Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

các giai đoạn của một quá trình tham gia đấu thầu xây lắp của công ty xây dựng vinaust


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các giai đoạn của một quá trình tham gia đấu thầu xây lắp của công ty xây dựng vinaust": http://123doc.vn/document/1054105-cac-giai-doan-cua-mot-qua-trinh-tham-gia-dau-thau-xay-lap-cua-cong-ty-xay-dung-vinaust.htm


cung ứng; Trên cơ sở hồ sơ dự thầu, bên mời thầu sẽ đánh giá và cho
điểm đối với chỉ tiêu về năng lực về kinh nghiệm của nhà thầu, về kỹ
thuật, về khả năng tài chính, giá cả và thời gian thực hiện dự án phù
hợp với hồ sơ mời thầu.
+ Đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu xây dựng có
khả năng đáp ứng đợc yêu cầu của bên mời thầu và các loại chỉ tiêu
của lĩnh vực xây lắp. Ngời trúng thầu là nhà thầu xây lắp có khả
năng cao nhất, thoả mãn tốt nhất các điều kiện kỹ thuật của công
trình, đồng thời cũng thoả mãn các điều kiện khác do bên mời thầu
đặt ra.
Nếu phân loại đấu thầu theo lĩnh vực hoạt động thì có 3 loại
đấu thầu, đó là: Đấu thầu xây dựng, đấu thầu hàng hoá và đấu thầu
mua sắm công cộng.
+ Đấu thầu xây dựng đợc quy định trong Nghị định 43/CP và
93/CP của Chính phủ ngày 16/7/1996 và ngày 23/8/1997. Bao gồm
đấu thầu tuyển chọn t vấn, đấu thầu mua sắm vật t thiết bị và đầu t
xây lắp.
+ Đấu thầu hàng hoá đợc Luật thơng mại điều chỉnh do Quốc
hội khoá XI, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997. Đấu thầu hàng
hoá là việc mua hàng thông qua mời thầu nhằm đáp ứng đợc yêu cầu
về giá cả, điều kiện kinh tế - kỹ thuật do bên mời thầu đặt ra. Đấu
thầu hàng hoá là thực chất tạo ra sự cạnh tranh giữa những ng ời bán
một loại hàng hoá cho ngời chủ sở hữu vốn. Đối tợng của đấu thầu
hàng hoá chính là những hàng hoá đ ợc các nhà cung ứng cạnh tranh
với nhau để bán đợc. Những hàng hoá đợc đấu thầu này là những
hàng hoá mang tính thơng mại, có nghĩa là đợc thông qua đấu thầu
để thu lời. Đấu thầu hàng hoá khác với đấu thầu mua sắm vật t thiết
bị là đấu thầu mua sắm vật t thiết bị về để phục vụ cho sản xuất -
xây dựng mặc dù vật t thiết bị cũng là hàng hoá. Về biện pháp đảm
bảo tham gia đấu thầu thì đấu thầu hàng hoá sử dụng biện pháp ký
quỹ dự thầu, trong khi đó đấu thầu xây dựng lại sử dụng biện pháp
bảo lãnh dự thầu. Ký quỹ dự thầu là bên dự thầu phải nộp một khoản
tiền nhất định do bên mời thầu quy định nh ng không quá 30% tổng
giá trị ớc tính của hàng hoá đấu thầu vào một tài khoản phong toả tại
một Ngân hàng do bên mời quy định.
Sau khi xét thầu của hoạt động đấu thầu hàng hoá, một hợp
đồng mua bán hàng hoá sẽ đợc lập giữa bên mở thầu (ngời mua) và
bên trúng thầu (ngời bán).
+ Đấu thầu mua sắm công cộng là quá trình lựa chọn nhà thầu
có khả năng cung ứng hàng hoá, máy móc, thiết bị cho bên mở
thầu nguồn vốn để mua sắm công cộng là vốn Ngân sách nhà n ớc cấp
vì vậy nguồn vốn này thuộc sở hữu của Nhà nớc. Giá trị của hàng
hoá, thiết bị, máy móc, từ 50 triệu đồng thời trở lên đợc mua sắm
bằng nguồn vốn Ngân sách sẽ đợc tổ chức đấu thầu.
Trong quan hệ mua sắm công cộng, chủ đầu t là Nhà nớc, ngời
mời thầu là tổ chức đợc Nhà nớc uỷ quyền hay giao vốn cho, các nhà
thầu là những ngời có hàng hoá thiết bị, máy móc và mong muốn đợc
bán cho bên mời thầu.
Phân loại đấu thầu theo phạm vi lãnh thổ thì có 2 loại đấu
thầu. Đó là đấu thầu trong nớc và đấu thầu quốc tế. Tuy nhiên, cả 2
loại đấu thầu này đều đợc tổ chức tại Việt nam.
+ Đấu thầu trong nớc là quá trình lựa chọn nhà thầu trong nớc
đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu. Đấu thầu trong n ớc là hoạt
động tổ chức cạnh tranh cho những nhà thầu trong phạm vi quốc gia,
các nhà thầu nớc ngoài sẽ không đợc tham gia. Đây là hoạt động đấu
thầu hạn chế sự cạnh tranh vì không cho phép các nhà thầu tham gia,
nhng đồng thời nó lại hỗ trợ, khuyến khích các nhà thầu trong n ớc.
+ Đấu thầu quốc tế là hoạt động lựa chọn nhà thầu mà trong
đó cả nhà thầu trong nớc và quốc tế tham gia nhằm đáp ứng tốt nhất
yêu cầu của bên mời thầu. Đấu thầu quốc tế nhằm tạo ra sự cạnh
tranh cao nhất giữa các nhà thầu trong nớc và nhà thầu quốc tế. Loại
đấu thầu này sẽ thúc đẩy sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nếu nhà thầu
nào yếu kém thì sẽ thua trong cuộc đua. Mặc dù vậy, trong hoạt động
đấu thầu quốc tế đợc tổ chức tại Việt nam, Nhà nớc ta vẫn có chính
sách u tiên cho các nhà thầu trong nớc.
2. Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật là những thành
tựu kinh tế. Chúng ta đã đạt đợc những kết quả to lớn trong công
cuộc xây dựng và đổi mới đất nớc. Những thành tựu kinh tế đã đạt đ-
ợc do chúng ta có đờng lối phơng hớng đúng đắn. Bên cạnh những
thành công đã đạt đợc, chúng ta cần phải hoàn thiện hệ thống pháp
luật, tạo ra môi trờng kinh tế ổn định, an toàn hấp dẫn.
Khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, chúng
ta công nhận sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, điều này đ ợc
hiến pháp nớc ta quy định: mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng
trớc pháp luật. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, nếu có đủ điều kiện
thì mọi thành phần kinh tế đều đợc tham gia vào. Để nâng cao hiệu
quả, chất lợng công trình, tạo ra tính cạnh tranh và cũng chính là
thừa nhận sự công bằng, sự bình đẳng của các thành phần kinh tế,
các chủ đầu t phải tổ chức đấu thầu những dự án, công trình theo quy
định của pháp luật.
Mặt khác trong nền kinh tế thị tr ờng, nhà nớc có vai trò quản
lý nền kinh tế ở góc độ vĩ mô, không can thiệp sâu vào nền kinh tế,
còn các chủ thể kinh tế tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật,
tự do tìm kiếm, thoả thuận về công việc, tự do ký kết các hợp đồng
kinh tế theo chế độ hợp đồng kinh tế hiện hành và hoạt động trên đ -
ợc nhà nớc coi là một phần tất yếu của nền kinh tế. Vì vậy, cần phải
tiến hành đấu thầu để bên có hàng bán (bên mời thầu) và ng ời mua
hàng (nhà thầu) có thể tự do lựa chọn đối tác của mình cho phù hợp.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các đơn vị kinh tế thực
hiện nhiệm vụ theo chỉ tiêu pháp lệnh, ký kết hợp đồng theo chỉ tiêu
pháp lệnh. Công việc của họ là do nhà nớc giao cho và họ buộc phải
thực hiện. Cơ chế này đợc gọi là cơ chế giao - nhận. Các đơn vị
kinh tế không có quyền tự tìm kiếm công việc, không đ ợc tự thoả
thuận và ký kết hợp đồng. Vì vậy trong cơ chế này không thể tồn tại
đợc chế độ đấu thầu. Bởi vì nếu có hoạt động đấu thầu là có sự tự do
tìm kiếm công việc, tự do ký kết và thực hiện các hợp đồng. Và nh
vậy là có mâu thuẫn với nguyên tắc chung của nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung.
Cơ chế giao - nhận trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
có nhiều điểm giống với hình thức chỉ định thầu trong chế độ đấu
thầu. Chỉ định đấu thầu có nhiều hạn chế là đáp ứng đ ợc yêu cầu về
tính cạnh tranh, tính công bằng, bình đẳng nên không có sự rộng rãi.
Chỉ định thầu là hình thức chủ đầu t giao một công việc nào đó cho
nhà thầu và gần giống với việc Nhà nớc giao chỉ tiêu pháp lệnh cho
một đơn vị kinh tế. Vì vậy trong nền kinh tế thị tr ờng phải tổ chức
đấu thầu chứ không thể áp dụng hình thức chỉ định thầu một cách
rộng rãi đợc.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, yêu cầu của các dự án
công trình ngày càng hiện đại, thẩm mĩ, vì vậy vấn đề đặt ra là các
nhà đầu t phải có đủ năng lực về kỹ thuật, về công nghệ tiên tiến mới
có thể đáp ứng đợc. Sự lựa chọn nhà thầu đáp ứng tốt nhất các yêu
cầu của trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay là tất yếu khách quan.
Hoạt động đấu thầu thống nhất quản lý các nguồn vốn đầu t
trong cả nớc thông qua quy định của Nhà nớc về quy mô của dự án là
bao nhiêu thì phải đấu thầu. Nó tạo ra một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh
cho hoạt động của các chủ thể trong phạm vi điều chỉnh Quy chế đấu
thầu. Thông qua chế độ đấu thầu, các chủ thể sẽ căn cứ để xác định
hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật. Chế độ đấu thầu quy
định các mối quan hệ ràng buộc giữa chủ đầu t , nhà thầu và nhà nớc,
tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia. Chế độ
đấu thầu do Nhà nớc ban hành đa ra các chỉ dẫn, trình t, thủ tục của
hoạt động đấu thầu. Thông qua đó, hoạt động của các chủ thể nhanh
chóng, hiệu quả và đúng pháp luật.
Nguồn vốn đầu t vào nớc ta một phần là đầu t trong nớc, phần
còn lại là đầu t nớc ngoài. Đối với đầu t nớc ngoài, các nhà đầu t
mong muốn vốn của họ phải đ ợc sử dụng hiệu quả, đúng mục đích.
Vì vậy, đấu thầu là hoạt động tất yếu xảy ra để lựa chọn nhà thầu tốt
nhất. Đối với nguồn vốn ODA, nhà đầu t quốc tế yêu cầu phải đấu
thầu quốc tế để lựa chọn đợc nhà thầu mang tầm cỡ quốc tế và có
năng lực nhất.
Hoạt động kinh tế đợc điều chỉnh bởi các quy luật kinh tế,
trong đó có quy luật cạnh tranh. Mọi hoạt động kinh tế đều mang
tính cạnh tranh. Cạnh tranh làm cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả
hơn, mạnh mẽ hơn, nó thúc đẩy các nhà sản xuất - kinh doanh nâng
cao chất lợng sản phẩm hàng hoá của họ, và vô hình chung, cạnh
tranh đã đa lại lợi ích lớn hơn cho xã hội. Hoạt động đấu thầu chính
là hình thức tổ chức cạnh tranh cho các nhà thầu. Nhà thầu nào mạnh
nhất, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của bên mời thầu, nhà thầu đó sẽ
thắng. Sự cạnh tranh giữa các nhà thầu đã tạo ra chất l ợng công trình
xây lắp, vật t thiết bị đợc cung ứng tốt hơn, bền hơn, rẻ hơn, tiến độ
thực hiện nhanh hơn, khẩn trơng hơn, trình độ t vấn cao hơn.
Tất cả các lý do trên có thể giúp ta khẳng định chắc chắn rằng
đấu thầu là một hoạt động tất yếu ỏ nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi áp dụng của Quy chế đấu thầu
Không phải cho tới bây giờ chúng ta mới nhận thức đ ợc tính
tất yếu và tầm quan trọng của chế độ đấu thầu. Từ những năm đầu
thập kỷ 90, các nhà hoạch định chính sách đã hình thành ý t ởng thiết
lập ra một Quy chế điều chỉnh hoạt động xây lắp. Văn bản rất sớm
mà Nhà nớc ta ban hành để điều chỉnh lĩnh vực hoạt động này là Quy
chế đấu thầu xây lắp ngày 30/4/1994 của Bộ tr ởng Bộ Xây Dựng.
Song song với quy chế đấu thầu xây lắp là nghị định của Chính phủ
số 177 - CP ngày 20/10/1994 về việc ban hành điều lệ Quản lý đầu t
và xây dựng. Đây là hai văn bản của Nhà nớc ta đã vạch ra bớc ngoặt
trong quá trình đầu t và xây dựng. Tuy nhiên, là những văn bản điều
chỉnh một lĩnh vực hoạt động mới mẻ - hoạt động đấu thầu - nên còn
nhiều hạn chế vì vậy hai văn bản này đã đ ợc thay đổi bổ xung vào
năm 1996.
Sau khi Quy chế đấu thầu xây lắp và điều lệ Quản lý đầu t và
xây dựng đợc ban hành đã có tác dụng to lớn trong lĩnh vực đầu t
xây dựng. Tuy nhiên, do yêu cầu phát triển và tình hình mới của lĩnh
vực quản lý đầu t, xây dựng nên cần phải sửa đổi, bổ sung các văn
bản điều chỉnh chế độ đấu thầu và quản lý xây dựng. Cho tới ngày
16/7/1996, Chính phủ thay thế quy chế đấu thầu xây lắp thành Quy
chế đấu thầu (Ban hành kèm theo Nghị định 43/CP ngày 16/7/1996
của chính phủ) và Nghị định 177/CP về quản lý đầu t và xây dựng đ-
ợc sửa đổi, bổ sung thành điều lệ quản lý đầu t và xây dựng đợc sửa
đổi,(Ban hành kèm theo Nghị định 43/CP này 16/7/1996 của chính
phủ).
Quy chế đấu thầu mà chính phủ ban hành trong Nghị định
43/CP rộng hơn so với Quy chế đấu thầu xây lắp trong Nghị định
177/CP, đối tợng của Quy chế đấu thầu bao gồm cả đấu thầu tuyển
chọn t vấn, đấu thầu mua sắm vật t thiết bị và đấu thầu xây lắp, 3
loại đấu thầu này hoàn thành một quá trình đầu t hoàn chỉnh. Còn
quy chế đấu thầu xây lắp trong Nghị định 177/CP chỉ điều chỉnh một
giai đoạn trong quá trình đầu t - đó là xây lắp, do đó nó cha đáp ứng
đợc yêu cầu hiện nay của quá trình đầu t.
Do chức năng nhiệm vụ của các cơ quan chủ quản trong lĩnh
vực Quản lý đầu t và xây dựng thay đổi bởi sự phân công lại trách
nhiệm, nhiệm vụ và sự sát nhập, thay đổi của các cơ quan này đến
năm 1996, Nghị định 177/CP Nghị định 42/CP cho phù hợp với tình
hình hiện tại. Mặt khác do tính chất của quá trình đầu t , tính chất
của dự án, công trình cũng thay đổi, do đó có thể khẳng định việc
sửa đổi Nghị định 177/CP là cần thiết và Nghị định 42/CP ban hành
sẽ điều chỉnh sát sao hơn công tác quản lý đầu t và xây dựng.
Tới tháng 8/1997, Chính phủ lại sửa đổi bổ xung Nghị định
42/CP và 43/CP ngày 16/7/1996, nội dung sửa đổi bổ sung đ ợc thể
hiện trong hai Nghị định 92/CP và 93/CP ngày 23/8/1997.
Nghị định 92/CP sửa đổi bổ sung một số chức năng, trách
nhiệm của cơ quan chủ quản và trách nhiệm của các chủ thể tham
gia. Về hoạt động để quản lý cũng đợc sửa đổi bổ sung nh: kế hoạch
hoá đầu t, nội dung báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nội dung thực
hiện dự án đầu t Về quy mô của dự án đầu t cũng đợc sửa đổi bổ
xung theo chiều hớng tăng quy mô của dự án đầu t lên theo các nhóm
A,B,C.
Nghị định 93/CP sửa đổi một số b ớc trong trình tự đấu thầu:
hình thức lựa chọn nhà thầu và phơng pháp áp dụng, tài liệu đấu thầu
(thuyết minh và sửa đổi), thời hạn nộp thầu, mở thầu - xếp hạng nhà
thầu - công bố kết quả trúng thầu Ngoài ra còn bổ sung sửa đổi
trách nhiệm và quyền hạn của ngời có thẩm quyền quyết định đầu t,
phê duyệt và uỷ quyền phê duyệt đấu thầu
Nh vậy hệ thống văn bản điều chỉnh chế độ đấu thầu của ta cơ
bản là có 6 văn bản chính và đ ợc ban hành thành 3 đợt: Đợt 1 năm
1994 gồm Quy chế đấu thầu xây lắp và Nghị định177/CP; Đợt 2 năm
1996 gồm Nghị định 42/CP và 43/CP; Đợt 3 năm 1997 gồm Nghị
định 92/CP và 93/CP.
Ngoài ra còn có các văn bản khác nh thông t 02 Liên bộ - Bộ
kế hoạch và đầu t - Bộ xây dựng - Bộ thơng mại hớng dẫn thực hiện
Quy chế đấu thầu đợc ban hành ngày 25/2/1997; Thông t số 12BKH -
QLKT - Hớng dẫn quy chế đấu thầu theo hình thức BOT.
Về phạm vi áp dụng của quy chế đấu thầu. Dùng để lựa chọn
nhà thầu cho các dự án đầu t tại việt nam và phải đợc tổ chức đấu
thầu tại Việt nam, có phạm vi áp dụng bao gồm:
a. Các dự án đầu t đợc ngời có thẩm quyền quyết định đầu t
phê duyệt theo Điều lệ Quản lý đầu t và xây dựng ban hành kèm theo
Nghị định 42/CP của chính phủ ngày 16/7/1996 là những dự án do
nhà nớc cân đối vốn đầu t, những dự án do Nhà nớc bảo lãnh vốn,
những dự án thuộc các doanh nghiệp nhà n ớc và những dự án sử dụng
các nguồn vốn ODA theo Nghị định 20/CP của chính phủ ngày
15/3/1994.
b. Các dự án đầu t liên doanh của các doanh nghiệp Nhà n ớc
Việt nam, có mức vốn pháp định từ 30% trở lên là những dự án đã đ -
ợc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đầu t theo quy định hiện
hành.
c. Đấu thầu để lựa chọn đối tác dự án liên doanh và hợp tác
kinh doanh, dự án 100% vốn nớc ngoài , dự án thực hiện theo phơng
thức BOT hoặc BT đợc áp dụng theo các quy định riêng.
d. Các dự án ngoài những dự án nói trên, tuy không bắt buộc
đấu thầu nhng chủ thầu tự quyết định tổ chức đấu thầu và Nhà n ớc
khuyến khích áp dụng quy chế đấu thầu.
e. Đối với dự án có sử dụng vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế
hoặc nớc ngoài, cơ quan đợc giao trách nhiệm đàm phán ký kết hiệp
định phải trình thủ tớng chính phủ xem xét quyết định những quy
định khác với quy chế đấu thầu trớc khi ký.
II trình tự đấu thầu
1. Hình thức lựa chọn nhà thầu
Trong hoạt động đấu thầu, tuỳ theo tính chất của từng dự án
mà có các hình thức lựa chọn nhà thầu khác nhau. Đó là hình thức:
Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu.
a. Đấu thầu rộng rãi.
Hình thức đấu thầu này đợc khuyến khích áp dụng nhằm đạt đ -
ợc tính cạnh tranh cao trên cơ sở tham gia của nhiều nhà thầu. Tuy
nhiên, hình thức đấu thầu này đợc áp dụng tuỳ theo từng dự án cụ thể
trong phạm vi một địa phơng, một vùng, liên vùng, toàn quốc hoặc
quốc tế. Khi tổ chức đấu thầu rộng rãi, vấn đề quan trọng là thông
tin. Mọi nhà thầu đều phải biết đợc những thông tin về dự án mời
thầu. Thông tin rộng khắp và đầy đủ thì số lợng nhà thầu tham gia
càng đông và kết quả đấu thầu sẽ tốt hơn.
b. Đấu thầu hạn chế
Hình thức đấu thầu này đợc áp dụng trong những trờng hợp
sau:
- Chỉ có một nửa nhà thầu đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu
nhng tối thiểu phải có 3 nhà thầu có khả năng tham gia.
- Các nguồn vốn có yêu cầu tiến hành đấu thầu hạn chế.
- Do yêu cầu về tiến độ thực hiện dự án đ ợc ngời quyết định
đầu t chấp nhận.
c. Hình thức chỉ định thầu:
Chỉ định thầu đợc áp dụng đối với những dự án sau đây:
- Dự án có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm.
- Dự án có tính chất cấp bách do thiên tai, dịch hoạ.
- Dự án có tính chất bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng.
- Dự án có giá trị nhỏ dới 500 triệu đồng.
- Một số dự án đặc biệt đợc thủ tớng Chính phủ cho phép.
Vì hình thức chỉ định thầu không tạo ra đợc tính cạnh tranh
giữa các nhà thầu, cho nên khuyến khích các dự án đầu t không sử
dụng vốn nhà nớc tổ chức đấu thầu và khuyến khích các dự án đợc
phép chỉ định thầu chuyển sang hình thức đấu thầu toàn bộ hoặc từng
phần dự án khi có điều kiện.
Trớc khi phê duyệt các dự án đấu thầu các dự án thuộc nhóm
B, nếu giá thầu có giá trị trên 50 triệu đồng cần áp dụng hình thức
chỉ định thầu thì ngời có thẩm quyền quyết định dự án phải có báo
cáo Thủ tớng Chính phủ cho phép.
2. Trình tự thực hiện đấu thầu
A. điều kiện tổ chức đấu thầu
Một dự án để đợc đấu thầu thì phải có đầy đủ các yêu cầu theo
quy định của Điều lệ Quản lý đầu t và xây dựng. Điều kiện đó về chủ
đầu t, về dự án đầu t.
Chủ đầu t muốn dự án của mình đợc đấu thầu thì phải có đủ
điều kiện về tài chính, giấy phép hành nghề, năng lực cần thiết đối
với lĩnh vực mình tham gia và có quyết định tổ chức đấu thầu của cơ
quan có thẩm quyền.
Đối với một dự án muốn đợc đấu thầu thì ngoài điều kiện về
chủ đầu t ra, dự án còn phải đạt đợc các điều kiện theo quy định của
pháp luật về: Quyết định đầu t và cấp giấy phép đầu t; địa điểm xây
dựng và giấy phép xây dựng.
Các dự án đầu t sử dụng vốn Nhà nớc phải có quyết định đầu
t của ngời có thẩm quyền trớc khi thực hiện đầu t. Đối với giấy phép
đầu t, Bộ trởng Bộ kế hoạch và đầu t, các uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ơng, sở kế hoạch và đầu t cấp giấy phép
đầu t cho các dự án theo phân cấp của Chính phủ. Nội dung giấy
phép đầu t do Bộ kế hoạch và đầu t quy định.
Dự án xây dựng muốn tiến hành đợc phải có một địa điểm nhất
định. Chủ đầu t phải lập hồ sơ xin giao đất hoặc thuê đất và chủ đầu
t phải nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất theo quy định của pháp
luật. Sau khi đợc giao đất hoặc thuê đất, chủ đầu t tiến hành giải
phóng mặt bằng và tiến hành đền bù (nếu có) chủ đầu t có thể yêu
cầu các cơ quan chức năng hỗ trợ để giải quyết việc giải phóng mặt
bằng. Các cấp chính quyền tại địa phơng chứng có trách nhiệm tạo
điều kiện cho chủ đầu t chuẩn bị mặt bằng xây dựng để đáp ứng yêu
cầu chuẩn bị tổ chức đầu t.
Dự án có đủ các điều kiện ở trên, để đợc đấu thầu cần phải đ-
ợc cấp giấy phép xây dựng. Trừ một số dự án dặc biệt mà phát luật
quy định không cần phải có giấy phép xây dựng, ngoài ra thì các dự
án đều phải có giấy phép xây dựng mới đợc tiến hành đấu thầu.
Thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng thuộc: Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ơng (có thể uỷ quyền cho Giám
đốc sở xây dựng hay kiến trúc s trởng); Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ban quản lý khu chế xuất, khu
công nghiệp tập trung do thủ tớng Chính phủ ra quyết định thành
lập. Thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng đ ợc chính phủ phân cấp cho
những ngời đợc quy định ở trên theo phạm vi quản lý ( khoản 2 Điều
28 - Nghị định 42/CP).
Ngoài các điều kiện ở trên thì trớc đó dự án đã phải đợc tiến
hành thẩm định nghiên cứu tính khả thi, khả thi, thẩm định và phê
duyệt thiết kế kỹ thuật.
B. chuẩn bị đấu thầu.
1. Kế hoạch đấu thầu
1.1 phân chia gói thầu
Gói thầu là căn cứ để tổ chức đấu thầu và xét thầu. Việc phân
chia dự án thành gói thầu phải hợp lý, trớc hết phải căn cứ vào công
nghệ, tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án. gói thầu phải đ ợc phân
chia theo quy mô hợp lý đảm bảo tính đồng bộ của dự án. Không đ ợc
phân chia gói thầu quá nhỏ làm giảm tính hợp lý của dự án (trừ trờng
hợp đặc biệt).
- Giá dự kiến của gói thầu không v ợt quá dự toán (nếu gói
thầu là một hạng mục) và tổng giá trị của gói thầu không đ ợc vợt quá
tổng mức đầu t hoặc tổng dự toán đã đợc phê duyệt.
- Đối với tuyển chọn t vấn, giá trị của dự kiến của gói thầu
căn cứ theo mức ớc tính so với tổng mức đầu t đã đợc phê duyệt.
1.2. Phơng thức thực hiện hợp đồng(mục 1.2 - Phần 2 -
Thông t 02)
Phơng thức thực hiện hợp đồng đợc lựa chọn phải căn cứ theo
tính chất, quy mô, thời gian thực hiện Của từng gói thầu.
a. Hợp đồng chọn gói (theo giá khoán gọn).
Đối với các gói thầu có điều kiện xác định chính xác khối l -
ợng, số lợng, giá cả tại thời điểm đấu thầu thì phải áp dụng theo ph -
ơng thức hợp đồng trọn gói. Trong quá trình thực hiện không đ ợc
thay đổi giá cả đã thoả thuận trong hợp đồng. Đối với các phát sinh
không phải do nhà thầu gây ra thì phải đợc ngời có thẩm quyền quyết
định đầu t hoặc cấp đợc uỷ quyền phê duyệt bằng văn bản.
b. Hợp đồng có điều chỉnh giá.
+ Phạm vi áp dụng:
- Những gói thầu bao gồm những phần việc hoặc hạng mục
không có điều kiện xác định chính xác khối l ợng hoặc số lợng tại
thời điểm đấu thầu.
- Những gói thầu có thời gian thực hiện ít nhất trên 12 tháng
và có biến động về giá đối với 3 yếu tố chủ yếu là nguyên vật liệu,
thiết bị và lao động.
+ Nguyên tắc áp dụng:
- Bên mời thầu chỉ đợc áp dụng phơng thức hợp đồng có điều
chỉnh giá đối với những gói thầu đã đuợc phê duyệt trong kế hoạch
đấu thầu hoặc đã đợc ngời có thẩm quyền quyết định đầu t phê
duyệt.
- Chỉ áp dụng đối với những khối lợng hoặc số lợng phát
sinh(Tăng hoặc giảm) không phải do nhà thầu gây ra, đợc các bên
liên quan xác nhận và đợc ngời có thẩm quyền quyết định đầu t cho
phép. Những khối lợng hoặc số lợng phát sinh do nhà thầu gây ra thì
không đợc xem xét.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét