháng nhằm bù đắp sự thiếu hụt tạm thời
vốn lưu động của doanh nghiệp.
+ Cho vay trung và dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm nhằm đầu tư mua
sắm tài sản cố định, xây nhà xưởng, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Căn cứ và độ tín nhiệm đối với ngân hàng:
+ Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như: thế chấp, cầm
cố, bảo lãnh…
+ Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự
bảo lãnh của bên thứ 3, việc cho vay hoàn toàn dựa trên sự tín nhiệm của ngân hàng đối
với khách hàng.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
+ Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có
nhu cầu vay vốn.
+ Cho vay gián tiếp: Là hình thức cấp vốn thông qua mua lại các khế ước hoặc chứng từ
nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các loại cho vay gián tiếp như: Chiết
khấu, bao thanh toán…
- Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
+ Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp
đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm: cho vay có kỳ hạn trả nợ, cho vay có nhiều kỳ hạn
trả nợ, cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn cụ thể…
+ Cho vay không có thời hạn cụ thể: Là hình thức cho vay mà trong đó, ngân hàng hoặc
người đi vay tự nguyên trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
- Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng:
+ Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp
bằng tiền.
+ Cho vay bằng tài sản: Đây là hình thức tín dụng thường thể hiện ở nghiệp vụ cho thuê.
1.1.3. Vai trò của tín dụng đối với doanh nghiệp vay vốn
Nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại các yếu tố cạnh tranh, các doanh nghiệp
muốn chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh của mình thì không còn con
đường nào khác là phải không ngừng nâng cao quy mô chất lượng hoạt động kinh doanh
của mình. Để làm được điều đó và sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn; TDNH là sự lựa
chọn tối ưu của các doanh nghiệp.
Thứ nhất, TDNH là công cụ tài trợ cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu
vốn phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp, ngân hàng là kênh cung cấp nguồn vốn để phục vụ quá
trình sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là khi tích luỹ nội bộ của doanh nghiệp này còn hạn
chế. lại rất khó thu hút nguồn vốn từ thị trường vốn vì quy mô nhỏ, không hấp dẫn thì
vốn từ ngân hàng lại càng có vị trí quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp này. Vì vậy, NHTM là một trong những kênh tài trợ vốn nhằm thoả mãn
nhu cầu vốn của doanh nghiệp để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được thường
xuyên, liên tục, hoặc đáp ứng yêu cầu đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất
ngày càng tăng tại doanh nghiệp.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Khi cấp tín dụng cho doanh nghiệp, ngân hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có được
những phương án, dự án kinh doanh có tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao. Bản thân
doanh nghiệp cũng cần tính toán hiệu quả kinh tế sao cho họ vừa có lợi nhuận và hoàn trả
được gốc và lãi vay cho ngân hàng. Đồng thời, ngân hàng cũng thường xuyên kiểm tra,
giám sát việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục
đích, có hiệu quả và tạo ra được lợi nhuận. Như vậy TDNH có tác dụng tăng cường chế
độ hạch toán kinh tế không chỉ đối với các NHTM, mà cả với doanh nghiệp đi vay.
Thứ ba, tín dụng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp.
Nguồn vốn của doanh nghiệp, xét trên góc độ sở hữu thì bao gồm hai nguồn: Một
là. nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do các chủ sở hữu doanh nghiệp đóng góp ban
đầu và tạo lập trong quá trình kinh doanh; hai là, nợ phải trả là các khoản vay, nợ các chủ
nợ như: ngân sách, NHTM, nhà cung cấp… Để có cơ cấu vốn tối ưu, doanh nghiệp
không bao giờ sử dụng toàn bộ nguồn vốn tự có của mình để sản xuất kinh doanh mà cần
có sự cân đối giữa nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay nhằm lợi dụng hiệu quả của đòn
bẩy tài chính.
Ngoài ra, TDNH là một kênh đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế, góp
phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định đời sống dân cư, tạo công ăn việc làm và
đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
1.1.4. An toàn trong hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của NHTM, mang lại nguồn thu nhập
đáng kể cho ngân hàng. Nhưng hoạt động tín dụng bản thân nó cũng tiềm ẩn những rủi ro
mà nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn cho ngân hàng nói riêng và ảnh hưởng đến cả nề kinh
tế nói chung. Vì thế, việc nhận dạng RRTD là cần thiết để giúp ngân hàng đưa ra cac
phương pháp phòng chống thích hợp, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng ngân
hàng.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, theo điều 2 của quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của TCTD ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
Thống đốc ngân hàng nhà nước, là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng
của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
của mình theo cam kết.
Hậu quả rủi ro tín dụng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, nó sẽ để lại hậu quả rất lớn không chỉ với ngân hàng mà
còn ảnh hưởng đến nền kinh tế. Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn
tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền
huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi
không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có
hiệu quả, ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, làm mất lòng tin người
gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc
phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản. Hoạt động ngân hàng mang tính chất dây chuyền,
khi một ngân hàng gặp khó khăn sẽ gây ảnh hưởng đến các ngân hàng khác. Sự hoảng
loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh
tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định, từ gây
hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế.
Yêu cầu quản trị rủi ro tín dụng
Hậu quả khi rủi ro tín dụng xảy ra là rất lơn, tuy nhiên hiện nay, các NHTM Việt
Nam vẫn đang phải đối mặt với tình trạng nợ xâu, nợ tồn đọng rất cao. Công tác cung
cấp, khai thác và sử dụng thông tin tín dụng tại nhiều NHTM vẫn còn yếu, còn có tình
trạng một khách hàng vay vốn tại nhiều NHTM nhưng không có sự kiểm tra, đánh giá về
mức độ rủi ro. Việc phân tích, đánh giá rủi ro khách hàng còn nhiều bất cập, chưa hỗ trợ
hiệu quả cho việc ra quyết định cho vay và thu hồi nợ. Nguyên nhân của tình trạng này là
do công tác quản trị rủi ro tín dụng chưa được tiến hành một cách quy mô, rủi ro tín dụng
chưa được xác định, đo lường đánh giá và kiểm soát một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với
thông lệ Quốc tế và yêu cầu hội nhập.
Do đó, song song với việc tăng cường tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống
ngân hàng là phải chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng và hoàn thiện các giải pháp nâng
cao quản trị rủi ro tín dụng. Để thực hiện quản trị rủi ro tín dụng, Hiếp ước Base II cho
phép các ngân hàng lựa chọn giữa “phương pháp dựa trên đánh giá tiêu chuẩn” và
“phương pháp dựa trên đánh giá nội bộ”. Đến nay, hầu hết các ngân hàng đều đang xây
dựng phương pháp đánh giá nội bộ, đây chính là nòng cốt của quản trị rủi ro tín dụng
1.2. TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng
Hiện nay, có nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc thực hiện đánh giá, xếp
hạng khách hàng vay vốn tại NHTM như: xếp hạng người vay (borrower rating), xếp
hạng rủi ro người vay (borrower risk rating), xếp hạng rủi ro tín dụng (cerdit risk rating).
xếp hạng tín dụng và xếp hạng khách hàng … Về mặt bản chất thì những thuật ngữ này
đều giống nhau được sử dụng để chỉ một quá trình gồm hai công đoạn: Phân tích, đánh
giá để chấm điểm và xếp hạng khách hàng. Hiện nhiều NHTM Việt Nam cùng dùng thuật
ngữ xếp hạng tín dụng để gọi quá trình này vì nó thể hiện được bản chất là việc đánh giá,
xếp hạng rủi ro của khách hàng trong quan hệ tín dụng với NHTM
Có nhiều khái niệm về xếp hạng tín dụng như: “ XHTD doanh nghiệp vay vốn là
đánh giá và phân loại sự tin cậy về khả năng trả nợ vốn gốc và lãi cảu người vay trong
thời gian tới”. Theo một tài liệu của citibank thì: “Xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện tôừi
về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự
sẵn sàng và khả năng người đi vay có thể thanh toán gốc và lãi khoản vay đúng hạn”
Thực chất, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM là việc phân tích,
xếp hạng các doanh nghiệp là đối tượng khách hàng của NHTM, đặt trong mối quan hệ
biện chứng với môi trường kinh doanh, kinh tế, chính trị, xã hội và khả năng đáp ứng của
ngân hàng. Cơ sở của việc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn là các thông tin thu
thập được. Với những phương pháp phân tích và các chỉ tiêu phân tích phù hợp với mục
đích nghiên cứu của ngân hàng để làm rõ thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh cả về
nguồn lực, tiềm năng, lợi thế kinh doanh cũng như những rủi ro tiềm ẩn về khả năng trả
nợ của doanh nghiệp để các NHTM kịp thời đưa ra những quyết sách phù hợp nhằm ngăn
ngừa, hạn chế rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh. Và đưa ra thông tin bổ sung
cho NHNN trong công tác quản lý, hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ.
Việc XHTD khách hàng doanh nghiệp là một quá trình, nó được bắt đầu từ khi xác
định mục đích nghiên cứu đến việc thu thập, xử lý thông tin trong quá trình quản lý và
đánh gái chất lượng thông tin thông qua quá trình sử dụng.
1.2.2. Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Thứ nhất, xếp hạng tín dụng DNVV là cơ sở quản trị RRTD
Vấn đề rủi ro tín dụng và hậu quả của nó luôn được các ngân hàng quan tâm hàng
đầu. Yêu cầu đặt ra với các ngân hàng là phải đo lường được rủi ro và đưa ra các giải
pháp nhằm kiểm soát. Điều này được thực hiện thông qua việc tuân thủ chặt chẽ quy
trình tín dụng. Trong đó, công tác xếp hạng tín dụng có vai trò quan trọng trong việc
phân tích, đánh giá khách hàng cả trước và sau khi cấp tín dụng.
- Đánh giá và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp trước khi cấp tín dụng
Khi doanh nghiệp đề nghị vay vốn, ngân hàng dựa trên nguồn thông tin thu thập
được về doanh nghiệp, thực hiện phân tích các yêú tố định lượng và định tính để đo
lường khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của doanh nghiệp. Số liệu phân tích là cơ sở để
XHTD các doanh nghiệp và kết quả xếp hạng là một trong các căn cứ quan trọng để đưa
ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay. Đồng thời, dựa vào mức xếp hạng để áp dụng
các chính sách tín dụng thích hợp. Như vậy, kết quả XHTD doanh nghiệp trước khi cấp
tín dụng là một trong các cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định tín dụng, định giá khỏan
vay, áp dụng chính sách tín dụng thích hợp nhằm giới hạn và giảm thiểu RRTD
- Tái xét đánh giá và XHTD doanh nghiệp định kì
Trong quá trình diễn ra quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, định kì
ngân hàng phải tiến hành phân tích khả năng trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp cho ngân
hàng về các khoản đã cho vay, dựa trên nguồn thông tin thu thập được về doanh nghiệp
đi vay từ lúc phát tiền vay cho đến thời điểm tái xếp hạng, nhằm đánh giá việc thực hiện
các cam kết của doanh nghiệp trong hợp đồng tín dụng, chú trọng đến những vi phạm
hợp đồng, từ đó so sánh, đánh gia sự thay đổi RRTD so với ban dầu. Qua đó, có thể điều
chỉnh mức hạng của doanh nghiệp. Đồng thời, là cơ sở để đưa ra giải pháp xử lý các
khoản nợ có vấn đề, nhằm giảm thiểu nguy cơ gây RRTD. Nếu RRTD thay đổi theo
chiều hướng tăng, ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải bổ sung vốn tự có
hoặc tăng tài sản thế chấp hoặc yêu cầu bảo lãnh hoặc cùng doanh nghiệp tìm biện pháp
giải quyết khó khắn để tăng khả năng trả nợ…
Như vậy, tái xếp hạng doanh nghiệp đi vay theo định kì, đê xem xét sự thay đổi rủi
ro so với ban đầu, nhằm đưa ra những biện pháp thích hợp có hiệu quả giảm thiểu nguy
cơ gây ra RRTD. Từ đó, tạo điều kiện để tăng thu nhập cho ngân hàng, mở rộng và đa
dạng hoá hình thức tài trợ… Và điều này đặc biệt có ý nghĩa trong xu hướng cho vay tín
chấp ngày càng gia tăng, giúp ngân hàng lựa chọn những khách hàng tốt để cho vay và là
cơ sở để các doanh nghiệp soi lại mình, từ đó có hướng vươn lên tốt hơn.
- XHTD doanh nghiệp khi không hoàn trả nợ đúng hạn
Doanh nghiệp không hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn, tức xuất hiện
khoản nợ quá hạn. Việc XHTD doanh nghiệp không hoàn trả nợ đúng hạn là cơ sở để xác
định mức tổn thất tín dụng hoặc đưa ra các biện pháp để giảm tổn thất cho ngân hàng
Tóm lại: thực hiện XHTD doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng quản lý tốt hơn rủi ro.
Thứ hai, XHTD khách hàng doanh nghiệp cung cấp chuỗi thông tin có hệ
thống về quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp là cơ sở giúp các nhà quản trị ngân
hàng đưa ra quyết định chính xác, kịp thời, và có hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt,
yêu cầu các quyết định tín dụng phải vừa nhanh, vừa rủi ro thấp, đem lại hiệu quả tối ưu.
Nếu không sẽ dễ mất đi cơ hội tăng thu nhập và mở rộng quy mô tín dụng, do khách hàng
sẽ tìm đến vay ngân hàng khách hoặc tìm nguồn tài trợ ngoài ngân hàng. Muốn có quyết
định nhanh và chính xác, ngân hàng phải dự đoán tương đối chính xác về khả năng và
thiện chí trả nợ của doanh nghiệp. Điều này phụ thuộc vào yếu tố quan trọng là hệ thống
thông tin của ngân hàng về doanh nghiệp trong cả quá khứ và hiện tại. Yêu cầu đặt ra là
ngân hàng phải có hệ thống thông tin đáng tin cậy, đeer nhận biết được những dấu hiệu
đó qua một quá trình, chứ không phải một thời điểm và kết quả XHTD khách hàng doanh
nghiệp qua chuỗi thời gian sẽ đáp ứng được nhu cầu kể trên.
Thứ ba, XHTD khách hàng doanh nghiệp là cơ sở để xây dựng chính sách tín
dụng và chính sách khách hàng
Trên cơ sở điểm số, ngân hàng sẽ phân loại khách hàng và áp dụng chính sách
khách hàng về lãi xuất cho vay, hạn mức vay. thời hạn tín dụng cho phù hợp. Đồng thời
cũng xây dựng chính sách tín dụng, áp dụng kỹ thuệt cho vay tương ứng với mỗi loại
khách hàng. Đối với doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao, XHTD tốt, ngân hàng sẽ áp dụng
chính sách ưu đãi: cho vay với lãi suất thấp, số lượng cho vay nhiều hơn, điều kiện cho
vay được nới lỏng, hay áp dụng kỹ thuật cho vay tín chấp… Ngược lại, đối với doanh
nghiệp có độ tín nhiệm thấp, XHTD thấp, cũng đồng nghĩa với những khoản tín dụng
hàm chứa nhiều rủi ro, ngân hàng sẽ áp dụng chính sách ho vay và biện pháp kiểm soát
chặt chẽ hơn, nhằm hạn chế khả năng RRTD xảy ra.
Thứ tư, XHTD khách hàng doanh nghiệp góp phần thực hiện nguyên tắc cho
vay của ngân hàng.
Khi cấp tín dụng, NHTM phải yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng nguyên tắc
cho vay, gồm hai nguyên tắc chính:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Hoản trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Các nguyên tắc cho vay được thể hiện cụ thể trong hợp đồng tín dụng. Việc
XHTD khách hàng doanh nghiệp được tiến hành trước khi cấp tín dụng (tức trước hợp
đồng tín dụng được thiết lập) và việc tái xét xếp hạng được tiến hành theo định kì (tức
sau khi hợp đồng tín dụng đã được kí kết), dựa trên cơ sở phân tích khả năng và thiện chí
trả nợ ngân hàng, với mục đích hạn chế RRTD. Đây là biện pháp nhằm thực hiện tốt
nguyên tắc cho vay của ngân hàng, đặc biệt là nguyên tắc “Hoản trả nợ gốc và lãi đúng
hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”.
Thứ năm, XHTD khách hàng doanh nghiệp giúp ngân hàng xây dựng chính
sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo phương pháp định tính.
Theo điều 7, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: “Tổ chức tín dụng có đủ khả năng
và điều kiện thực hiện nợ theo phương pháp định tính thì xây dựng chính sách phân loại
nợ và trích lập dự phòng rủi ro” và “trình Ngân hàng Nhà nước”, cụ thể như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh gián là có
khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng
trả nợ.
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là
không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín
dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc là lãi.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng
tổn thất cao.
e) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất gốc) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá
là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
Đấy là việc phân loại nơ theo phương pháp định tính, khác với việc phân loại nớ
trước đây chỉ dựa trên tuổi của các khoản nợ. Việc phân loại các khoản nợ này phải dựa
trên kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng về doanh nghiệp vay vốn.
1.2.3. Nguyên tắc của công tác xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Trong quá trình xếp hạng tín dụng, cán bộ tín dụng ( CBTD ) sẽ thu được điểm
ban đầu và điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng.
- Điểm ban đầu là điểm của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng CBTD xác định được
sau khi phân tích tiêu chí đó.
- Điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng bằng điểm ban đầu nhân với trọng số.
- Trọng số là mức độ quan trọng của từng tiêu chí xếp hạng tín dụng ( chỉ số tài
chính hoặc tiêu chí phi tài chính ) xét trên góc độ tác động rủi ro tín dụng.
Trong quy trình xếp hạng tín dụng, CBTD sử dụng các bảng tiêu chuẩn đánh giá
các tiêu chí tín dụng theo nguyên tắc:
- Đối với mỗi tiêu chí trên bảng đánh giá các tiêu chí, chỉ số thực tế gần với trị số
nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị số thì ưu tiên nghiêng về
phía loại tốt nhất.
- Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần ( lớn hơn hoặc bằng 100%
giá trị khoản tín dụng ) của một số tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn, thì khách
hàng có thể được xếp hạng tín dụng tương đương hạng tín dụng của bên bảo lãnh ( nếu
bên bảo lãnh cũng được ngân hàng cho vay chấm điểm )
Quy trình chấm điểm của bên bảo lãnh cũng giống như quy trình áp dụng cho
khách hàng. Trường hợp bảo lãnh một phần thì chỉ tiến hành chấm điểm tín dụng và xếp
hạng cho chính khách hàng.
CBTD sử dụng các bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí chấm điểm tín dụng theo
nguyên tắc đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn và trường hợp khách hàng có bảo
lãnh.
1.2.4. Các mô hình xếp hạng tín dụng
● Mô hình yếu tố 6 C
Mô hình chất lượng dựa trên yếu tố 6C giúp ngân hàng trả lời một câu hỏi quan
trọng khi xem xét cho vay một khách hàng, đó là “Người vay có đáng tin cậy hay
không?”. Các chỉ tiêu sử dụng trong mô hình này vừa có cả định tính vừa có cả định
lượng nên ngân hàng có một đánh giá khá toàn diện về khách hàng.
Yếu tố 6 C bao gồm:
- Tính cách (Character): Tính cách khách hàng là một yếu tố quan trọng để xem xét liệu
người vay có trách nhiệm trong sử dụng tiền vay hay không. Cán bộ tín dụng phải thông
qua việc nói chuyện, cách thức làm việc của khách hàng để có những đánh giá về tính
cách của khách hàng.
- Năng lực (Capacity): Cán bộ tín dụng (CBTD) phải đảm bảo khách hàng có đủ năng lực
vay vốn và đủ tư cách pháp lý để thực hiện đúng pháp luật việc ký kết hợp đồng vay vốn.
Điều kiện đầu tiên đối với một khách hàng vay vốn là phải có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự và năng lực pháp luật dân sự.
- Dòng tiền mặt (Cash): Dòng tiền của khách hàng là yếu tố quan trọng nhất để trả lời cho
câu hỏi: Người vay có đủ khả năng tạo ra một dòng tiền đủ lớn để hoàn trả cho ngân hàng
món vay hay không?”. Thường thì khách hàng sử dụng các dòng tiền gồm dòng tiền mặt
từ doanh thu bán hàng hoặc thu nhập, dòng tiền từ việc bán tài sản, các nguồn vốn huy
động bằng cách phát hành nợ hay chứng khoán vốn để hoàn trả khoản vay.
- Tài sản thế chấp (Collateral): Là nguồn tài sản mà ngân hàng sử dụng để thu nợ khi
khách hàng không có khả năng thanh toán món vay. Đối với một số khách hàng thì đây
cũng là một điều kiện cần để ngân hàng cho họ vay. Tài sản thế chấp có thể là tài sản
thực cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai. Khi thẩm định tài sản thế
chấp thì cán bộ tín dụng phải chú ý đến những đặc điểm như: Thời gian sử dụng, tình
trạng hiện tại, mức độ chuyên môn hoá thể hiện ở tài sản của khách hàng.
- Điều kiện (Conditions): Khi cho vay ngân hàng cần có sự phân tích ngành nghề mà
doanh nghiệp đang hoạt động, tình hình thị trường cung cần sản phẩm doanh nghiệp, dự
báo được xu hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp… Mặt khác các yếu tố vĩ
mô như lạm phát, thiểu phát, chu kỳ kinh tế, các chính sách của chính phủ… cũng cần
chú ý vì chúng đều ảnh hưởng đến khoản vay của doanh nghiệp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét