Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương bắc ninh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương bắc ninh": http://123doc.vn/document/1047456-giai-phap-nang-cao-chat-luong-tin-dung-doi-voi-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-chi-nhanh-ngan-hang-ngoai-thuong-bac-ninh.htm


Chuyên đề thực tập
là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả
quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:
*Mục đích cho vay:
Dựa vào căn cứ này, cho vay thường được chia ra làm các loại sau:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để
bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
nhiên liệu, v.v
- Cho vay các định chế tài chính (financial institution loans) bao gồm
cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính,
công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
như mua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi
phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
- Cho thuê: cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại: cho
thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản
và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị.
* Thời hạn cho vay:
Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm ba loại:
- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và
các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
- Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam,
cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung hạn
chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi
mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới
có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu
cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước,
xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều, v.v
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn
tối đa có thể lên tới 20 - 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu
cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô
lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn,
nhưng từ những năm 1970 trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển
sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng
cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng.
*Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm hai loại:
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của bản than khách hàng. Đối những khách hàng tốt, trung thực trong kinh
doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể
cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một
nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như
thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với
khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Ngân hàng
Khách hàng
Chuyên đề thực tập
có bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một
nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Trong những năm 1990, các ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo
đảm, trừ các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước kinh doanh có hiệu quả và
cho vay hộ nông dân từ 5 triệu đồng trở xuống. Ngày 29/12/1999 chính phủ
đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về Bảo đảm tiền vay của các tổ
chức tín dụng; theo Nghị định này việc cho vay không bảo đảm được mở rộng
hơn so với trước đây, cho phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn khách
hàng để cho vay không bảo đảm khi cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh,
dịch vụ và đời sống.
* Xuất xứ tín dụng:
Dựa vào căn cứ này, cho vay chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người đi vay hoàn trả nợ trực tiếp cho ngân hàng.
Sơ đồ 1.1.2 a: Sơ đồ cho vay trực tiếp:

Cấp tín dụng (1)

Thanh toán nợ (2)
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
Mô hình cho vay gián tiếp được thực hiện như sau:
Sơ đồ 1.1.2 b: Sơ đồ cho vay gián tiếp

Cấp tín dụng (1)
Thanh toán nợ (2)
Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
- Chiết khấu thương mại (discount).
- Mua các phiếu bán hàng (dealer paper) tiêu dùng và máy móc nông
nghiệp trả góp
- Nghiệp vụ thanh tín (nghiệp vụ factoring): là nghiệp vụ mua bán các
khoản nợ thương mại (các khoản phải thu), trong đó bên mua (factor) nhận
việc thu nợ và chấp nhận rủi ro tín dụng. Factoring thực chất là hình thức tài
trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp.
Ngoài các loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ
bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với nghiệp vụ này ngân
hàng không phải cung cấp bằng tiền, nhưng khi người được bảo lãnh không
thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực
hiện nghĩa vụ thanh toán. Chính vì lý do trên mà người ta gọi hành vi cam kết
bảo lãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Khách hàng nhận
vốn vay
Người thanh toán
nợ
Ngân hàng
Chuyên đề thực tập
1.2 Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một chi phí nhất
định.
Chất lượng tín dụng là thuật ngữ phản ánh hiệu quả của hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại, gồm hai yếu tố: “Mức độ an toàn và khả
năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại”.
Có hai mối quan hệ rủi ro và sinh lợi trong hoạt động tín dụng ngân
hàng. Trong hoạt động tín dụng có thể rủi ro càng cao, thì sinh lợi kỳ vọng
càng lớn, và ngược lại. Do đó, ngân hàng có thể theo đuổi hoạt động tín dụng
mà mức độ rủi ro cao hoặc thấp trong ngắn hạn, song đều phải tính đến mối
liên hệ giữa rủi ro và sinh lời để đảm bảo gia tăng thu nhập cho ngân hàng và
chủ sở hữu trong dài hạn.
Chất lượng tín dụng là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng, vì hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Do vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng
thương mại luôn là một yêu cầu bức xúc, là điều kiện sống còn cho bản thân
mỗi ngân hàng, cho hệ thống ngân hàng và rộng hơn nữa là cho cả nền kinh
tế.
1.2.2 Các chỉ tiêu biểu hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại.
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh qui mô cho vay
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn vay của
khách hàng, hay phản ánh hiệu quả cho vay của ngân hàng về mặt số lượng.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
* Doanh số cho vay
- Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định.
- Doanh số cho vay cho biết qui mô cho vay của ngân hàng đối với từng
khách hàng cụ thể và với cả nền kinh tế trong một khoảng thời gian.
- Doanh số cho vay phụ thuộc vào qui mô, chính sách cho vay của ngân
hàng, chu kì kinh tế, môi trường pháp lý.
* Dư nợ cho vay
- Dư nợ là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay với nền kinh tế tại một thời
điểm.
- Tổng dư nợ của một ngân hàng cho biết trạng thái thanh khoản, khả
năng đáp ứng nhu cầu về vốn vay của ngân hàng đó.
- Dư nợ đối với từng khách hàng cụ thể cho biết mối quan hệ của ngân
hàng và khách hàng trên.
- Dư nợ còn là cơ sở để xác định chất lượng của khoản vay.
- Dư nợ cho vay phụ thuộc vào trạng thái thanh khoản của ngân hàng,
chính sách cho vay của ngân hàng, chính sách phát triển kinh tế của Nhà
nước.v.v
b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ an toàn
* Tỉ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn
- Tỉ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Tỉ lệ nợ quá hạn cho biết tỉ trọng của các khoản cho vay đã bị quá hạn trả
nợ gốc và lãi trong tổng dư nợ. Qua đó, phản ánh chất lượng các khoản vay
của ngân hàng có được tốt hay không.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
Trong hoạt động ngân hàng, tỉ lệ này càng cao phản ánh chất lượng các
khoản vay càng thấp và độ an toàn của ngân hàng càng thấp và ngược lại.
Tuy nhiên tỉ lệ nợ quá hạn của ngân hàng mang tính thời điểm, nên chưa
phản ánh chính xác độ an toàn của các khoản vay.
- Tỉ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản
Dư nợ cho vay có ĐBBTS
Tỉ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản =
Tổng dư nợ
Tài sản đảm bảo là một trong những đệm đỡ an toàn cho hoạt động cho
vay của ngân hàng, nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng và bảo
toàn vốn cho ngân hàng.
Do vậy, tỉ lệ cho vay có tài sản đảm bảo ảnh hưởng đến độ an toàn của
khoản vay.
Tỉ lệ này cao hay thấp là phụ thuộc vào chính sách tín dụng của
NHNN nói chung và của ngân hàng thương mại nói riêng trong từng thời kỳ.
* Cấu trúc danh mục cho vay.
- Sự đa dạng của danh mục cho vay
Sự đa dạng ở đây là đa dạng về ngành nghề, thành phần kinh tế, loại
hình cho vay.v.v
Tuỳ thuộc vào qui mô, đặc tính, tiềm năng thị trường mà mỗi ngân
hàng xây dựng cho mình một danh mục cho vay với độ đa dạng khác nhau.
Nhìn chung một danh mục cho vay càng đa dạng, sẽ càng giảm thiểu
các rủi ro phi hệ thống cho ngân hàng.
- Kỳ hạn của danh mục
Kỳ hạn trung bình của danh mục cho vay phụ thuộc nhiều vào kì hạn
của nguồn, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Nói chung
kì hạn trung bình của khoản vay càng phù hợp với kì hạn của nguồn các tốt.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
Sự thích hợp của kì hạn cho vay với chu kì kinh doanh của khách hàng
là một yêu cầu quan trọng trong việc giảm thiểu rủi do tín dụng
c. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời
Khả năng sinh lời trong hoạt động cho vay có mối liên hệ mật thiết với
độ an toàn trong hoạt động cho vay, ngân hàng chỉ có thể thu đựơc lợi nhuận
trên cơ sở đảm bảo đựơc độ an toàn cho các khoản cho vay của mình. Bất cứ
tổn thất nào mà ngân hàng gặp phải cũng ảnh hưởng đến thu nhập hay lợi
nhuận của ngân hàng.
* Tỉ lệ thu từ lãi cho vay/ Tổng thu của ngân hàng
- Cho biết tỉ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay trong tổng nguồn thu của
ngân hàng
- Các nguồn thu của ngân hàng bao gồm: thu từ lãi cho vay, thu từ tiền gửi
tại các tổ chức tín dụng, thu từ dịch vụ, thu từ hoạt động đầu tư, và các khoản
thu khác.
* Tỉ lệ thu nhập lãi từ cho vay/ dư nợ bình quân
Cho biết một đồng cho vay bình quân thu được bao nhiêu đồng lãi
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng kiểm soát chi phí trong cho vay của ngân
hàng và mức độ sinh lời từ cho vay.
Thu nhập từ lãi là phần chênh lệch giữu thu từ lãi trừ chi phí trả lãi huy
động
Tỉ lệ này càng cao phản ánh mức sinh lời từ hoạt động cho vay càng cao,
do kiểm soát tốt chi phí và tăng cường lợi nhuận
* Chênh lệch lãi suất bình quân
Là chỉ tiêu phản ánh chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất
huy động bình quân.
Chênh lệch lãi suất bình quân = lãi suất cho vay bình quân - lãi suất huy
động bình quân.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
Hiện nay trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường
vốn, dẫn đến các cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động. Do vậy, khoảng cách
chênh lệch này ngày càng bị thu hẹp.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lường tín dụng của ngân hàng
thương mại.
1.3.1 Yếu tố thuộc về ngân hàng
* Trình độ cán bộ ngân hàng
Con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
tại ngân hàng thương mại. Chất lượng nhân sự ngày càng được đòi hỏi cao để
có thể đáp ứng kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh
doanh và hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Trên thực tế, chất lượng tín dụng cao hay thấp phụ thuộc khá nhiều vào
việc tuyển chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ của mỗi ngân hàng thương mại.
Một ngân hàng thương mại với đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ
nghiệp vụ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt, thì việc quản lý hoạt động
tín dụng cũng như những hoạt động khác, thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng
nói chung và nghiệp vụ tín dụng nói riêng sẽ đạt kết quả cao. Hơn nữa, nó còn
giúp cho ngân hàng tránh được những rủi ro có thể xảy ra do trình độ cán bộ,
nhờ đó mà chất lượng tín dụng luôn được đảm bảo.
* Chiến lược kinh doanh
Để đạt được mục tiêu của mình mỗi ngân hàng đã tự đề ra cho mình
những chiến lược kinh doanh phù hợp với tiềm lực và thế mạnh của mình để
đạt được những mục tiêu nhất định mà ngân hàng đã đề ra.
Chiến lược kinh doanh là một nhân tố ảnh hưởng đầu tới chất lượng tín
dụng. Ngân hàng thương mại cần có chiến lược kinh doanh để không rơi vào
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A
Chuyên đề thực tập
thế bị động trong hoạt động kinh doanh của mình. Dựa trên chiến lược kinh
doanh dài hạn đúng đắn, ngân hàng thương mại mới có thể có những kế hoạch
đúng đắn cho từng thời kỳ để bảo đảm thực hiện mục tiêu đề ra.
* Chính sách tín dụng
Huy động nguồn vốn, gây dựng uy tín và tìm kiếm lợi nhuận và đặc biệt
là mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu đối với mỗi ngân
hàng thương mại, để đạt được mục tiêu đã đề ra mỗi ngân hàng thương mại có
những chính sách tín dụng khác nhau để đạt được những mục đích đó.
Chính sách tín dụng của một ngân hàng thương mại là một hệ thống
những biện pháp liên quan đến việc tăng cường khả năng tín dụng hoặc hạn
chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã đề ra của ngân hàng thương mại.
Chính sách tín dụng bảo đảm cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng, nó
quyết định đến sự thành công hay thất bại của hoạt động tín dụng nói riêng và
toàn bộ hoạt động của một ngân hàng thương mại nói chung. Một chính sách
tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, bảo đảm khả năng sinh
lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường
lối, chính sách của nhà nước và bảo đảm công bằng xã hội.
* Quy trình tín dụng
Đảm bảo quy trình tín dụng là một việc rất quan trọng đối với mỗi hệ
thống ngân hàng, nó đảm bảo sự thống nhất trong quá trình hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại.
Quy trình tín dụng bao gồm những bước phải thực hiện trong quá trình
cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng; được bắt đầu từ khi
chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình sử dụng vốn đến khi thu
hồi được nợ. Chất lượng tín dụng có được bảo đảm hay không tuỳ thuộc vào
việc thực hiện tốt các qui định ở từng bước và sự phối hợp nhịp nhàng giữa
các bước trong quy trình tín dụng.
Trần Đức Nghĩa Lớp: Ngân hàng 46A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét