LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Xí nghiệp sản xuất bao bì Công ty Sông Đà 12": http://123doc.vn/document/573443-hach-toan-tien-luong-va-cac-khoan-trich-theo-luong-tai-xi-nghiep-san-xuat-bao-bi-cong-ty-song-da-12.htm
đến kết quả công việc của họ. Đồng thời tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy để
tăng năng suất lao động.
2. Vai trò và chức năng của tiền lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động.Trong điều kiện còn tồn
tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lương còn là một yếu tố của chi phí sản
xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần
tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng xuất lao động.Vì vậy tiền lương
mang các chức năng sau:
2.1- Chức năng tái sản xuất sức lao động
Cùng với quả trình sản xuất ra của cải vật chất, sức lao động xã hội cũng đòi hỏi
phải được tái tạo. Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức
lao động có sự khác nhau. Sự khác nhau này được quy định trước hết bởi bản chất của
các quan hệ sản xuất thống trị. Song nhìn chung quá trình tái sản xuất sức lao động
diễn ra trong lịch sử thể hiện rõ ở sự tiến bộ xã hội. Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác
động mạnh mẽ và sâu sắc của những thành tựu khoa học kỹ thuật mà nhân loại sáng
tạo ra. Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản suất ngày càng tăng cả về số
lượng lẫn chất lượng
Quá trình tái sản suất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao
động thông qua tiền lương
Sức lao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn được hoàn thiện và phát triển
nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục. Như vậy bản chất của tái sản xuất sức
lao động là duy trì và phát triển sức lao động, nghĩa là đảm bảo cho người lao động có
một số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể;
-Duy trì và phát triển sức lao động của mình
-Sản xuất ra sức lao động mới
-Tích luỹ kinh nghiệm nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng
cường chất lượng lao động
2.2-Chức năng đòn bẩy kinh tế
Các Mác đã viết:"Một khi tư tưởng tách rời khỏi lợi ích kinh tế thì nhất định sẽ làm
nhục nó ". Thực tế cho thấy rằng, khi được trả công sứng đáng thì người lao động sẽ
làm việc tích cực, sẽ không ngừng cố gắng hoàn thiện mình hơn nữa, và ngược lại nếu
người lao động không được trả lương sứng đáng công sức họ bỏ ra thì họ làm việc sẽ
không tốt không đúng năng lực thực sự của họ và có thể sẽ có những cuộc đình công,
bạo loạn, đảo chính xảy ra và gây nên xáo trộn về chính trị, mất ổn định xã hội.
Ngoài ra ở một mức độ nhất định tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa
vị và uy tín của người lao động trong gia đình, ở doanh nghiệp.
3. Nguyên tắc tính trả lương
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì phân phối theo lao động là nguyên tắc cơ bản
nhất.
Trong điều kiện như nhau, lao động ngang nhau thì trả công ngang nhau, lao động
khác nhau thì trả công cũng khác nhau
Trong điều kiện khác nhau, lao động như nhau có thể trả công khác nhau, hoặc lao
động khác nhau có thể trả công bằng nhau.
Hiện nay việc tính toán và thanh toán tiền lương từ phía doanh nghiệp cho người
lao động chủ yếu dựa vào các Nghị định và các điều lệ trong Bộ luật lao động của
nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 05/7/1994. Phù hợp với mỗi trường
hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được hiệu quả kinh tế cao nhất.
4. Phân loại tiền lương
Tiền lương có nhiều hình thức với tính chất khác nhau, chi phí trả cho các đối
tượng khác nhau nên cần phân loại tiền lương như: Phân loại tiền lương theo cách
thức trả lương (lương sản phẩm, lương thời gian), phân theo chức năng lao động tiền
lương (lương sản xuất, lương bán hàng,lương quản lý) Mỗi một cách phân loại đều
có những tác dụng nhất định trong quản lý. Về mặt hạch toán tiền lương được chia
thành 2 loại là: Tiền lương chính và Tiền lương phụ.
+ Tiền lương chính là bộ phận tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
thực tế có làm việc, bao gồm cả tiền lương cấp bậc, tiền thưởng và các khoản phụ cấp
có tính chất tiền lương.
+ Tiền lương phụ là bộ phận tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực
tế không làm việc nhưng được chế độ quy định như: Nghỉ phép, hội họp, học tập, ngày
lễ, ngừng sản xuất
Tiền lương phụ của công nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi
phí sản xuất, vào các loại sản phẩm có liên quan, không có quan hệ trực tiếp đến từng
loại sản phẩm mà có liên quan đến nhiều sản phẩm và không gán với năng xuất lao
động.
II-HìNH THứC TRả LƯƠNG, NộI DUNG QUỹ TIềN LƯƠNG Và CáC KHOảN TRíCH
THEO LƯƠNG
1.Các hình thức trả lương
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, do đó phải bù đắp sức
lao động của người lao động đã bỏ ra và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của họ.
Trong các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế thị
trường có rất nhiêù loại lao động khác nhau. Vì thế mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn
hình thức trả lương nào cho người lao động sao cho phù hợp cới đặc điểm công nghệ,
với trình độ năng lực quản lý của mình. Mặt khác việc lựa chọn hình thức trả lương
đúng đắn còn có tác dụng thoả mãn lợi ích người lao động và thực sự trở thành đòn
bẩy của kinh tế, khuyến khích người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động giúp cho
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí nhân công để hạ giá thành sản phẩm.
Trong các doanh nghiệp nước ta hiện nay chủ yếu áp dụng các hình thức trả lương
sau:
+Hình thức trả lương theo sản phẩm
+ Hình thức trả lương theo thời gian
+ Hình thức trả lương theo khoán
1.1-Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian thực hiện việc tính trả lương cho ngươì lao động
theo thời gian thực tế, theo nghành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ kỹ thuật
chuyên môn của người lao
động.
Tuỳ theo tính chất lao động
khác nhau, mỗi nghành nghề cụ thể có một thang lương riêng, trong mỗi thang lương
lại tuỳ thuộc vào trình độ thành thạo nghiệp cụ kỹ thuật chuyên môn mà chia thành
nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.
Tiền lương theo thời gian có thể tính theo: Tháng, tuần, ngày, giờ.
a/Lương tháng:
Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động
Lương tháng thường được áp dụng trả cho nhân viên làm công tác quản lý kinh tế,
quản lý hành chính và các nhân viên thuộc các nghành hoạt động không có tính chất
sản xuất.
b/Lương tuần:
Tiền lương tuần là tiền lương trả cho 1 tuần làm việc.
Lương tuần thường được áp dụng trả cho các đối tượng lao động có thời gian không
ổn định mang tính chất thời vụ.
c/Lương ngày:
Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc.
Tiền lương ngày
Tiền lương
tháng
Số ngày làm việc trong tháng
Tiền lương tuần = Tiền lương
tháng*12 tháng
Lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho người lao động trực tiếp hưởng
lương thời gian, tính trả lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập
và làm nghĩa vụ khác, đó là căn cứ để tính trợ cấp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
d/Lương giờ:
Tiền lương giờ là tiền lương trả cho một giờ làm việc.
tiền lương ngày
Tiền lương giờ =
Số giờ làm việc trong ngày theo chế độ
Tiền lương giờ thường được áp dụng trả lương cho người lao động trực tiếp trong
thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm.
1.2-Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức này thực hiện việc tính trả lương cho người lao động theo số lượng và
chất lượng sản phẩm hoặc công việc đã hoàn thành.
Tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể ở từng doanh nghiệp mà việc tính trả
lương theo sản phẩm có thể tiến hành trả lương theo:
Sản phẩm trực tiếp không hạn chế, sản phẩm gián tiếp, sản phẩm có thưởng phạt,
sản phẩm luỹ tiến.
a/Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế:
Với cách thức này thì tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp vào
số sản phẩm hoàn thành đúng quy cách phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã
quy định, không chịu bất cứ mọi sự hạn chế nào.
Đây là hình thức phổ biến dược các doanh nghiệp sử dụng để tính lương phải trả
cho người lao động trực tiếp.
b/Trả lương theo sản phẩm gián tiếp:
Với cách thức này thì tiền lương phải trả cho một bộ phận lao động tham gia một
cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hình thức này thường được áp dụng trả lương cho người lao động gián tiếp ảnh
hưởng tới năng xuất lao động trực tiếp, và họ là những người làm nhiệm vụ vận
chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị.
c/Trả lương theo sản phẩm có thưởng phạt:
Theo hình thức này ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp, người lao động còn
được thưởng trong sản xuất như thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, năng xuất lao
động cao, tiết kiệm vật tư. Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng,
vượt quá vật tư trên mức quy định, không đảm bảo được ngày công quy định thì có thể
phải chịu phạt trừ vào thu nhập của họ.
Hình thức này được sử dụng để khuyến khích người lao động hăng say trong công
việc và có ý thức trách nhiệm trong sản xuất.
d/Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến:
Theo hình thức này ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức
độ hoàn thành vượt định mức lao động để tính thêm một số tiền lương theo tỷ lệ luỹ
tiến. Những sản phẩm vượt định mức càng cao thì suất luỹ tiến càng lớn.
Hình thức này chỉ được sử dụng trong một số trường hợp cần thiết như khi cần phải
hoàn thành gấp một đơn đặt hàng hoặc trả lương cho người lao động làm việc ở khâu
khó nhất để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo cho thực hiện công việc được cân đối
đồng bộ.
1.3-Hình thức trả lương khoán:
Là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng và chất lượng công việc
mà họ hoàn thành.
Có 2 loại khoán: Khoán công việc và khoán quỹ lương.
a/Hình thức khoán công việc:
Doanh nghiệp xác định mức tiền lương trả theo từng công việc mà người lao động
phải hoàn thành
Hình thức này áp dụng cho những công việc lao động giản đơn, có tính chất đột
xuất như bốc dỡ nguyên vật liệu, hàng hoá, sửa chữa nhà cửa
b/Hình thức khoán theo quỹ lương:
Căn cứ vào khối lượng từng công việc, khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết
để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương.
Người lao động được biết trước số tiền mà họ sẽ nhận sau khi hoàn thành công viẹc
trong thời gian đã quy định.
Hình thức này áp dụng cho những công việc không thể định mức cho từng bộ phận
công việc hoặc những công việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì không
có lợi về mặt kinh tế. Thường là những công việc cần hoàn thành đúng thời hạn.
2.Nội dung quỹ lương.
Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp là toàn bộ quỹ lương(kể cả các khoản phụ cấp)
mà doanh nghiệp phải trả cho tất cả các loại lao động do doanh nghiệp quản lý và sử
dụng.
Thành phần quỹ lương bao gồm nhiều khoản như: lương thời gian, lương sản phẩm,
các khoản phụ cấp, tiền thưởng trong sản xuất. Ngoài ra trong quỹ lương kế hoạch còn
được tính cả khoản tiền chi trợ cấp Bảo hiểm xã hội cho công nhân viên trong thời
gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.
Thông qua tình hình biến động của quỹ lương sẽ cho phép doanh nghiệp đánh giá
được tình hình sử dụng lao động và kết quả lao động, từ đó có biện pháp động viên
cán bộ công nhân viên hăng hái lao động nhằm nâng cao năng xuất lao động.
3.Nội dung các khoản trích theo lương
3.1-Quỹ Bảo hiểm xã hội
Theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO-International Labour
Ogaization): "Bảo hiểm xã hội được hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành
viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại một loạt các
tình trạng khó khăn về tài chính do mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất
khả năng lao động, tuổi già, tàn tật thêm vào đó Bảo hiểm xã hội bảo vệ chăm sóc
sức khoẻ, chăm sóc y tế cho cộng đồng và trợ cấp cho các gia đình khó khăn".
Như vậy, ngoài tiền lương thì công nhân viên còn được trợ cấp xã hội. Khoản trợ
cấp xã hội này chủ yếu được chi từ quỹ Bảo hiểm xã hội.
Quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yêú từ sự đóng góp của người sử dụng
lao động, người lao động và một phần hỗ trợ của Nhà nước.
Theo chế độ hiện hành, quỹ Bảo hiểm xã hội được tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quỹ
lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong
kỳ hạch toán. Trong đó người sử dụng lao động phải nộp 15% và được tính vào chi
phí sản xuất kinh doanh, còn lại người lao động nộp 5% và được tính trừ vào tiền
lương hàng tháng.
Nhà nước quy định chính sách về Bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và
nâng cao việc bảo đảm vật chất góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia
đình trong các trường hợp người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao
động người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc
làm, bị tai nạn lao động, chết, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác.
ở Việt Nam hiện nay mọi người lao động có tham gia đóng Bảo hiểm xã hội đều có
quyền được hưởng Bảo hiểm xã hội. Đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc hay tự nguyện
được áp dụng đối với từng loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để đảm bảo cho
người lao động được hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội thích hợp.
Quỹ Bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước,
hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ.
3.2-Quỹ Bảo hiểm y tế
Quỹ Bảo hiểm y tế được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa bệnh,
viện phí, thuốc thang cho người lao động trong thời gian ốm đau sinh đẻ.
Theo chế độ hiện hành, các doanh nghiệp phải thực hiện trích quỹ Bảo hiểm y tế
bằng 3% trên tổng số thu nhập tạm tính của người lao động. Trong đó doanh nghiệp
phải chịu 2%, khoản này được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn người lao
động phải nộp 1% khoản này được trừ vào tiền lương của họ.
Quỹ Bảo hiểm y tế do Nhà nước tổ chức, giao cho cơ quan Bảo hiểm y tế thống
nhất quản lý và chi trả cho người lao động thông qua mạng lưới y tế, nhằm huy động
sự đóng góp của cá nhân, tập thể, cộng đồng xã hội để tăng cường chất lượng trong
việc khám, chữa bệnh. Vì vậy khi tính được mức trích Bảo hiểm y tế các doanh nghiệp
phải nộp toàn bộ cho cơ quan Bảo hiểm y tế.
3.3-Kinh phí Công đoàn
Kinh phí Công đoàn là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp.
Theo chế độ hiện hành, Kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ
tiền lương thực tế phải trả cho người lao động, kể cả hợp đồng lao động có thời hạn.
Khoản chi này được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
hạch toán.
Thông thường khi trích được Kinh phí Công đoàn thì doanh nghiệp phải nộp một
nửa(1/2) cho Công đoàn cấp trên, còn một nửa(1/2) được để lại chi tiêu cho hoạt động
công đoàn tại đơn vị
III-CÔNG TáC HạCH TOáN TIềN LƯƠNG Và CáC KHOảN TRíCH THEO LƯƠNG
TRONG CáC DOANH NGHIệP SảN XUấT
1.Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
- Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp các số liệu về số lượng lao động, thời gian
và kết quả lao động. Tính lương và trích các khoản theo lương, phân bổ chi phí nhân
công đúng đối tượng sử dụng lao động.
- Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận sản xuất kinh doanh,
các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về lao động, tiền
lương, mở sổ cần thiết và hạch toán nghiệp vụ lao động tiền lương đúng phương pháp.
- Lập các báo cáo về lao động, tiền lương thuộc phần việc do mình phụ trách.
- Định kỳ tiến hành phân tích tình hình quản lý, sử dụng thời gian lao động, chi
phí nhân công, năng suất lao động, đề xuất các biện pháp nhằm khai thác sử dụng triệt
để, có hiệu quả mọi tiềm năng lao động sẵn có trong doanh nghiệp.
2.Hệ thống chứng từ sổ sách
Sổ sách của bộ phận lao động tiền lương trong doanh nghiệp được lập dựa trên
cơ sở các chứng từ ban đầu lập khi tuyển dụng, nâng bậc, thôi việc mọi biến động về
lao động được ghi chép kịp thời và sổ sách lao động làm căn cứ cho việc tính lương
phải trả cho các chế độ khác cho người lao động được kịp thời.
Chứng từ về lao động tiền lương bao gồm:
Mẫu 01-LĐTL: Bảng chẩm công
Mẫu 02-LĐTL: Bảng thanh toán tiền lương
Mẫu 03-LĐTL: Phiếu nghỉ hưởng Bảo hiểm xã hội
Mẫu 04-LĐTL: Bảng thanh toán Bảo hiểm xã hội
Mẫu 05-LĐTL: Bảng thanh toán tiền thưởng
Mẫu 06-LĐTL: Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét